Đa dạng sinh họC Ở việt nam



tải về 276.54 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích276.54 Kb.
  1   2   3


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

======<***>======

TỔNG QUAN VỀ

ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM

(Báo cáo được tổng hợp từ các tài liệu

do nhóm chuyên gia trong nước và quốc tế chuẩn bị phục vụ

xây dựng dự án Luật Đa dạng sinh học)

Hà Nội, 1/2008


Phần thứ nhất

THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM
Việt Nam được biết đến như là một trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng. Các hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, biển, núi đá vôi, gò đồi, cát ven biển, v.v… với những nét đặc trưng của vùng bán đảo nhiệt đới, là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài hoang dã đặc hữu, có giá trị, trong đó có những loài không tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới. Việt Nam cũng là nơi được biết đến với nhiều nguồn gen hoang dã có giá trị, đặc biệt là các cây thuốc, các loài hoa, cây cảnh nhiệt đới, v.v…

I. CÁC HỆ SINH THÁI TỰ NHIÊN

Với vị trí địa lý đặc thù, Việt Nam được biết đến như là quốc gia phong phú về các kiểu hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là hệ sinh thái rừng tự nhiên trên cạn, đất ngập nước, đồi núi đá vôi, đất khô và các hệ sinh thái tự nhiên dọc theo ven biển và các hải đảo. Theo số liệu điều tra, đa dạng sinh học ở nước ta tập trung ở một số khu vực chủ yếu như: các khu rừng đặc dụng tự nhiên (khoảng 1,8 triệu ha trên tổng số 14 triệu ha tương đương với khoảng 13% diện tích rừng trên cả nước), các vùng đất ngập nước tự nhiên (khoảng 1,7 triệu ha trên tổng số hơn 10 triệu ha tương đương 17% diện tích đất ngập nước trên cả nước), các vùng đồi, núi đặc biệt là núi đá vôi (khoảng 1,5 triệu ha trên tổng số hơn 5 triệu ha tương đương 24% tổng diện tích đất đồi núi trên cả nước) và các hệ sinh thái tự nhiên dọc theo bờ biển dài hơn 3200 km và các hải đảo.



1. Hệ sinh thái rừng tự nhiờn

Hệ sinh thái rừng tự nhiên ở nước ta có nhiều kiểu tiêu biểu như: rừng kín vùng thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao. Trong đó, đáng chú ý các các khu vực có hệ sinh thái rừng đặc dụng tự nhiên vừa mang tính đại diện cho các hệ sinh thái rừng tự nhiên nhiệt đới nhưng lại có những nét đặc thù của Việt Nam. Các khu rừng đặc dụng tự nhiên là nơi sinh sống của nhiều loài hoang dã đặc hữu, có giá trị cần được bảo vệ.

Tuy nhiên, trước các áp lực của phát triển kinh tế xã hội, các khu rừng tự nhiên đang bị thu hẹp dần diện tích và đang bị khai thác thiếu bền vững làm cho chất lượng các hệ sinh thái suy giảm mạnh. Một số loài hoang dã mất nơi cư trú dần bị suy giảm về số lượng và đứng trước nguy cơ bị biến mất.

2. Hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiờn

Dựa theo hệ thống phân loại của Công ước Ramsar, Việt Nam có hơn 30 kiểu đất ngập nước tự nhiên (11 kiểu đất ngập nước ven biển và 19 kiểu đất ngập nước nội địa). Đây là nơi tập trung các loài động vật, thực vật phong phú, nơi cư trú, nơi đến của nhiều loài hoang dã quan trọng, đặc biệt là các loài chim nước. Đất ngập nước còn là nơi đẻ trứng, sinh sản của nhiều loài hoang dã. Theo các tiêu chí được quốc tế công nhận, Việt Nam có nhiều vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế, trong đó 68 vùng đang được trình Chính phủ phê duyệt.

Các vùng đất ngập nước tự nhiên đang bị thu hẹp diện tích rất nhanh. Việc nuôi trồng thủy sản không có quy hoạch, việc khai thác không khôn khéo và thiếu bền vững đang làm suy giảm đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái trên nhiều vùng đất ngập nước.

3. Hệ sinh thái núi đá vôi

Hệ sinh thái núi đá vôi phân bố ở 24 tỉnh, thành phố, nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ với hệ động vật và thực vật có những nét rất đặc trưng. Hệ sinh thái núi đá vôi rất đa dạng về cảnh quan, có nhiều hang động, nước chảy ngầm trong đá, chỉ lộ ra từng đoạn, địa chất kiến tạo độc đáo, góp phần tạo ra tính đa dạng sinh học cao nên có giá trị to lớn về khoa học, kinh tế, tập trung nhiều loài động vật và thực vật quan trọng, đặc hữu.

Hệ sinh thái núi đá vôi chưa được quan tâm bảo vệ với đúng tầm quan trọng và ý nghĩa của chúng vì vậy đang bị suy thoái nhanh. Nhiều vùng núi đá vôi đang bị khai thác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học, các giá trị sinh thái, kinh tế, cảnh quan của chúng.

4. Hệ sinh thái biển và hải đảo

Với bờ biển dài 3.260 km cùng vùng đặc quyền kinh tế biển khoảng 1 triệu km2 và hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, đã tạo nên hệ sinh thái biển giàu có về đa dạng sinh học. Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau trong đó phải kể đến các hệ sinh thái cỏ biển với hơn 15 loài cỏ biển, hệ sinh thái rạn san hô có diện tích khoảng 1.122km2 với hơn 310 loài san hô là nơi cư tụ của hơn 2000 loài sinh vật biển.

Cũng như các hệ sinh thái tự nhiên khác, các hệ sinh thái biển và hải đảo cũng đang đối mặt với nhiều áp lực, thách thức và đang trên đà suy thoái mạnh. Ô nhiễm từ đất liền, các hoạt động trên biển, việc khai thác, đánh bắt hải sản bằng các biện pháp hủy diệt đang đặt các hệ sinh thái biển trước nguy cơ suy thoái hoàn toàn.

II. CÁC LOÀI HOANG DÃ

Do đặc điểm về vị trí địa lý, đặc biệt là về khí hậu và cấu trúc địa hình, Việt Nam có hệ động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm trong tự nhiên rất phong phú và đa dạng, đã ghi nhận được hơn 16.000 loài thực vật, hơn 21.000 loài động vật và khoảng 3000 loài vi sinh vật và nấm.

Việt Nam được xếp hàng thứ tư về số lượng các loài linh trưởng và là nơi cư trú của 4 trong số 25 loài linh trưởng bị đe dọa tuyệt chủng cao nhất trên thế giới. Ngoài ra, có hơn 100 loài chim đặc hữu, 78 loài loài thú, bò sát, ếch nhái chỉ có ở Việt Nam mà không nơi nào trên thế giới có được. Một số loài hoang dã có giá trị có thể kể đến như: Voọc mũi hếch, Voọc đầu trắng, Voọc xám, Voọc Hà Tĩnh, Sao la, Mang lớn, Mang nanh, Gà lôi lam đuôi trắng, Khướu Ngọc Linh, Khướu vằn đầu đen, Sếu đầu đỏ, Cá cóc Tam Đảo, hơn 100 loài bướm, gần 100 loài san hô và nhiều loài động vật không xương sống khác. Việt Nam đã mô tả được 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài, ghi nhận 2 họ, 19 chi và hơn 70 loài. Riêng họ Lan đã công bố 3 chi, 62 loài mới và bổ sung 4 chi, 34 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam.

Tuy nhiờn, Việt Nam cũng đã ghi nhận có hơn 400 loài động vật, hơn 450 loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng, trong đó có Tê Giác 1 sừng, Sao La, Voọc mũi hếch, Voọc Cát Bà, Cá Cóc, Bò Biển, v.v… Việt Nam được xếp vào nhóm 15 nước hàng đầu Thế giới về số loài thú, nhóm 20 nước hàng đầu về số loài chim, nhóm 30 nước hàng đầu về số loài thực vật và lưỡng cư bị đe dọa tuyệt chủng.



III. TÀI NGUYÊN DI TRUYỀN

Nguồn tài nguyên di truyền ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng với nhiều giá trị kinh tế, sinh thái khác nhau. Việc khai thác giá trị di truyền của các loài thực vật, động vật, nấm và vi sinh vật hoang dã phục vụ mục đích thương mại đã mang lại lợi nhuận đáng kể cho nhiều công ty, nhà sản xuất. Thời gian qua, cũng do nhận thức của người dân còn yếu kém, hệ thống pháp luật liên quan chưa hoàn thiện và tổ chức quản lý tài nguyên không chặt chẽ nên Việt Nam đã bị mất nhiều nguồn gen quý hiếm. Hàng năm có đến 300-400 giống tại các địa phương có nguy cơ cao bị xói mòn nguồn gen, trong đó có nhiều giống bản địa, quý hiếm.

Thuộc tính của các loài cây, công thức của các vị thuốc được hình thành qua một thời gian dài, trả bằng giá cuộc sống và sức khoẻ của bao đời trước. Những tri thức ấy phải qua rất nhiều thế hệ mới tích luỹ được. Thế nhưng khối tri thức này lại không được hệ thống sở hữu trí tuệ đề cập đến. Các đối tượng ở bên ngoài đến khai thác triệt để nguồn gen và phát triển các kỹ thuật mới sinh lời trên nền tảng tri thức bản địa, bỏ qua lợi ích lâu dài bền vững của cộng đồng, khiến cho nguồn gen, tri thức về nguồn gen, và cả những tập tục truyền thống khai thác hợp lý nguồn gen đó vốn có ở địa phương đều bị mai một.

Mười ba năm đã qua, kể từ khi chúng ta cam kết thực hiện Công ước Đa dạng sinh học, việc xác định trách nhiệm và bảo vệ quyền lợi cho các bên liên quan vẫn chưa được chú ý hoặc không được thi hành. Nguyên nhân của thực trạng này có thể kể đến là: Thứ nhất, về phía người đi khai thác tài nguyên di truyền (cả vật thể và phi vật thể) để thu lợi thì họ đã (vô tình hay hữu ý) không thấy trách nhiệm phải chia sẻ lợi ích thu được với bên cung cấp tài nguyên. Trong nhận thức và hành động họ không cảm thấy có điều gì băn khoăn khi có hành vi xâm phạm hoặc chiếm đoạt lợi ích của người khác cho riêng mình. Do đó, quyền lợi của cộng đồng và người dân coi như đã bị lãng quên. Thứ hai, về phía cộng đồng và người dân có tài nguyên di truyền, đặc biệt các dân tộc thiểu số ở miền núi, thì do trình độ dân trí thấp, nhận thức của người dân có hạn, do đó chưa nhận thức được đầy đủ giá trị của nguồn tài nguyên mà họ có (vật thể và phi vật thể) và khi quyền lợi của họ bị xâm phạm hoặc bị mất cũng không biết để đòi hỏi.

Những vấn đề trên càng trở nên cấp bách khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ký kết các hiệp định đa phương, mở cửa với những cam kết mở về tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có nguồn tài nguyên di truyền. Việc thu thập các mẫu vật di truyền, tiếp cận nguồn gen có giá trị để nghiên cứu phát triển, sản xuất các sản phẩm thương mại là sức hút lớn đối với các tổ chức, cá nhân đến từ nước khác, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển. Điều đó đồng nghĩa với việc thất thoát tài nguyên và nhiều nguồn lợi lớn của đất nước bị lấy đi một cách âm thầm chúng ta không hề biết hoặc không có cơ sở để đấu tranh đòi quyền lợi.

IV. SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN

Sinh vật biến đổi gen là sinh vật có cấu trúc di truyền bị thay đổi bằng công nghệ chuyển gen. Cho đến nay ở Việt Nam, các nghiên cứu về chuyển nạp gen vào cây trồng chủ yếu được tiến hành ở Viện Công nghệ Sinh học, Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Sinh học Nhiệt đới và một số cơ quan khác. Một số dự án quốc gia và quốc tế cũng đã và đang tài trợ cho hướng nghiên cứu chuyển nạp gen. Chúng ta đã bước đầu thành công trong việc chuyển một số gen có ý nghĩa kinh tế như kháng thuốc diệt cỏ, kháng sâu, bệnh, pro-vitamin A,... vào cây lúa, bắp cải, ngô, đu đủ, cây hoa... Tuy nhiên, những thành công này mới chỉ đạt đến quy mô thí nghiệm hoặc thử nghiệm ở phạm vi hẹp, nhưng chưa đưa ra triển khai trong sản xuất.

Sinh vật và sản phẩm biến đổi gen cũng đó được nhập vào nước ta một cách chính thức hoặc không chính thức nhưng chưa được quản lý cũng như không được thông báo công khai. Hầu hết các mẫu thức ăn chăn nuôi có mặt trên thị trường đều chứa sản phẩm biến đổi gen với một tỷ lệ nào đó. Rất có thể cả một số thực phẩm chế biến từ đậu tương, ngô, cải dầu... có chứa sản phẩm biến đổi gen cũng đang được bán ở Việt Nam.

Việc nghiên cứu tạo ra và nhập khẩu sinh vật biến đổi gen để sử dụng có thể có tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với con người và môi trường trong nước. Kinh nghiệm của các nước cho thấy sự cần thiết phải thực hiện các biện pháp quản lý an toàn đối với các đối tượng này thông qua đánh giá rủi ro, cấp giấy chứng nhận mức an toàn và ghi nhận trên nhãn hàng hóa. Ngoài ra cần có các quy định đặc thù đối với các hoạt động nghiên cứu tạo ra, chế biến sản phẩm từ sinh vật biến đổi gen phục vụ việc tiêu dùng của con người, khảo nghiệm và giải phóng ra môi trường để phòng ngừa các rủi ro tiềm ẩn đối với sức khỏe con người và môi trường.



V. CÁC LOÀI NGOẠI LAI XÂM HẠI MÔI TRƯỜNG

Sinh vật ngoại lai xâm hại môi trường là loài sinh vật ngoại lai lấn chiếm nơi cư trú hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi các loài này sinh sống. Hiện nay trên thế giới đó thống kờ được hơn 100 loài ngoại lai xâm hại môi trường nguy hiểm. Hiện tại ở Việt Nam, các loài sinh vật ngoại lai xâm hại chưa xuất hiện với số lượng lớn, bùng phát trên diện rộng và gây hại nghiêm trọng như chúng đã gây ra ở nhiều quốc gia, nhất là các quốc đảo. Một số loài có thể kể tới là cây Mai dương (Mimosa pigra), ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata), Lục bình (bèo Nhật Bản, bèo tây) (Eichhornia crassipes), Cây bông ổi (cây ngũ sắc, cây cứt lợn) (Lantana camara) và Chuột hải ly (Myocastor coypus). Tuy nhiên, thực tế là hầu hết các loài xâm hại, hoặc có tiềm năng xâm hại còn chưa được xác định hoặc nghiên cứu ở Việt Nam. Nếu không có những nghiên cứu đầy đủ và các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn, những ảnh hưởng nghiêm trọng có thể sẽ đến trong tương lai.

Trên toàn cầu, tổng thiệt hại do các loài ngoại lai xâm hại gây ra ước tính từ 55 đến 248 tỷ USD hàng năm. Ở Việt Nam, các loài ngoại lai xâm hại cũng gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế, làm mất cân bằng sinh thái ở nhiều nơi. Ví dụ, ốc bươu vàng, một loài gốc Nam Mỹ được du nhập vào Việt Nam cuối những năm 80 đã trở thành một trong những loài gây hại nguy hiểm nhất đối với canh tác lúa và làm thất thoát sản lượng lúa đến hàng triệu USD hàng năm.
Phần thứ hai

PHÁP LUẬT VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM
Việt Nam chưa có hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học với tư cách là một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập tương đối. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường có những quy định nguyên tắc chung, bao trùm và khái quát về bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Nhưng các quy phạm pháp luật về đa dạng sinh học đang nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau và mỗi văn bản lại chỉ đề cập đến một hoặc vài khía cạnh của đa dạng sinh học. Điều này đã làm hạn chế hiệu lực và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trên thực tế. Bên cạnh đó, còn nhiều nội dung quan trọng của đa dạng sinh học vẫn chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc chỉ được quy định tại các văn bản dưới luật như: bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái đất ngập nước, các hệ sinh thái tự nhiên trên vùng núi đá vôi, gò, đồi thuộc vùng đất chưa sử dụng, tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, quản lý an toàn sinh vật biến đổi gen, kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại môi trường, v.v…

I. NHẬN XÉT CHUNG

Ở Việt Nam, các quy định pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học được hình thành khá sớm. Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng có thể được coi là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này.

Tiếp đến, vào những năm 60, 70 các quy định về bảo vệ đa dạng sinh học có thể được tìm thấy trong các văn bản pháp luật của Chính phủ về thành lập các Vườn quốc gia; quy chế săn bắn chim, thú hoang dã; công tác trồng cây gây rừng, ... Song, do nhận thức chung của cộng đồng lúc bấy giờ là mới chỉ quan tâm đến nguồn tài nguyên rừng mà chưa coi trọng đến các nguồn tài nguyên khác, như tài nguyên sinh vật biển, nguồn gen,… nên hầu hết các văn bản pháp luật vào thời điểm này mới chỉ đề cập đến việc bảo vệ động vật, thực vật rừng.

Đến những năm 90, một loạt các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao chứa đựng các quy định về bảo vệ đa dạng tài nguyên rừng và các nguồn tài nguyên khác đã được ban hành, như Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (1989), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991), Luật Bảo vệ môi trường (1993), Pháp lệnh thú y (1993), Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật (1993),… Tuy nhiên, nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng, sự cần thiết phải bảo vệ tính đa dạng của các nguồn tài nguyên sinh học chỉ thực sự được đánh dấu kể từ thời điểm Việt Nam phê chuẩn Công ước Đa dạng sinh học (16/11/1994). Đây được xem là tiền đề quan trọng cho việc phát triển lĩnh vực pháp luật về đa dạng sinh học với tư cách là một bộ phận quan trọng của pháp luật môi trường. Kể từ thời điểm này, các quy định pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học được ban hành ngày càng nhiều, theo hướng hoàn thiện hơn, như: Kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học (ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 845/TTg ngày 22/12/1995); Nghị định 109/2003/NĐ-CP về quản lý, bảo tồn và phát triển các vùng đất ngập nước; Luật Thủy sản (2003) (thay thế cho Pháp lệnh BV&PT nguồn lợi thủy sản 1989); Luật BV&PT rừng (2004) (thay thế cho Luật BV&PT rừng 1991); Quy chế quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen, sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen (kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 212/2005/QĐ-TTg ngày 26/8/2005), Luật Bảo vệ môi trường (2005) (thay thế Luật Bảo vệ môi trường 1993), …

Với các hình thức pháp lý nêu trên cho thấy, vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học được quy định trong nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, trong đó pháp luật môi trường đề cập đến bảo vệ đa dạng sinh học ở mức độ bao trùm, khái quát nhất. Những nguyên tắc, những quy định chung về bảo vệ đa dạng sinh học được đề cập trong Luật Bảo vệ môi trường (2005) có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển các quy định cụ thể về bảo tồn đa dạng sinh học. Điều này bắt nguồn từ tính thống nhất nội tại của hệ thống pháp luật về môi trường. Sinh vật, hệ sinh thái là các thành tố cơ bản của môi trường, do vậy, pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học là một bộ phận không thể thiếu của pháp luật môi trường. Các lĩnh vực pháp luật khác chỉ đề cập đến các mảng riêng của đa dạng sinh học, như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định việc bảo vệ tính đa dạng sinh học của rừng; Luật Thủy sản quy định việc bảo vệ tính đa dạng sinh học của nguồn lợi thủy sản, Nghị định 109/2003/NĐ-CP quy định bảo vệ tính đa dạng sinh học của các vùng đất ngập nước,… Ngoài ra, một số biện pháp pháp lý để bảo vệ đa dạng sinh học cũng có thể tìm thấy trong lĩnh vực pháp luật công, như Luật Hình sự, Luật Hành chính,…

Như vậy, có thể đánh giá một cách tổng quan là Việt Nam chưa có pháp luật về đa dạng sinh học với tư cách là một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập tương đối với hệ thống pháp luật về môi trường. Các quy định về bảo vệ đa dạng sinh học hiện đang nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau, mỗi văn bản lại chỉ đề cập đến một hoặc một vài khía cạnh của đa dạng sinh học. Điều này làm hạn chế đáng kể đến hiệu lực, hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trên thực tế. Bên cạnh đó, còn nhiều nội dung quan trọng của đa dạng sinh học vẫn chưa được pháp luật điều chỉnh, như: vấn đề tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, vấn đề kiểm soát sinh vật lạ xâm hại, bảo tồn nguồn gen cây thuốc… Từ đó phát sinh nhu cầu cần phải có một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, đề cập đến mọi khía cạnh của đa dạng sinh học nhằm quản lý và bảo vệ một cách có hiệu quả đa dạng sinh học, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

II. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT, CỤ THỂ

1. Các quy định chung về nguyên tắc và trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học

(1) Những quy định chung về nguyên tắc và trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học được đề cập trong nhiều văn bản khác nhau. Cụ thể:

Luật Bảo vệ môi trường (2005) quy định tương đối bao quát nhiều nội dung cơ bản của bảo vệ đa dạng sinh học, như xây dựng khái niệm chung về đa dạng sinh học (là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái); quy định cấm một số hành vi xâm hại đến đa dạng sinh học,... Luật Bảo vệ môi trường thể hiện rõ quan điểm bảo vệ mọi bộ phận hợp thành của đa dạng sinh học, như bảo vệ rừng, bảo vệ các loài thực vật, động vật quý hiếm, bảo vệ các nguồn tài nguyên sinh vật (bao gồm cả tài nguyên sinh vật trên cạn, dưới nước và vi sinh vật), bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, di sản tự nhiên…, trong khi các đạo luật khác chỉ đề cập đến một hoặc một vài khía cạnh của đa dạng sinh học, như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 quy định nguyên tắc và trách nhiệm bảo vệ tài nguyên sinh vật rừng; Luật Thủy sản 2003 quy định nguyên tắc và trách nhiệm bảo vệ tính đa dạng sinh học của nguồn lợi thủy sản; Luật Thương mại 2005 quy định cấm/hạn chế kinh doanh, cấm/hạn chế xuất khẩu một số loại hàng hóa trong đó có động, thực vật hoang dã, quý hiếm,…


(2) Pháp luật môi trường còn đề cập đến việc bảo vệ đa dạng sinh học thông qua các quy định về đánh giá tác động môi trường. Theo đó, chủ đầu tư, chủ dự án các hoạt động phát triển có ảnh hưởng trực tiếp đến đa dạng sinh học nhất thiết phải tiến hành đánh giá tác động môi trường, cụ thể là các công trình nằm trong hoặc kế cận với khu vực nhạy cảm về môi trường hoặc các khu bảo tồn thiên nhiên; các lâm trường khai thác gỗ; khu nuôi trồng thuỷ sản có quy mô lớn... phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Xem xét quy định trên trong mối quan hệ giữa pháp luật trong nước với pháp luật quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học cho thấy Việt Nam đã nội luật hóa tương đối đầy đủ các cam kết quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó có nghĩa vụ “phải đánh giá tác động môi trường khi tiến hành các dự án có thể gây ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học nhằm mục đích tránh và giảm thiểu tối đa các hậu quả này” (Điều 14 - Công ước Đa dạng sinh học).



(3) Đánh giá theo Kế hoạch hành động đa dạng sinh học Việt Nam năm 2005

Kế hoạch hành động về đa dạng sinh học của Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 có nhiều điểm mới, khắc phục những điểm hạn chế của Kế hoạch hành động đa dạng sinh học 1995. Kế hoạch 2005 đã đề cập đến hầu hết những nội dung cơ bản của bảo tồn đa dạng sinh học, như: (i) Tiếp tục bảo tồn đa dạng sinh học trên cạn; (ii) Tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước và biển; (iii) Chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp; và (iv) Sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên sinh vật, …



(4) Các quy định chung về nguyên tắc và trách nhiệm bảo vệ đa dạng sinh học còn được thể hiện trong Bộ Luật hình sự 1999.

Với 7/10 tội danh liên quan đến việc bảo vệ đa dạng sinh học cho thấy thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường nói chung, vi phạm các quy định về bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng.



2. Các quy định về bảo vệ đa dạng hệ sinh thái

(1) Tương tự như các quy định chung về nguyên tắc và trách nhiệm bảo vệ đa dạng sinh học, các quy định về bảo vệ đa dạng hệ sinh thái cũng được tìm thấy trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Cụ thể:

- Luật Bảo vệ môi trường (2005) đã xây dựng được một khái niệm pháp lý về hệ sinh thái (là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trong một môi trường nhất định, có tác động qua lại với nhau và với môi trường đó), đồng thời có một số quy định đề cập đến việc bảo vệ các hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học quan trọng đối với quốc gia, quốc tế (thông qua các quy định về điều tra, đánh giá để lập quy hoạch bảo vệ dưới hình thức các khu bảo tồn thiên nhiên); Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004) dành riêng một điều (Điều 40) để quy định về bảo vệ hệ sinh thái rừng. Tuy nhiên, nội dung của điều luật này lại chủ yếu dẫn chiếu sang các lĩnh vực pháp luật khác, như pháp luật môi trường, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật thú y; Luật Thủy sản chú trọng việc bảo vệ hệ sinh thái rạn san hô; Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển các vùng đất ngập nước, …



- Các hệ sinh thái khác nhau được điều chỉnh bởi các lĩnh vực pháp luật khác nhau như đã nêu trên làm hạn chế đáng kể đến quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế, bởi lẽ không phải ở mọi nơi, trong mọi trường hợp các hệ sinh thái đều được phân chia một cách tuyệt đối. Trên thực tế có rất nhiều hệ sinh thái đan xen với nhau, tồn tại bên nhau, nên khó phân định một cách rạch ròi việc quản lý và áp dụng pháp luật để bảo vệ. Điều này một lần nữa cho thấy cần phải có một văn bản pháp luật chung để điều chỉnh việc bảo vệ mọi hệ sinh thái.

(2) Từ phương diện kỹ thuật lập pháp cho thấy, Nghị định 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 về bảo tồn và phát triển các vùng đất ngập nước là một trong những văn bản pháp luật có chất lượng tốt, có tính khả thi cao do có nhiều quy định khá toàn diện và cụ thể về bảo vệ đa dạng sinh học nói chung, bảo vệ đa dạng hệ sinh thái đất ngập nước nói riêng. Chẳng hạn, Nghị định bắt buộc phải tiến hành khoanh vùng bảo vệ các vùng đất ngập nước dưới dạng khu Ramsar, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài và khu bảo tồn sinh cảnh, …

(3) Các quy định về bảo vệ hệ sinh thái đã bước đầu điều chỉnh cả các hoạt động có ảnh hưởng lớn đến ĐDSH, như: hoạt động du lịch sinh thái, hoạt động nghiên cứu khoa học trong các khu rừng đặc dụng… Đây là quy định có giá trị thực tế rất cao vì hiện nay du lịch đang có tác động mạnh mẽ tới môi trường theo chiều hướng xấu, trong khi những khu vực có tính đa dạng sinh học cao và những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế luôn lại luôn là đối tượng hướng tới của các hoạt động tham quan, du lịch.

: content -> vankien -> Lists -> DanhSachVanKien -> Attachments
Attachments -> KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)
Attachments -> PHẦn I các bộ, ngàNH, CƠ quan thuộc chính phủ trả LỜi cáC Ý kiếN, kiến nghị CỦa cử tri
Attachments -> CHÍnh phủ Số: 62/bc-cp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2008 BÁo cáO
Attachments -> BỘ giao thông vận tảI 1/ Cử tri tỉnh Đắk Lắc kiến nghị
Attachments -> QUỐc hội khóa XI uỷ ban về các vấn đề xã hội
Attachments -> QUỐc hội số: CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> 210/bc-btnmt cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010) TẬp hợP Ý kiếN, kiến nghị CỦa cử tri
Attachments -> Ủy ban thưỜng vụ quốc hội số: 365/bc-ubtvqh12
Attachments -> BỘ NÔng nghiệp và phát triển nông thôn số: 1588


  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương