CÁc hiệP ĐỊnh thưƠng mại tự do khu vực châU Á- thái bình dưƠng các công trình nghiên cứu về kinh tế quốc tế



tải về 0.92 Mb.
trang1/11
Chuyển đổi dữ liệu12.09.2017
Kích0.92 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

powerpluswatermarkobject47642910



CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO

KHU VỰC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ

(ISSN: 1793-3641)

Tổng biên tập Robert M. Stern, Đại học Michigan, Hoa Kỳ

Ban biên tập Vinod K. Aggarwal, Đại học California-Berkeley, Hoa Kỳ

Alan Deardorff, Đại học Michigan, Hoa Kỳ

Paul DeGrauwe, Đại học Katholieke Universiteit Leuven, Bỉ


Barry Eichengreen, Đại học California-Berkeley, Hoa Kỳ
Mitsuhiro Fukao, Đại học Keio University, Tokyo, Nhật Bản
Robert L. Howse, Đại học Michigan, Hoa Kỳ
Keith E. Maskus, Đại học Colorado, Hoa Kỳ
Arvind Panagariya, Đại học Columbia, Hoa Kỳ


Đã xuất bản*

Vol. 4 Các nguyên tắc của Toàn cầu hóa

Rawi Abdelal (Đại học Harvard, Hoa Kỳ)biên soạn

Vol. 5 Các thể chế và vấn đề trao quyền theo giới trong kinh tế toàn cầu

Kartik Roy (Đại học Queensland, Australia),

Hans Blomqvist (Học viện quản lý kinh tế và kinh doanh Thụy Điển, Ba Lan) & Cal Clark (Đại học Auburn University, Hoa Kỳ)

biên soạn

Vol. 6 Toàn cầu hóa và rủi ro hệ thống

Douglas D. Evanoff (Ngân hàng dự trữ liên bang Chicago, Hoa Kỳ),

David S. Hoelscher (Quĩ tiền tệ quốc tế, Hoa Kỳ) &
George G. Kaufman (Đại học Loyola University Chicago, Hoa Kỳ)

bên soạn

Vol. 7 Thúc đẩy hợp tác tài chính và tiền tệ tại Đông Á

Duck-Koo Chung (Tổ chức nghiên cứu Đông Bắc Á, Hàn Quốc) & Barry Eichengreen (Đại học California, Berkeley, Hoa Kỳ) biên soạn

Vol. 9 Toàn cầu hóa và các chính sách thương mại quốc tế

Robert M Stern biên soạn

Vol. 10 Cuộc khủng hoảng thị trường tín dụng đầu tiên trong thế kỷ 21: những tác động đối với chính sách công

Douglas D Evanoff (Ngân hàng dự trữ liên bang Cago, Hoa Kỳ),

Philipp Hartmann (Ngân hàng trung ương Châu Âu, Đức) &
George G Kaufman (Đại học Loyola University, Hoa Kỳ)

biên soạn

Vol. 11 Các hiệp định thương mại tự do tại Châu Á Thái Bình Dương

Christopher Findlay (Đại học Adelaide, Australia) &

Shujiro Urata (Đại học Waseda University, Nhật Bản)

biên soạn


Sắp xuất bản

Vol. 8 Những thách thức đối với phát triển kinh tế tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi

Julia C Devlin biên soạn

* Xem chi tiết các cuốn sách đã xuất bản tại website:


http://www.worldscibooks.com/series/wssie_series.shtml

CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO

KHU VỰC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG

biên soạn

Christopher Findlay
Đại học Adelaide, Australia
Shujiro Urata
Đại học Waseda, Nhật Bản

Nhà xuất bản

Nhà xuất bản World Scientific Publishing Co. Pte. Ltd.
Địa chỉ: 5 Toh Tuck Link, Singapore 596224

Văn phòng đại diện tại Hoa Kỳ: 27 Warren Street, Suite 401-402, Hackensack, NJ 07601


Văn phòng đại diện tại Anh: 57 Shelton Street, Covent Garden, London WC2H 9HE

CÁC HIỆP ĐỊNH TỰ DO THƯƠNG MẠI TẠI CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG


Các công trình nghiên cứu kinh tế quốc tế— Vol. 11

Bản quyền của NXB World Scientific Publishing Co. Pte. Ltd.

Cuốn sách này không được phép sao chép lại dưới bất kỳ hình thức nào hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào nếu không được sự cho phép của nhà xuất bản bằng văn bản chính thức.

.

ISBN-13 978-981-4271-38-7



ISBN-10 981-4271-38-1

Stallion Press

Email: enquiries@stallionpress.com

In ấn tại Singapore.



LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, thế giới được chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các hiệp định thương mại tự do (FTAs). Các hiệp định được ký kết tại hầu khắp các khu vực trên thế giới và chiếm lĩnh vị trí thống trị trong hệ thống thương mại quốc tế. Các FTA góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia nhưng đồng thời làm chệch hướng thương mại và hạn chế thương mại đối với các nước không tham gia ký kết. Do đó, các FTA có ảnh hưởng đồng thời tới các nước ký kết và các nước không tham gia ký kết. Để làm rõ những tác động này của các FTA đối với hoạt động thương mại và nền kinh tế các nước, Nhóm nghiên cứu FTA thuộc Viện nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (RIETI) đã tiến hành một công trình nghiên cứu đối với một số FTA nổi bật trong năm tài khóa 2006 và 2007. Nghiên cứu sử dụng số liệu phân tích tiền FTA (giai đoạn trước khi ký kết FTA) và số liệu hậu FTA (giai đoạn sau khi FTA được ký kết). Riêng đối với các FTA của Nhật Bản, nhóm nghiên cứu đánh giá thêm tỷ lệ vận dụng các FTA đã ký trong thực tiễn kinh doanh của các công ty Nhật Bản. Kết quả nghiên cứu không những chỉ ra những điểm còn thiếu sót mà các FTA đã ký kết cần khắc phục mà còn cung cấp các thông tin hữu ích cho việc xây dựng các FTA mới trong tương lai. Với việc xuất bản thành sách, chúng tôi hi vọng sẽ có nhiều độc giả quan tâm tiếp cận được các kết quả nghiên cứu giá trị này.

Công trình nghiên cứu được dẫn dắt bởi Giáo sư Urata Shujiro, chủ nhiệm khoa thuộc Viện nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (RIETI), đồng thời là Giáo sư của Viện nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương, đại học Waseda, Nhật Bản. Những hỗ trợ từ một cơ quan chuyên ngành như RIETI giúp công trình nghiên cứu có được các số liệu quí giá về kinh tế, thương mại trong một giai đoạn dài và ở tầm toàn cầu.

RIETI được thành lập bởi Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp với chức năng là một bệ xây dựng chính sách kiểu mới, làm cầu nối giữa các chuyên gia nghiên cứu và chính trị gia nhưng vẫn giữ vai trò độc lập nhất định với các cơ quan chính phủ. Với vị trí đóng tại quận Kasumigaseki, Tokyo – trung tâm kinh tế, chính trị của Nhật Bản, RIETI đã tập hợp được các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo các ngành công nghiệp, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đầu nghành của Nhật Bản và từ khắp nơi trên thế giới. Trong kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, RIETI đã đặt ra 4 hướng nghiên cứu chính sách chính, theo đó bất kỳ cá nhân hay nhóm nghiên cứu đều được tham gia vào hoạt động nghiên cứu, đó là:



  1. Duy trì kinh tế năng động trong điều kiện nhân khẩu học bất lợi là tỷ lệ sinh giảm và dân số đang già đi.

  2. Khích lệ sáng kiến và nâng cao cạnh tranh quốc tế

  3. Xây dựng chiến lược nhằm đối phó với toàn cầu hóa và đẩy mạnh phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa các nước Châu Á

  4. Biên soạn lịch sử chính sách thương mại và công nghiệp của Nhật Bản.

Để thực hiện được các nghiên cứu này cần tới một lực lượng các chuyên gia hùng hậu để thu thập, phân loại số liệu, nghiên cứu một cách có hệ thống, xây dựng mạng lưới các nhà nghiên cứu, bao gồm cả các nhà nghiên cứu nước ngoài. Với vai trò là một bệ phóng hoạch định chính sách, RIETI rất mạnh trong các nghiên cứu liên ngành kiểu này.

Là chủ tịch RIETI, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới Giáo sư Urata và Giáo sư Findlay, những người đã biên soạn cuốn sách này cùng toàn thể thành viên nhóm nghiên cứu FTA cũng như những người đã đóng góp cho nghiên cứu này. Tháng 3/2007, nhóm nghiên cứu FTA đã tổ chức một buổi hội thảo chuyên đề “Đánh giá chất lượng và tác động của một số hiệp định thương mại tự do tiêu biểu”. Các góp ý vô cùng hữu ích từ những thành viên tham gia hội thảo đã giúp chúng tôi có những nghiên cứu sâu sắc hơn. Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể nhân viên RIETI đã nỗ lực không ngừng để hoàn thành nghiên cứu này đồng thời cảm ơn Nhà xuất bản World Scientific Publishing đã xuất bản cuốn sách này.

Oikawa Kozo, Chủ tịch

Viện nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp, IAA



MỤC LỤC

Lời nói đầu

Tổng quan

1. Nguyên tắc xuất xứ và Tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp

trong một số Hiệp định thương mại tự do tiêu biểu 1

I. Cheong và J. Cho

1. Giới thiệu 1

2. Tổng quan về qui tắc xuất xứ ROO 2

2.1. Lý thuyết về ROO 2

2.2. Phân tích mô tả ROO trong các FTA tiêu biểu…… 6

2.2.1. ROO trong các FTA của Hoa Kỳ và EU 6

2.2.2. ROO trong các FTA của các nước Đông Á 7

3. Đánh giá thực nghiệm ROO 9

3.1. Phân tích thành phần chỉ số 10

3.2. Đánh giá mức độ hạn chế thương mại của ROO 13

3.2.1. Các nghiên cứu đã thực hiện 13

3.2.2. Đánh giá mức độ hạn chế thương mại

của ROO trong các FTA Nhật Bản và HQ 16

4. Tự do hóa lĩnh vực nông nghiệp trong 1 số FTA 19

4.1. FTAs của các nước phương Tây 20

4.2. FTAs của Nhật Bản và Hàn Quốc 22

4.3. FTA ASEAN – Trung Quốc 23

5. Kết luận 25

Tham khảo 26

2. Vấn đề tự do hóa trong lĩnh vực dịch vụ 29

R. Ochiai, P. Dee and C. Findlay

1. Giới thiệu 29

2. Hình thức và nội dung 30

2.1. Đặc trưng khu vực thể hiện trong hình thức HĐ 30

2.2. Phương pháp Negative-list và positive-list

— Nội dung 33

2.3. Hiệp định kiểu GATS và hiệp định kiểu NAFTA 40

3. Qui định trong nước 42

4. Tiếp cận thị trường và nguyên tắc đối xử quốc gia 43

5. So sánh giữa hiệp định song phương và hiệp định

đa phương 44

6. Nguyên tắc xuất xứ 45

7. Đánh giá tổng quan về mức độ tự do hóa 45

8. Tóm tắt 51

Phụ lục 52

Tham khảo 80

3. Phân tích những rào cản đối với hoạt động đầu tư

trực tiếp nước ngoài trong các FTA 81

S. Urata and J. Sasuya

1. Giới thiệu 81

2. Phương pháp luận 82

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 85

3.1. Mức độ hạn chế 85

3.2. Đánh giá theo quốc gia 90

3.3. Các biện pháp hạn chế 95

3.4. Rào cản đối với những ngành khác 96

4. Kết luận 97

Phụ lục 98

Tham khảo 130

4. So sánh cơ chế tự vệ trong các hiệp định thương mại

tự do (FTAs) 131

A. Kotera and T. Kitamura

1. Giới thiệu 131

2. Cơ chế tự vệ song phương và khu vực 132

2.1. Cấu trúc và nội dung cơ bản của các

cơ chế tự vệ 132

2.2. Bản chất của cơ chế tự vệ song phương

và khu vực 135

2.3. Phân tích và đánh giá một số

cơ chế tự vệ 138

2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá……………………….. 138

2.4. Phân tích một số cơ chế tự vệ song phương

và khu vực 142

2.4.1. NAFTA 142

2.4.2. EFTA 143

2.4.3. AFTA 144

2.4.4. EC-Mexico 145

2.4.5. Australia-New Zealand 146

2.4.6. Hoa Kỳ-Singapore 146

2.4.7. Hoa Kỳ-Australia 147

2.4.8. Nhật Bản-Mexico 147

2.4.9. Nhật Bản-Singapore 148

2.4.10. Hàn Quốc-Chile 149

2.4.11. Hàn Quốc-Singapore 149

2.4.12. Trung Quốc-ASEAN 149

3. Phân loại các cơ chế tự vệ song phương

và khu vực 150

3.1. Loại cơ chế tự vệ không toàn bộ 150

3.2. Loại cơ chế tự vệ quasi-global 151

3.2.1. Loại WTO 151

3.2.2. Loại GATT 151

3.2.3. Loại NAFTA 152

3.2.4. Loại châu Âu 152

4. Kết luận 153

Phụ lục 155

Tham khảo

TỔNG QUAN

CHRISTOPHER FINDLAY và SHUJIRO URATA



1. Các hiệp định thương mại tự do ở khu vực Đông Á

Cuốn sách này bao gồm các kết quả nghiên cứu trích từ dự án nghiên cứu đánh giá chất lượng và tác động của những Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà khu vực Đông Á đã ký kết trong thế kỉ 21. Chương này sẽ tóm tắt những diễn biến gần đây của các hiệp định FTA nêu trên, lý giải lý do và chỉ ra phạm vi nghiên cứu của dự án đồng thời tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính.



1.1. Sự phát triển nhanh chóng của các Hiệp định thương mại tự do (FTA):

Từ những năm 90, khi vòng đàm phán thương mại đa phương Uruguay theo Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) hầu như không đạt được tiến triển gì đáng kể thì các nước trên thế giới trong đó có khu vực Đông Á bắt đầu tìm đến các Hiệp định FTA như là một cách thức mới nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại. Năm 1995, Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập thay thế cho GATT với phạm vi bao quát toàn diện và cơ sở pháp lý chặt chẽ hơn. Các nước càng quan tâm nhiều hơn tới các FTA khi các vòng đàm phán thương mại đa phương mới theo WTO (Chương trình nghị sự Phát triển Doha) rơi vào bế tắc. Cụ thể, tổng số các FTA báo cáo lên GATT/WTO được ký kết từ năm 1949 đến 1990 là 86 hiệp định và năm 1995 đã tăng lên tới 165, năm 2000 là 251 và đến 20/05/2008 là 394 hiệp định. 1



Bảng 1. Các FTA tiêu biểu của các nước Đông Á (tính đến tháng 5/2008).

Có hiệu lực

Đang đàm phán

Đang đàm phán

Bangkok Treaty (1976)

Nhật Bản-Hàn Quốc

Thái Lan-EFTA

AFTA (1992)

Nhật Bản-Philippines∗

Thái Lan-Australia

Singapore-NZ (2001)

Nhật Bản-ASEAN

Thái Lan-Hoa Kỳ

Nhật Bản-Singapore (2002)

Nhật Bản-Indonesia†

Hong Kong-NZ

Singapore-Australia (2003)

Nhật Bản-GCC

Đài Loan-El Salvador

Singapore-EFTA (2003)

Nhật Bản-Brunei†

Đài Loan-Guatemala

Singapore-Hoa Kỳ (2004)

Nhật Bản-Vietnam

Đài Loan-Nicaragua

Hàn Quốc-Chile (2004)

Nhật Bản-Ấn Độ

Đài Loan-Paraguay

Trung Quốc-Hong Kong (2004)

Nhật Bản-Australia




Trung Quốc-Macao (2004)

Hàn Quốc-Hoa Kỳ†




Đài Loan-Panama (2004)

Hàn Quốc-Canada




Singapore-Jordan (2004)

Hàn Quốc-Ấn Độ




Nhật Bản-Mexico (2005)

Hàn Quốc-Mexico




Trung Quốc-ASEAN (2005)

Hàn Quốc-EU




Thái Lan-Australia (2005)

Hàn Quốc-ASEAN (ex. Thái Lan∗ )




Thái Lan-NZ (2005)

Trung Quốc-Australia




Singapore-Ấn Độ (2005)

Trung Quốc-GCC




Hàn Quốc-Singapore (2006)

Trung Quốc-SACUFTA




Nhật Bản-Malaysia (2006)

Trung Quốc-Singapore




Hàn Quốc-EFTA (2006)

Malaysia-Australia




Nhật Bản-Chile (2007)

Malaysia-NZ




Nhật Bản-Thái Lan (2007)

Malaysia-US




Singapore-Ấn Độ (2007)

Singapore-Canada




Singapore-Panama (2007)

Singapore-Mexico




Trung Quốc-Chile (2007)

Singapore-Egypt




Trung Quốc-NZ (2008)

Singapore-Qatar




Trung Quốc-Pakistan (2008)

Singapore-Peru




Malaysia-Pakistan (2008)

Thái Lan-Ấn Độ†

 

* Là những FTA đã được ký kết nhưng đang chờ phê chuẩn của cơ quan lập pháp.

† Là những FTA mà đàm phán đã đạt được thỏa thuận.



Nguồn: WTO; nguồn từ chính phủ các nước.

Bảng 1 bao gồm các hiệp định mà các nước Đông Á đã ký kết tính tới tháng 5/2008.2 Khu vực

thương mại tự do ASEAN được thành lập năm 1992 là FTA lớn duy nhất trong khu vực cho tới khi Nhật Bản ký FTA với Singapore vào năm 2002 (trước đó là Hiệp định hợp tác kinh tế JSEPA).3 Bảng 1 thể hiện sự thay đổi to lớn của các nước Đông Á trong những năm gần đây khi tăng cường ký kết FTA với các nước trong và ngoài khu vực.

Năm 1992, các nước thành viên ASEAN khởi động tiến trình ký kết hiệp định AFTA nhằm biến ASEAN thành một khu vực kinh tế cạnh tranh cho hoạt động xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Hiệp định này tạo điều kiện tự do hóa việc thực thi các biện pháp thuế quan và phi thuế quan theo Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEFT). Ban đầu các nước ASEAN dự kiến lấy năm 2008 làm mốc hoàn tất tự do hóa thuế quan và phi thuế quan nhưng sau đó đẩy lên năm 2002. Tháng 1/2002, AFTA chính thức có hiệu lực tại 6 nước thành viên ASEAN ban đầu gồm: Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines và mức thuế giảm xuống còn 0-5% với danh mục loại trừ và áp dụng cho từng nước khác nhau. Việt Nam áp dụng mức thuế quan này năm 2003, Lào và Myanmar năm 2005 và Campuchia là năm 2007. Ban đầu dự kiến ASEAN sẽ trở thành một khu vực thương mại tự do hoàn toàn ngoại trừ các nước CLMV (Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam) vào năm 2010 nhưng sau đó đã bị lùi lại. Tự do hóa đầu tư trong ASEAN đang trong quá trình triển khai với việc thành lập Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) năm 1998. Điều này giúp thúc đẩy hợp tác đầu tư, tiếp cận thị trường và thực thi nguyên tắc đối xử quốc gia với tất cả các ngành sản xuất. Tuy nhiên, một số nước thành viên vẫn duy trì danh mục loại trừ trong hoạt động đầu tư đối với nhiều danh mục đầu tư lớn và nhạy cảm. Năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đã cùng nhau đặt ra mục tiêu là tới năm 2020, phấn đấu đưa ASEAN trở thành Cộng đồng ASEAN với sự kết hợp Cộng đồng An ninh ASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng Văn hóa – xã hội ASEAN. Theo đó cho phép dòng chảy tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và nguồn vốn. Sau đó, mục tiêu này đã được kéo dài đến năm 2015.

Trong những năm gần đây, bên cạnh AFTA, ASEAN nói chung và mỗi nước thành viên nói riêng đều chủ động tích cực tham gia đàm phán FTA với các nước khác trên thế giới. Một ví dụ FTA chiếm được mối quan tâm hàng đầu trong những năm gần đây là FTA ký giữa ASEAN và Trung Quốc vào năm 2005 và hiện tại đang đàm phán về lĩnh vực thương mại dịch vụ. ASEAN (trừ Thái Lan) ký FTA với Hàn Quốc vào tháng 7/2006 và vừa ký kết một thỏa thuận với Nhật Bản. Hiện tại ASEAN đang đàm phán FTA với Ấn Độ, Australia – New Zealand, CER và EU.

Nhiều nước thành viên đã tích cực ký kết các hiệp định song phương. Singapore đã ký FTA với New Zealand, Nhật Bản, Australia, Hoa Kỳ, Khối thương mại tự do Châu Âu, Ấn Độ và vẫn đang tiếp tục đàm phán với các nước khác. Thái Lan cũng tích cực ký kết FTA với Australia, New Zealand, Nhật Bản và đang đàm phán với Hoa Kỳ và một số nước khác. Malaysia ký FTA với Nhật Bản và vừa khởi động đàm phán với một số nước khác trong đó có Hoa Kỳ. Indonesia, Philippines ký FTA với Nhật Bản.

Trái lại, các nước Bắc Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trước năm 1990 tỏ ra không mấy mặn mà với các hiệp định FTA. Tuy nhiên, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc hiện đã nhanh chóng chủ động gia nhập xu thế này. Trung Quốc ký FTA với ASEAN, Hồng Kông, Macau và hiện đang trong tiến trình đàm phán với khoảng 20 nước. Nhật Bản ký FTA với Singapore, Mexico, Malaysia, Chi lê, Thái Lan, Indonesia; ký thỏa thuận với Philippines, Brunei, ASEAN và hiện đang đàm phán với Australia, khối GCC, Hàn Quốc và một số nước khác. Hàn Quốc ký FTA với Chi Lê, Singapore, Khối thương mại tự do Châu Âu, ASEAN; ký thỏa thuận với Hoa Kỳ và đang đàm phán với EU, Canada, Ấn Độ và Mehico.

Do vấn đề chính trị liên quan tới Trung Quốc, Đài Loan gặp nhiều cản trở trong việc ký kết FTA với các nước khác. Chính vì vậy, nước này chỉ ký FTA với một số các nước nhỏ ở Trung Mỹ như Nicaragua và El Salvador.

Trong khi EU và khu vực Bắc Mỹ phổ biến FTA mang tầm khu vực, các nước Đông Á không có một hiệp định khu vực nào mà chỉ ký các hiệp định song phương và hiệp định qui mô nhỏ. Cũng có nhiều sáng kiến được đề xuất nhằm đưa tới một hiệp định khu vực nhưng vấp phải nhiều khó khăn do sự không đồng đều giữa các nước trong khu vực này.

Tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) năm 1998, lãnh đạo các nước đã thống nhất thành lập Nhóm tầm nhìn Châu Á nhằm triển khai một chiến lược dài hạn cho hợp tác kinh tế khu vực và nhóm này đã đưa ra khuyến nghị về việc ký kết Hiệp định thương mại tự do Đông Á (EAFTA). Sau đó vào năm 2006, Nhóm Chuyên gia được lập ra theo khuyến nghị của các bộ trưởng kinh tế ASEAN + 3 đã đề xuất khởi động tiến trình thành lập EAFTA từ năm 2007. Đề xuất không được thông qua, Nhóm Chuyên gia yêu cầu được nghiên cứu thêm và hiện giờ Nhóm đang tiến hành dự án nghiên cứu ở giai đoạn 2.

Tại Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN + 3, Nhật Bản đề xuất ký kết thỏa thuận Đối tác Kinh tế Toàn diện Đông Á – là thỏa thuận đối tác bao gồm FTA cho cả khu vực ASEAN + 3 + 3 (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand ) hay ASEAN + 6. ASEAN + 6 là thành viên của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005. Với động thái này, Nhật Bản được cho là đang củng cố vị trí đứng đầu khi mà Trung Quốc luôn chiếm thế thượng phong trong các bàn đàm phán EAFTA. Một báo cáo về tính khả thi của CEPEA đã được đệ trình lên Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN + 6 vào tháng 8/2008 (CEPEA, 2008).

Tại hội nghị các nhà lãnh đạo các nước APEC năm 2006, Hoa Kỳ đã khởi xướng thành lập Khu vực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP ), bao gồm 21 nước thành viên APEC. Hội nghị nhất trí về triển vọng của FTAAP. Đề xuất này của Hoa Kỳ dấy lên mối quan ngại về việc giảm sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này. Sự khác nhau về thành viên ASEAN+6 và APEC có hàm ý quan trọng: những nền kinh tế lớn trong khu vực như Đài Loan, Nga tham gia FTAAP trong khi Ấn Độ không tham gia.





  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương