TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Hà Linh


Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Bắc Quang



tải về 0.84 Mb.
trang6/8
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.84 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

3.2. Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Bắc Quang


Một số tác động chính của BĐKH liên quan đến huyện Bắc Quang có thể nêu ra như sau:

  • Tác động của BĐKH đối với thiên tai, con người, cây trồng và vật nuôi, như làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc... các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, rét đậm rét hại, lũ quét, hạn hán, các dịch bệnh trên người, trên gia súc, gia cầm và trên cây trồng.

  • Tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước, như chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ quét, trượt sạt lở đất nghiêm trọng vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước.

  • Tác động của BĐKH đối với nông nghiệp và an ninh lương thực, như tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng, ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm, gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp.

  • Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng cũng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh...

  • Tác động của BĐKH đối với giao thông vận tải như hiện tượng sạt lở đất làm vùi lấp, xói lở các tuyến đường giao thông, mưa lũ lớn làm cuốn trôi các cầu cống và công trình giao thông khác.

  • Tác động của BĐKH đối với công nghiệp và xây dựng như phải đối mặt nhiều hơn với nguy cơ ngập lụt và thách thức trong tiêu thoát nước ở các đô thị. Đối mặt với các nguy cơ mưa lũ cuốn trôi các công trình xây dựng…

  • Tác động của BĐKH đối với sức khỏe con người như nhiệt độ tăng, tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người, dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh; Làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới như sốt rét, sốt xuất huyết, số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan. Làm tăng số người chết do thiên tai; Tăng nghèo đói do giảm thu nhập, mất nhà cửa. Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, người già, trẻ em và phụ nữ.

  • Tác động lớn đến đời sống dân cư, xã hội. Biến đổi khí hậu làm gia tăng các trận lũ quét, sạt lở đất dẫn đến việc di dân khỏi vùng bị thiên tai theo đó cuộc sống của người dân sẽ gặp nhiều xáo trộn.

3.2.1. Các ảnh hưởng của BĐKH đến môi trường tự nhiên;


Với đặc thù là một huyện miền núi phía Bắc tỉnh Hà Giang, địa hình phân hóa không đồng đều, tổng lượng mưa hàng năm lớn nhất trong toàn vùng, hai yếu tố chính chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu là môi trường nước và môi trường đất.

  1. Ảnh hưởng của BĐKH liên quan đến tài nguyên đất

Là địa phương mang tính đặc thù bởi các ngành kinh tế nông lâm nghiệp như huyện Bắc Quang thì tài nguyên đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những nguy cơ tác động lên môi trường nói chung và tài nguyên đất trên địa bàn nói riêng.

Theo số liệu thu thập cho thấy biên độ nhiệt trong các năm lớn dần, sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan qua các giai đoạn làm xuất hiện những hiện tượng như khô héo, cháy rừng, sạt, trượt lở, xói mòn… Nắng nóng làm tăng lượng bốc hơi nước của đất đặc biệt là đất không có che phủ. Chất lượng đất bị suy giảm sẽ kéo theo một phần diện tích không thể sản xuất được trở thành đất hoang hóa. Trong hầu hết các loại đất nông nghiệp bị ảnh hưởng, đất chuyên canh cây lúa, đất trồng cây công nghiệp lâu năm và đất trồng cây ăn quả là những đối tượng bị mất diện tích đất nhiều nhất. Theo số liệu quan trắc thu thập cho thấy lượng mưa trên địa bàn hiện đang có xu hướng giảm tuy nhiên cường độ và diễn biến phức tạp của các trận mưa lớn hiện đang gia tăng.

Các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn, lũ quét, lũ ống sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tài nguyên đất, gây xói mòn bề mặt đất, rửa trôi các chất dinh dưỡng có trong đất, làm thay đổi tính chất vật lý của đất, lớp đất bề mặt bị xói mòn sẽ làm đất trở nên khô cằn, khả năng thấm hút và giữ nước của đất kém làm mất môi trường sống của các sinh vật trong đất từ đó làm giảm độ tơi xốp của đất. Xói mòn đất là kết quả tác động tổng hợp của nhiều nhân tố.

Với đặc thù là huyện miền núi, địa hình bị chia cắt mạnh và có nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc, nên tình trạng đất bị rửa trôi xói mòn xảy ra phổ biến trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.



  1. Ảnh hưởng của BĐKH liên quan đến tài nguyên nước

Hiện nay ngoài những tác động trực tiếp do biến đổi khí hậu gây ra, sự tăng trưởng về dân số, sự phát triển kinh tế, canh tác và sản xuất nông lâm nghiệp cũng như các vấn đề về môi trường tạo nên áp lực lớn cho nguồn cung cấp nước. Trong mối quan hệ diễn phức tạp của các vấn đề môi trường và xã hội, biến đổi khí hậu là một tác nhân xúc tác làm vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, ngoài việc cân bằng giữa phát triển và tài nguyên thiên nhiên, con người phải chịu tác động trực tiếp từ các hệ quả do biến đổi khí hậu gây nên. Nước ngọt vốn là một trong những tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất là đối với các địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa hiện nay nguồn nước ngọt cung cấp đang có nguy cơ bị ô nhiễm, cạn kiệt, một số sông, suối bị thay đổi chế độ dòng chảy và chất lượng nước dẫn đến nguy cơ thiếu nước đối với nhóm cộng đồng các dân tộc thiểu số. Nước là một trong những yếu tố cần thiết cho sự sống của con người và sinh vật, nguồn cung cấp nước bị hạn chế dẫn đến việc người dân phải di cư để tìm nguồn nước mới, phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng dân cư.

Trong 20 năm quan trắc số liệu, cho thấy: Tổng lượng mưa hàng năm có xu hướng giảm ở huyện Bắc Quang. Lượng mưa lớn nhất trong 20 năm qua đo được tại Bắc Quang vào năm 1999, có lượng mưa lớn nhất là 6.184,7 mm (năm 1999). Số ngày mưa tại Bắc Quang lại có sự tăng lên và giảm xuống không đồng đều trong giai đoạn 1991-2011. Số liệu được thể hiện tại bảng 3.8.



Bảng 3.8 . Đặc trưng lượng mưa tại huyện Bắc Quang từ năm 1991 - 2012

Năm

Lượng mưa (mm)

Số ngày mưa

Max

Ngày

Tháng

N1991

4.802,5

224

292,6

13

X

N1992

4.506,2

191

203,5

13

VI

N1993

5.961,0

225

232,5

15

VI

N1994

3.327,6

258

404,5

20

IX

N1995

5.374,0

237

235,0

6

VI

N1996

4.712,9

200

347,6

5

X

N1997

5.978,6

246

275,5

30

VI

N1998

5.758,4

201

351,2

14

VII

N1999

6.184,7

214

427,0

29

VI

N2000

4.520,4

207

351,6

7

VI

N2001

4.243,8

202

246,6

8

X

N2002

5.502,5

217

375,5

19

VI

N2003

5.275,3

202

319,5

27

V

N2004

3.428,6

199

188,9

18

V

N2005

3.672,1

197

300,1

25

V

N2006

5.023,3

198

411,6

8

IX

N2007

2.722,5

178

253,0

1

VI

N2008

4.411,3

208

204,5

30

VIII

N2009

4.218,0

194

205,8

4

VII

N2010

3.871,8

203

218,5

21

VII

N2011

3.181,5

189

270,8

11

IX

N2012

2.158,2

168

271,9

23

VI

Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn huyện Bắc Quang

Với sự phân bố không đồng đều của lưu lượng nước, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan làm ảnh hưởng đến cả chất lượng và trữ lượng tài nguyên nước trên địa bàn.

Nhiệt độ tăng có thể làm thay đổi cường độ hoạt động của quá trình tuần hoàn Khí quyển, chu trình tuần hoàn nước, chế độ thủy văn và các chu trình vật lý khác ảnh hưởng trực tiếp đến dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm. Làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước thông qua sự thay đổi tính chất của các lớp trầm tích, chất dinh dưỡng, sự thủy phân các bon hữu cơ tăng. Nguy cơ đầm lầy hóa các lưu vực và phát sinh các loại khí độc do tảo trong nước tăng nhanh.

Sự thay đổi chế độ nước gây ra lũ lụt và ảnh hưởng nghiêm trọng ở nhiều địa phương trong vùng. Chất lượng nước sau lũ là một trong số những vấn đề đáng quan tâm. Với đặc thù tại địa phương là sử dụng nước tự nhiên, số hộ được sử dụng nước máy còn ít, chỉ tập trung tại trung tâm huyện, thị trấn nơi có kinh tế và chất lượng cuộc sống phát triển tại khu vực, sau lũ lụt chất lượng nước trên địa bàn bị ô nhiễm nặng do rác thải, chất rắn lơ lửng, bùn đất và vi khuẩn. Việc khắc phục hậu quả, xử lý chất lượng nước sau lũ, đảm bảo chất lượng nước cho người dân sử dụng gặp rất nhiều khó khăn.


3.3.2. Các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống;


  1. Ảnh hưởng của BĐKH đến đời sống sinh hoạt của người dân

Với đặc điểm vị trí địa lý là vùng núi cao, nơi tập trung đa dạng các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc đang sinh sống, Bắc Quang là một trong những huyện mang nhiều nét văn hoá đặc sắc của các dân tộc thiểu số. Tỷ lệ các dân tộc hiện đang sinh sống trên địa bàn huyện Bắc Quang được thể hiện tại hình 3.8.



Nguồn. Phòng thống kê huyện Bắc Quang

Hình 3.8. Dân số các các dân tộc sinh sống tại huyện Bắc Quang

Hiện nay dân tộc Kinh và dân tộc Tày trên địa bàn chiếm đa số, và phân bố hầu hết tại trung tâm huyện thị. Các dân tộc ít người với tỷ lệ phân bố nhỏ, địa bàn sinh sống chủ yếu tại các xã vùng sâu, tập tục sinh hoạt gắn liền với rừng, khai thác và sử dụng tài nguyên từ rừng. Theo báo cáo của phòng thống kê huyện Bắc Quang, cho đến cuối năm 2011 đầu năm 2012 dân số của huyện có 105.828 người. Toàn huyện có khoảng 19 dân tộc sinh sống, trong đó chiếm tỷ lệ nhiều nhất là các dân tộc Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng; các dân tộc khác có khoảng 3.890 người, chiếm 3,68 % dân số toàn huyện.

Đối với tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung, ở địa bàn nghiên cứu nói riêng, tự nhiên chính là nền tảng quan trọng nhất để hình thành nên không gian văn hóa xã hội của tộc người. Mọi hoạt động kinh tế truyền thống của người dân đều được hình thành và phát triển trên cơ sở của các đặc điểm môi trường tự nhiên nơi họ cư trú. Họ luôn cố gắng tìm hiểu để có giải pháp thích ứng, khai thác các nguồn lực tự nhiên. Quá trình đó được lặp đi lặp lại hàng năm theo chu kỳ đắp đổi mùa vụ của thời tiết khí hậu.

Hiện nay các dân tộc trên địa bàn sinh sống chủ yếu dựa vào các ngành nông, lâm ngư nghiệp. Với tổng số lao động chiếm đến 46.758 người giá trị sản xuất nông nghiệp luôn đứng đầu so với các ngành khác trên địa bàn. Theo niên giám thống kê năm 2012 của từng huyện thì thu nhập bình quân đầu người của huyện Bắc Quang đạt 10,4 triệu đồng/người/năm, mức thu nhập của người dân còn thấp. Hình thức canh tác của các dân tộc trên địa bàn huyện Bắc Quang hầu như là canh tác thủ công, sử dụng sức lao động tại chỗ và công cụ thô sơ. Các máy móc thiết bị công nghiệp hiện đại chưa được đưa vào sử dụng nhiều trên thực tế.

Trong những năm gần đây các tác động ngoại cảnh nảy sinh tương đối nhiều, điển hình là hiện tượng thay đổi thất thường của thời tiết, thay đổi nền nhiệt độ, gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan đã làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông, lâm phương thức canh tác và phong tục tập quán của người dân trên địa bàn. Các thiệt hại điển hình như:


  • Năm 2006 mưa lũ đã làm mất đi 28,76 ha lúa, 3,34 ha hoa màu trên địa bàn huyện Bắc Quang.

  • Đợt rét đậm kéo dài cuối năm 2010, đầu năm 2011 càn qua vùng trồng cao su, khiến gần như toàn bộ diện tích cao su trên địa bàn huyện Bắc Quang bị xoá sổ (97% số cây cao su chết).

Với đặc điểm canh tác và sinh sống dựa vào rừng núi, khai thác tài nguyên thiên nhiên từ rừng thì sự tác động gián tiếp của biến đổi của khí hậu đến tài nguyên rừng như cháy rừng, lũ lụt, lũ quét, xói lở làm giảm đi lượng tài nguyên cung cấp từ rừng, giảm đi các loại lương thực, thực phẩm, dược liệu vốn được cung cấp từ rừng, vốn là nguồn cung cấp tương đối lớn với người dân vùng núi do vậy thói quen canh tác, sử dụng tài nguyên của người dân cũng có những thay đổi rõ rệt như:

  • Không chỉ khai thác ven rừng và các khu vực rừng trồng, người dân tiến sâu vào các khu vực rừng già, nơi chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên để khai thác lương thực thực phẩm và dược liệu.

  • Thiếu nước canh tác nông nghiệp, diện tích đất hiện đang sử dụng để canh tác bị sạt lở, mưa xói lở làm giảm chất lượng đất khiến một bộ phận dân cư phải thay đổi địa điểm canh tác, chuyển sang vùng canh tác mới.

Những biến động về môi trường và sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan gây nên biến động tâm lý cho nhóm cộng đồng các dân tộc ít người. Là nhóm cộng đồng dân cư nhạy cảm, có đời sống tâm linh phong phú, trình độ học vấn còn kém mặt khác chưa được tiếp xúc nhiều với công công nghệ thông tin do vậy việc biến động môi trường sống có tác động rất lớn đến tâm lý cộng đồng các dân tộc ít người. Sự nhận thức về vấn đề khác nhau sẽ dẫn đến những cách thức giải quyết vấn đề khác nhau, một trong những cách giải quyết vấn đề là sử dụng các yếu tố mang tính chất tâm linh như cúng bái, tế lễ. Các yếu tố tâm linh chỉ mang tính chất ổn định về mặt tâm lý của người dân nhưng không có tác dụng trong việc giải quyết các vấn đề về kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân trong thời điểm hiện tại do vậy để thay đổi cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề của nhóm cộng đồng các dân tộc ít người là một trong những khó khăn hiện nay đối với chính quyền địa phương.

Nhóm người dân tộc thiểu số vùng cao chiếm tỷ lệ nghèo cao nhất trong cả nước. Đa số cộng đồng này sống phụ thuộc chính vào nông nghiệp nhưng họ dễ bị ảnh hưởng của nguy cơ thiểu đất canh tác, thiên tai, công nghệ lạc hậu. Thu nhập từ sản xuất là nguồn thu nhập chính mặt khác họ lại không đủ khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản, dễ bị tác động bởi các yếu tố về mặt tâm linh. Không chỉ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số huyện Bắc Quang còn chịu áp lực từ đói nghèo và áp lực từ chính hạn chế về mặt nhận thức. Có thể thấy nhóm các dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu là một trong những đối tượng nhạy cảm, bị tác động nhiều trước sự biến đổi khí hậu.



  1. Ảnh hưởng thu nhập và mức sống của người dân

Thu nhập và mức sống của người dân phụ thuộc và sự phát triển kinh tế xã hội tại mỗi địa phương. Kinh tế phát triển, thu nhập tăng, việc tiếp cận các dịch vụ của người dân như y tế, giáo dục, phúc lợi, bảo hiểm…. được đáp ứng đầy đủ, mức sống của người dân được cải thiện đáng kể. Hầu hết tại các khu vực phát triển như trung tâm thị trấn, thị tứ thu nhập và mức sống của người dân được nâng cao hơn rõ rệt so vơi các khu vực nông thôn miền núi.

Đối với huyện Bắc Quang nói riêng thu nhập và mức sống của người dân phân hoá không đồng đều, hiện nay nông lâm nghiệp là ngành phát triển kinh tế chủ yếu trên địa bàn. Công nghiệp trên địa bàn chủ yếu phân bố tại thị trấn tập trung chủ yếu ở những nơi có điều kiện giao thông, mặt bằng thuận lợi, gần nguồn nguyên liệu và nguồn nhân lực với các sản phẩm công nghiệp như: Vật liệu xây dựng, khai thác khoáng sản, công nghiệp chế biến. Các sản phẩm có tốc độ tăng trưởng cao: Gạch nung, đá khai thác, điện thương phẩm, quặng các loại.

Thu nhập và mức sống của người dân có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế, do vậy một cách gián tiếp biến đổi khí hậu cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với thu nhập và mức sống của người dân. Biến đổi khí hậu đã tác động đến tất cả các ngành kinh tế tại khu vực như nông lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ tuy nhiên nông lâm nghiệp là ngành bị tác động nhiều nhất trong số các ngành kinh tế. Vốn là ngành chịu tác động trực tiếp từ sự biến đổi của thời tiết, nông lâm nghiệp là ngành phát triển kinh tế rất dễ bị tổn thương bởi các tác động bên ngoài như nhiệt độ, hạn hán, lũ lụt, mưa bão, thay đổi độ ẩm.... Nền nông nghiệp trên địa bàn hiện nay chỉ chủ yếu là lao động thủ công, chưa công nghiệp hoá hiện đại hoá trong canh tác và sản xuất mặt khác lao động nông lâm nghiệp phần lớn là lao động phổ thông, trình độ thấp, do vậy tác động đến hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp chính là tác động gián tiếp đến kinh tế và đời sống của người dân. Theo điều tra tại địa bàn có thể thấy nông _ lâm nghiệp là mang lại thu nhập chính của đa số hộ gia đình trên địa bàn. Tổng sản lượng hàng năm tại địa phương vẫn tăng theo chu kỳ tuy nhiên những thiệt hại về nông lâm nghiệp sau các hiện tượng thời tiết bất thường là không hề nhỏ. Kinh tế và thu nhập của người lao động ngành nông lâm nghiệp là không cao, do vậy tác động dù nhỏ nhưng cũng làm ảnh hưởng lớn đến mức sống và thu nhập của người lao động nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và các hộ nghèo, những người hiện có thu nhập trực tiếp từ hoạt động canh tác nông_lâm nghiệp.


  1. Ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khoẻ con người diễn ra rất phức tạp. Có những ảnh hưởng trực tiếp thông qua quá trình trao đổi hằng ngày của con người với các yếu tố môi trường xung quanh cơ thể. Có những ảnh hưởng gián tiếp, thông qua các nhân tố khác nhau như thực phẩm, nhà ở, côn trùng và các vật gây bệnh…

Sự thay đổi về chế độ nhiệt, các đợt nóng (lạnh) kéo dài làm tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong đối với những người làm việc ngoài trời, người già, người bệnh, người bị tiểu đường, người bị tim mạch, trẻ em và trẻ sơ sinh, người nghèo. Nhiệt độ tăng cao có nguy cơ xảy ra các dịch bệnh cao hơn đặc biệt là các bệnh mùa hè như bệnh tiêu chảy, bệnh tả, bệnh sốt xuất huyết, cúm,…

BĐKH còn góp phần làm tăng 9 bệnh truyền nhiễm: Cúm A/H1N1, cúm A/H5N1, sốt xuất huyết, sốt rét, bệnh tả, thương hàn, tiêu chảy, viêm não do vius, viêm đường hô hấp cấp tính do vius (SARS).

Các hiện tượng thời tiết bất thường làm ảnh hưởng đến đường xá, cầu cống, giao thông đi lại của người dân. Với mật độ các cơ sở y tế lớn là không nhiều, giao thông bị cản trở, việc tiếp cận với các dịch vụ y tế trên địa bàn của người dân gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay trên hầu hết các các xã đều có trạm y tế nhưng cơ sở vật chất và đội ngũ y bác sỹ hiện có vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân nhất là đối với các bệnh mới, cần có sự can thiệp của khoa học kỹ thuật hiện đại. Sức khỏe cộng đồng là một trong những lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do BĐKH. Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan gây ra các thảm hoạ về môi trường, làm gia tăng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, làm đảo lộn đời sống dân cư.



  1. Ảnh hưởng hoạt động giao thông.

Bão, lũ lụt, mưa lớn đều là các hiện tượng cực đoan ảnh hưởng mạnh đến hoạt động giao thông và cơ sở hạ tầng giao thông. Với sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan làm nhiều đoạn đường sắt, quốc lộ, đường giao thông nội bị phá hủy, vùi lấp. Xói lở nền móng, phá vỡ kết cấu cầu đường, nhất là ở vùng núi, các công trình giao thông đường bộ, đường sắt cũng như đường ống. Thống kê thiệt hại cơ sở hạ tầng giao thông do các hiện tượng cực đoan trong 3 năm vừa qua được ghi lại tại bảng 3.9 dưới đây.

Bảng 3.9. Chiều dài đường bị thiệt hại do lũ ống, lũ quét, trượt, sạt lở trên địa bàn nghiên cứu năm 2010 - 2012



Huyện



Chiều dài đường bị hư hại (m)

Ước tính thiệt hại
(Triệu đồng)


Nguyên nhân

Bắc Quang

Tiên Kiều

4.000




Lũ quét 

Vĩnh Tuy

100

100

Trượt sạt lở

Đông Thành

1.000

500

Lũ quét

Đồng Yên

1.000

700

Lũ quét

Vĩnh Hảo

1.000

800

Lũ quét

Vĩnh Phúc

500

300

Lũ quét

Tân Quang

184

420

Lũ quét

Việt Vinh

1.000

349

Lũ quét, trượt sạt lở

Tân Thành

1.500

2.000

Lũ quét 

Đồng Tâm

25.000

270

Lũ quét 

Quang Minh

100

150

Lũ quét, trượt sạt lở 

Kim Ngọc

1.000

1.500

Trượt sạt lở

(Nguồn: Ban phòng chống lụt bão huyện Bắc Quang)

Các hiện tượng cực đoan trên làm gia tăng sự thoái hóa và hư hại của các công trình giao thông vận tải các loại và tăng chi phí bảo trì, tu bổ các công trình và phương tiện giao thông vận tải.

Tăng nguy cơ rủi ro đối với giao thông vận tải, ảnh hưởng đến nhiều hoạt động giao thông bao gồm thiết bị, động cơ và phương tiện. Tăng chi phí điều hòa nhiệt độ, nhất là trong vận chuyển hành khách. Ngoài ra hiện tượng thời tiết bất lợi cộng với địa hình hiểm trở tại địa bàn là nguyên nhân làm gia tăng tai nạn giao thông, gây ra nhiều thiệt hại về người và của trên địa bàn.


  1. Ảnh hưởng đến phát triển giáo dục đào tạo

Không chỉ gây ra những thiệt hại đáng kể về người và của mà biến đổi khí hậu còn gây gián đoạn hoạt động giáo dục, làm chậm lại quá trình xã hội hoá giáo dục tại địa phương. Dưới tác động của thiên tai, lũ quét, số trường học, cơ sở vật chất ngành giáo dục đã bị thiệt hại tương đối nhiều. Theo thống kê năm 2010 tại huyện Bắc Quang có 8 điểm trường bị thiệt hại do thiên tai, năm 2011 có 11 điểm trường bị thiệt hại, và năm 2012 có 19 điểm trường bị thiệt hại sau thiên tai, số điểm trường bị thiệt hại đang có dấu hiện gia tăng. Vốn là một trong những địa phương gặp nhiều khó khăn trong công tác xã hội hoá giáo dục, những thiệt hại về cơ sở vật chất ngành giáo dục lại làm khó khăn chồng chất khó khăn. Trường học bị phá huỷ do thiên tai, cơ sở vật chất phục vụ việc giảng dạy ngày càng nghèo nàn, kinh tế kém, dich bệnh lây lan nhanh làm số lượng trẻ đến trường sau thiên tai thường giảm sút. Tại địa bàn huyện trung tâm số lượng thiệt hại ít, lượng học sinh tái nghỉ học ít, tỷ lệ thiệt hại và tái nghỉ học tăng lên rất nhiều đối với các xã vùng sâu vùng xa.

  1. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến phân bố dân cư

Theo báo cáo của phòng thống kê huyện Bắc Quang, cho đến cuối năm 2011 đầu năm 2012 dân số của huyện có 105.828 người. Toàn huyện có khoảng 19 dân tộc sinh sống, trong đó chiếm tỷ lệ nhiều nhất là các dân tộc Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng; các dân tộc khác có khoảng 3.890 người, chiếm 3,68 % dân số toàn huyện. Mật độ dân số vào loại thưa, bình quân toàn huyện hiện nay là 98 người/km2. Dân số huyện phân bố không đồng đều, dân cư tập trung đông tại thị trấn Việt Yên và thị trấn Vĩnh Tuy trong khi mật độ dân lại thưa thớt tại các xã vùng cao của huyện.

Sự phân bố dân cư tỷ lệ thuận với chênh lệch mức sống của người dân. Tại các khu vực dân cư tập trung đông đúc (tại các trung tâm huyện lỵ, thị trấn, thị xã…) chất lượng cuộc sống dân cư được nâng cao, các dịch vụ cấp điện, cấp nước, giáo dục y tế được đẩy mạnh, mức sống, nhận thức và thu nhập cá nhân của người dân được nâng cao, đối với các khu vực vùng sâu vùng xa cơ sở hạ tầng còn thấp kém, các dịch vụ cơ sở hạ tầng chưa được xây dựng thì mức sống, nhận thức và thu nhập của người dân còn rất thấp. Biến đổi khí hậu tác động đến tất cả các khu vực dân cư trên địa bàn tuy nhiên đối với các nhóm dân tộc ít người, đặc biệt là nhóm cộng đồng dân cư sinh sống tại các khu vực các xã vùng sâu vùng xa lại càng bị tổn thương nhiều hơn.

Với sự phân bố dân cư không đồng đều gây khó khăn cho công tác quản lý và phát triển kinh tế xã hội mặt khác còn tạo áp lực lên tài nguyên thiên nhiên, môi trường như làm tăng áp lực tiêu thụ tài nguyên tại các khu đông dân cư, tăng số lượng chất thải và giảm sự tiếp nhận, chứa đựng của môi trường sống. Đây không chỉ là vấn đề của huyện Bắc Quang mà còn là một vấn đề của toàn tỉnh Hà Giang hiện nay do vậy trong thời gian tới, cần có những biện pháp cụ thể để giảm sự chênh lệch về tỷ lệ dân số giữa các vùng, tạo điều kiện để phát triển đồng thời kinh tế, xã hội, môi trường ở các địa phương.

Trên thực tế cộng đồng dân cư thường có xu hướng di chuyển địa điểm sống, tới những địa bàn sinh sống thuận lợi, nhiều tài nguyên thiên nhiên, dễ khai thác và ít chịu tác động của thiên tai. Vấn đề di cư mang đến rất nhiều hệ quả, ngoài việc tìm ra được những không gian sống phù hợp di cư còn tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu văn hoá, phong tục tập quán nhưng những tác động của làn sóng di dân đến môi trường cũng không nhỏ.

Với tập tục sinh hoạt lâu đời của người dân đồng bào miền núi là du canh du cư, cộng thêm tác động của biến đổi khí hậu làm gia tăng các thiên tai, lụt lội, xói lở, làm thay đổi và ô nhiễm nguồn nước dẫn đến việc đồng bào các dân tộc thiểu số cần phải di chuyển nơi sống để tìm địa bàn có điều kiện sống thích hợp hơn.

Việc di dân dẫn đến nhiều hậu quả về mặt môi trường như phá huỷ môi trường để lấy tài nguyên thiên nhiên, đốt nương làm rẫy, gây tác động xấu đến bảo vệ môi trường sinh thái và ảnh hưởng lớn đến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trên thực tế di dân có thể là một trong những điều kiện để giao lưu văn hoá, để các dân tộc tiếp thu những kinh nghiệm và tinh hoa trong sản xuất, xây dựng nhưng bên cạnh đó có thể xảy ra những xung đột về văn hoá, xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên….

Dự kiến số lượng dân di cư trên toàn địa bàn sẽ tăng theo thời gian và số lượng thiên tai.

3.3.3. Ảnh hưởng của BĐKH đến kinh tế - hoạt động sản xuất


Biến đổi khí hậu đã tác động lên tất cả các lĩnh vực kinh tế, sản xuất bao gồm nông_lâm nghiệp, du lịch, dịch vụ và công nghiệp.

Sự thay đổi của nền nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết cực đoan đã tác động không nhỏ, gây ra những ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh tế tại huyện Bắc Quang và tác động lớn nhất đến hoạt động sản xuất nông nghiệp (theo bảng 3.10). Bắc Quang là một trong số những huyện có điều kiện thuận lợi để phát triển nông_lâm nghiệp tại tỉnh Hà Giang, đặc biệt trong lĩnh vực trồng lúa và hoa màu. Theo số liệu thống kê tại phòng kinh tế huyện Bắc Quang ( hình 3.9) cho thấy nông_lâm nghiệp là ngành chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu các ngành kinh tế tại địa phương.





Nguồn. Phòng Kinh tế huyện Bắc Quang

Hình 3.9. Tỷ lệ cơ cấu các ngành kinh tế tại huyện Bắc Quang


  1. Ảnh hưởng đến nông nghiệp

  • Suy giảm diện tích và chất lượng đất canh tác

Diện tích và chất lượng đất canh tác nông nghiệp bị suy giảm chủ yếu do các hiện tượng chính như nắng nóng gây hạn hạn, mưa nhiều kéo dài gây xói mòn, lũ quét vùng núi cao và trượt sạt lở đất. Nhiệt độ và sự chênh lệch nhiệt độ trong năm tăng dần qua các giai đoạn làm xuất hiện các hiện tượng khô hạn kéo dài, cháy rừng, suy giảm chất lượng đất sản xuất nông nghiệp… Nắng nóng làm tăng lượng bốc hơi nước của đất đặc biệt là đất không có thảm thực vật che phủ. Các xã trong huyện có khả năng xảy ra hiện tượng khô hạn, suy giảm chất lượng đất nông nghiệp bao gồm Tiên Kiều, Vĩnh Phúc, Đồng Yên, Hữu Sản, Đức Xuân … do có lượng mưa thấp (dưới 2.000 mm/năm), nhiệt độ trung bình hàng năm tương đối cao. Chất lượng đất bị suy giảm sẽ kéo theo một phần diện tích không thể sản xuất được trở thành đất hoang hóa. Các khu vực địa hình dốc, dòng chảy sông suối không ổn định là những vị trí có khả năng giảm diện tích và chất lượng đất nông nghiệp với tỷ lệ lớn. Tại Bắc Quang, vùng sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh, hàng năm diện tích lúa Mùa bị mất do khô hạn, sâu bệnh khoảng gần 25% chưa kể rất nhiều diện tích bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau. Trong những năm tới, diện tích khô hạn sẽ còn tiếp tục tăng lên nếu không bố trí, xây dựng thêm công trình thủy lợi đảm bảo nguồn nước cung cấp cho khu vực.

Ngoài hạn hán, hiện tượng lũ quét và trượt lở đất cũng diễn ra với số lượng ngày một nhiều, cường độ ngày càng lớn. Trong những năm trở lại đây, hiện tượng lũ ống, lũ quét và trượt sạt lở đất diễn ra thường xuyên và có nguy cơ tăng về số lượng cũng như cường độ tại một số xã trọng điểm như: xã Liên Hiệp, xã Việt Vinh, xã Tân Thành,… Lượng mưa lớn và tập trung vào mùa mưa là nguyên nhân gây ra các trận lũ quét và trượt lở đất. Lũ quét làm cuốn trôi hoặc xói lở các khu đất nông nghiệp dọc theo bờ sông suối. Diện tích đất nông nghiệp bị mất do lũ quét và trượt lở tuy chiếm tỷ lệ nhỏ so với đất nông nghiệp nhưng hầu hết là các khu vực có giá trị sản xuất cao vì chúng phân bố ở các vị trí có thể chủ động được nguồn nước tưới. Các khu vực bị ảnh hưởng và thiệt hại lớn do lũ quét trên địa bàn huyện là đoạn chảy qua huyện Bắc Quang. Trong các khu vực trên, khu vực sản xuất lúa hai bên dòng chảy sông Con và sông Lô là vùng chịu các ảnh hưởng lớn do lũ lụt hàng năm tại các vùng thấp, vùng trũng. Các khu vực chịu thiệt hại lớn bao gồm xã Hùng An, xã Quang Minh, xã Việt Lâm và Nông Trường Việt Lâm, xã Đạo Đức.



  • Tác động đến năng suất cây trồng, vật nuôi.

BĐKH dẫn tới các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện nhiều hơn, với cường độ cao và bất thường hơn. Sự thay đổi các yếu tố về khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm và bức xạ mặt trời làm thay đổi nồng độ các chất ô nhiễm, sâu bệnh lạ phát triển. Gây suy giảm năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi. Trong giai đoạn BĐKH, sự chênh lệch nhiệt độ dẫn đến hiện tượng thời tiết quá nóng vào mùa hè và quá lạnh vào mùa đông. Mùa hè, do nhiệt độ tăng cao làm cây trồng mất nước, khô héo và chết. Mùa đông, thời tiết quá lạnh, khô hanh, cộng với đó là hiện tượng sương muối làm cây không thoát được hơi nước, quá trình trao đổi chất bị hạn chế gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng vật nuôi.

  • Trong lĩnh vực trồng trọt

Hạn hán ở Bắc Quang xuất hiện bắt đầu từ thời điểm tháng 1, thời điểm này, gió hanh khô đầu năm kéo dài ảnh hưởng lớn đến tiến độ làm đất, đổ ải, gieo mạ của hoạt động sản xuất trồng lúa. Ngoài ra, lượng nước ít đã làm cho hàng loạt diện tích gieo cấy Đông - Xuân của người dân trong tỉnh thiếu nước tưới, hàng ngàn ha ngô, đậu tương, lạc Xuân bị khô hạn, kém phát triển. Toàn huyện Bắc Quang - vùng trọng điểm lúa của tỉnh phải chi hàng tỷ đồng để tập trung máy bơm, nhân lực chống hạn cứu lúa. Một số xã vùng cao như Việt Hồng, Hương Sơn, Tân Lập... đã phải chuyển một phần diện tích ngô, lúa trồng sớm vì thiếu nước, không phát triển được, chuyển sang trồng xen cây ngắn ngày như ngô C919 hoặc bỏ trống để trồng mùa sớm, xen canh cây Thu - Đông.

Khi nhiệt độ giảm mạnh, tình trạng rét đậm, rét hại tác động trên địa bàn toàn tỉnh và kéo dài trong nhiều năm. Vụ Đông - Xuân năm 2007-2008, trận rét lịch sử 46 ngày nhiệt độ dưới 13oC đã làm cho ngành nông nghiệp Bắc Quang bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Cũng năm 2007-2008, lúa Xuân, mạ Xuân bị chết rét và cây trồng khác bị thiệt hại do rét đậm, rét hại kéo dài. Đợt rét hại cũng đã làm chết hơn 1.368 ha lúa đã cấy trước Tết Nguyên đán, hơn 1.200 kg giống mạ, gần 400 ha ngô, hơn 70 ha lạc. Đầu năm 2011, tính đến cuối tháng 1, do thời tiết rét đậm rét hại kéo dài, trong tổng số 281,2 tấn thóc giống đã được bà con nông dân trong tỉnh gieo đã bị chết rét mất gần 67,2 tấn, chưa kể số diện tích hàng trăm ha lúa bà con cấy sớm cũng bị chết rét, trong đó huyện bị thiệt hại nặng nhất là huyện Bắc Quang 34 tấn.

Bắc Quang là một trong những huyện được tỉnh quy hoạch trồng 10 nghìn ha cây cao su vào năm 2011. Tuy nhiên, đợt rét đậm kéo dài cuối năm 2010, đầu năm 2011 càn qua vùng trồng cao su, khiến gần như toàn bộ diện tích cao su trên địa bàn huyện Bắc Quang đã bị xoá sổ (97% số cây cao su chết). Thiệt hại do thiên tai gây ra đối với sản xuất nông nghiệp, trong đó có cây cao su là rất nghiêm trọng.

Năng suất cây trồng bị hạn chế do thay đổi về nhu cầu nước và chế độ nhiệt trong từng thời điểm của cây trồng. Mặt khác nhiệt độ thay đổi cũng là nguyên nhân làm cho tình trạng dịch bệnh phát triển thành dịch và bùng phát trên quy mô rộng. BĐKH làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngược lại xuất hiện nguy cơ gia tăng các loại sâu bệnh có hại. Những năm gần đây với trình độ ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống mới, gắn với trình độ thâm canh tăng vụ đã được bà con nhân dân áp dụng vào sản xuất ngày càng phát triển mở rộng. Song đồng thời cũng làm xuất hiện dịch hại sâu bệnh phát sinh đa dạng và trên nhiều phương diện, đặc biệt trên nhiều loại cây trồng và xuất hiện nhiều lần trên một vụ. Tình hình dịch bệnh gia tăng, sâu bệnh kéo dài như: dịch rầy nâu, rầy trắng, vàng lùn, lùn xoắn lá… Ngoài dịch trên cây lúa, cây ngô thì dịch bệnh trên các loại cây như cây đậu tương, cây cam, cây chè là những loại cây trồng trọng tâm của tỉnh hiện cũng đã bắt đầu xuất hiện sâu bệnh ở ngưỡng thấp, tình trạng sâu bệnh xảy ra cục bộ ở một số nơi. Những năm gần đây điều kiện khí hậu, thời tiết có sự biến đổi phức tạp, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho một số loại cây trồng chính của tỉnh có nguy cơ phát sinh dịch bệnh, trong khi đó trên thực tế nhận thức về biện pháp phòng chống dịch hại trên cây trồng của bà con nông dân trong tỉnh thực sự chưa cao.

Về tác động lâu dài, sự suy giảm chất lượng đất sản xuất nông nghiệp do các quá trình rửa trôi, xói mòn do mưa lũ, quá trình hoang hóa, giảm lượng nước trong đất do hạn hán… làm giảm độ phì, giảm khả năng cung cấp nước, chất dinh dưỡng cho cây trồng từ đó ảnh hưởng tới năng suất sau thu hoạch.


  • Trong lĩnh vực chăn nuôi

Trong lĩnh vực chăn nuôi, ảnh hưởng của giá rét kéo dài là nguyên nhân gây ra rất nhiều thiệt hại cho ngành trong giai đoạn BĐKH, đặc biệt là các năm gần đây. Các xã vùng thấp thuộc huyện Bắc Quang là những nơi có trâu, bò chết rét nhiều nhất. Nguyên nhân là do ở các huyện vùng thấp này đã nhiều năm qua không chịu đợt rét đậm, rét hại kéo dài do đó không có biện pháp chống rét cho trâu, bò hiệu quả. Hiện tượng trâu bò chết hàng loạt về mùa lạnh ngày càng xuất hiện nhiều nơi đặc biệt là các khu vực có địa hình cao như các xã Tân Thành, Tân Lập, Hữu Sản...

Nền nhiệt độ và độ ẩm biến đổi thất thường là nguyên nhân làm tăng nguy cơ về dịch bệnh như dịch lợn tai xanh, dịch lở mồm long móng hay dịch cúm H5N1 gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Các loại côn trùng gây hại và dịch bệnh đang di chuyển đến nhiều vùng mới, khi nhiệt độ tăng sẽ thúc đẩy cho việc lan truyền mầm bệnh đến những vùng lạnh hơn, cả những hệ thống chăn nuôi ở vùng cao (như bệnh tụ huyết trùng) hoặc đến những vùng có khí hậu ôn hòa hơn. Thay đổi lượng mưa cũng có thể ảnh hưởng rộng đến sự di chuyển dịch bệnh trong những năm ẩm ướt. Trong khi đó người nghèo sống ở vùng cao không có khả năng tiếp cận được với các dịch vụ thú y dẫn đến bùng nổ dịch bệnh trên vật nuôi và kết quả tăng tỷ lệ chết gia súc, gia cầm. Thời tiết khắc nghiệt cũng khiến dịch lở mồm long móng bùng phát. Tại Bắc Quang, chỉ riêng giai đoạn 2006÷2010 số gia súc mắc bệnh đã gần 2.000 con và bị chết do bệnh lên đến gần 900 con; số gia cầm dịch bệnh ít xảy ra hơn, nhưng bình quân hàng năm cũng có hàng nghìn con bị gia cầm các loại bị ốm chết. Đầu năm 2011 dịch hoành hành khiến hơn 78 con trâu, bò ốm và hàng chục con chết. Dịch bệnh diễn biến phức tạp tại các ổ dịch cũ. Ngoài ra, thời tiết khắc nghiệt khiến sức đề kháng của trâu bò rất kém.

Khi lượng mưa gia tăng và kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến diện tích đất chuồng trại chăn nuôi và diện tích thảm cỏ, tác động tới cả nguồn thức ăn đầu vào cho chăn nuôi, tác động đến sức khỏe, sự tăng trưởng của vật nuôi.


  • Tác động đến cơ sở hạ tầng sản xuất.

Hai yếu tố chính của BĐKH tác động đến các hiện tượng thiên nhiên khác trong khu vực là nhiệt độ và lượng mưa. Theo kịch bản BĐKH B2, lượng mưa trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng lên đồng thời sự chênh lệch lượng mưa giữa mùa mưa và mùa khô ngày càng lớn. Như vậy, mùa khô sẽ khô hạn hơn trong khi đó mùa mưa sẽ có một lượng mưa rất lớn đổ lên toàn bộ khu vực. Qua thực tiễn điều tra khảo sát cho thấy, lượng mưa lớn là tác nhân chủ yếu làm xuất hiện các đợt lũ ống, lũ quét ngày càng nhiều về số lượng và cường độ. Hiện tượng lũ quét đã phá hủy rất nhiều công trình phục vụ dân sinh và sản xuất của người dân và cơ sở hạ tầng chăn nuôi như chuồng trại, ao hồ cho sản xuất nông nghiệp.

Số trận lũ ống - lũ quét hàng năm trên địa bàn huyện có tần suất và mức độ thiệt hại ngày càng gia tăng. Hàng năm xuất hiện khoảng 4-5 trận, các công trình thủy lợi, kênh mương phục vụ nông nghiệp và rất nhiều khu vực đường giao thông bị hư hại, cản trở các hoạt động sản xuất của người dân. Trọng điểm là những đợt lũ năm 1993, 2004, 2008 và nhiều nhất vào năm 2010. Các loại hình thiên tai trên đã gây thiệt hại cho tỉnh ước tính trên 27 tỷ đồng. Mưa lớn kéo dài cũng là nguyên nhân chính hình thành các điểm sạt lở đất đe dọa trực tiếp đến cuộc sống người dân, đặc biệt những hộ gia đình sống trên và ven các sườn đồi, các lưu vực sông suối lớn.



  1. Ảnh hưởng đến lâm nghiệp

Trên địa bàn huyện Bắc Quang hiện tượng hạn hán đã xảy ra cục bộ trên địa bàn theo số liệu thống kê từ năm 2005 đến tháng 8 năm 2011 của kiểm lâm huyện Bắc Quang thì tổng diện tích cháy rừng lên đến 518 ha với tổng số vụ cháy là 48 vụ. Ngoài các yếu có về con người do đốt nương làm rẫy thì hiện tượng khô hạn cũng là nguyên nhân chính dẫn đến cháy rừng trên địa bàn.

Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến đổi của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh, dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ rủi ro đối với lâm nghiệp. Có nhiều loài sâu, bệnh hại rừng như: Bệnh khô xám thông, bệnh rơm lá thông, bệnh khô ngọn thông, bệnh thối cổ rễ thông, bệnh vàng lá sa mộc… đã ảnh hưởng nghiêm trọng hàng trăm ha rừng và ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp của huyện Bắc Quang.

BĐKH làm tăng nguy cơ chuyển dịch diện tích đất lâm nghiệp sang đất dành cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác là tác động gián tiếp, song có thể coi là tác động lớn nhất đối với sản xuất lâm nghiệp. Diện tích và chất lượng đất canh tác lâm nghiệp bị suy giảm chủ yếu do các hiện tượng chính như nắng nóng gây hạn hán, mưa nhiều kéo dài gây xói mòn, lũ quét vùng núi cao và trượt sạt lở đất.

Bảng 3.10. Sự thay đổi diện tích rừng trồng



Huyện Bắc quang

2002

(ha)

2011

(ha)

Thay đổi

(%)

31.408,18

1.361,80

-95,66

Nguồn: Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang

Nhiệt độ và sự chênh lệch nhiệt độ trong năm tăng dần qua các giai đoạn làm xuất hiện các hiện tượng khô hạn, cháy rừng, suy giảm chất lượng đất sản xuất lâm nghiệp… Nắng nóng làm tăng lượng bốc hơi nước của đất đặc biệt là đất không có thảm thực vật che phủ. Những vùng có nguy cơ bị hạn hán thiếu nước nghiêm trọng thường có các đặc điểm: Địa hình cao, dốc, sông ngắn, dòng mặt thoát khá nhanh; đất đá có khả năng chứa nước kém và không đều, lượng mưa nhỏ và lượng bốc hơi rất lớn hoặc nguồn nước đang bị khai thác quá mức. Xã Liên Hiệp – Huyện Bắc Quang khu vực vùng cao có khả năng bị ảnh hưởng hạn hán trên địa bàn.

Khí hậu ấm lên và hậu quả là mùa hè trở nên khô hanh hơn, là một trong những yếu tố chính dẫn đến hàng loạt các vụ cháy rừng diễn ra trên diện rộng.

Tại huyện Bắc Quang, đã xảy ra cháy rừng trên địa bàn xã Vĩnh Phúc, Liên Hiệp, Đức Xuân (với tổng diện tích cháy 15 ha). Trong năm 2012, ngày 1/5 vụ cháy rừng trên đỉnh núi thôn Lâm, xã Vô Điếm, huyện Bắc Quang đã thiêu trụi hơn 12 ha rừng. Số liệu thống kê về tài nguyên rừng cho thấy trong những năm gần đây diện tích rừng tăng lên, nhưng chất lượng rừng lại có chiều hướng suy giảm, nguy cơ cháy rừng ngày càng tăng lên.

Bảng 3.11. Tác động của BĐKH đến các tiểu khu vực tại huyện Bắc Quang

Thành phần bị tác động

Tác nhân

Tác động

Mức độ tác động

Khu vực tác động điển hình

Trồng

lúa

Mưa lũ

- Ngập úng

- Trượt lở vùi lấp ruộng



Lớn

Các xã: Quang Minh, Việt Lâm

Hạn hán

- Thiếu nước

Lớn

Liên Hiệp, Đức Xuân, Hữu Sản (Bắc Quang),

Nhiệt độ tăng

- Tăng năng suất trồng trọt, giảm hiện tượng sương muối.

Tăng năng suất

Vùng núi đất phía Tây của huyện Bắc Quang

Sâu bệnh

- Ảnh hưởng đến sự phát triển của cây

Lớn

Huyện Bắc Quang

Trồng

ngô

Hạn hán

- Thiếu nước

Lớn

Xã Tiên Kiều, Vĩnh Phúc


Sương muối

- Ảnh hưởng đến sinh lý của cây

Nhỏ

Xã Hữu Sản, Đức Xuân.


Gió và lốc xoáy

- Làm đổ, gãy cây

Trung bình

Xã Đồng Tiến, Thượng Bình

Sâu bệnh

- Hạn chế sự phát triển của cây

Trung bình

Toàn bộ diện tích đất trồng trọt

Trồng cây ăn quả

Hạn hán

- Thiếu nước

Trung bình

Xã Hùng An, Vĩnh Tuy, Vĩnh Hảo

Ngập lụt

- Úng rễ

Trung bình

Thị trấn Vĩnh Tuy, Đông Thành

Gió và lốc xoáy

- Đổ, gãy và rơi cành, quả..

Lớn

Thị trấn Vĩnh Tuy, xã Vĩnh Hảo, Hồng An

Trồng cây công nghiệp

Hạn hán và cháy rừng

- Hạn chế sự phát triển

- Giảm năng suất



Nhỏ

Xã Tân Thành

Rửa trôi, xói mòn đất dốc

- Suy thoái đất

Trung bình

Toàn bộ diện tích trồng trọt đặc biệt là khu địa hình dốc

Tăng nền nhiệt độ trung bình

- Tăng năng suất sinh khối

Lớn

Toàn bộ diện tích cây trồng

Rét đậm, sương muối

  • Hạn chế sự phát triển, chết cây

Lớn

97% diện tích cây cao su trên đại bàn bị chết

Nguồn. Phòng Nông nghiệp huyện Bắc Quang

: files -> ChuaChuyenDoi
ChuaChuyenDoi -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
ChuaChuyenDoi -> TS. NguyÔn Lai Thµnh
ChuaChuyenDoi -> Luận văn Cao học Người hướng dẫn: ts. Nguyễn Thị Hồng Vân
ChuaChuyenDoi -> 1 Một số vấn đề cơ bản về đất đai và sử dụng đất 05 1 Đất đai 05
ChuaChuyenDoi -> Lê Thị Phương XÂy dựng cơ SỞ DỮ liệu sinh học phân tử trong nhận dạng các loàI ĐỘng vật hoang dã phục vụ thực thi pháp luật và nghiên cứU
ChuaChuyenDoi -> ĐÁnh giá Đa dạng di truyền một số MẪu giống lúa thu thập tại làO
ChuaChuyenDoi -> TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiêN
ChuaChuyenDoi -> TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Văn Cường
ChuaChuyenDoi -> ĐÁnh giá thực trạng và ĐỀ xuất giải pháP


1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương