Ủy ban thưỜng vụ quốc hội số: 365/bc-ubtvqh12



tải về 170.36 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.07.2016
Kích170.36 Kb.

ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
____________

Số: 365/BC-UBTVQH12

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
__________________________

Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2010


BÁO CÁO KẾT QUẢ GIÁM SÁT

VIỆC TỔ CHỨC, THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT


VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI
THEO HỢP ĐỒNG” CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
_______________

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội,
Thực hiện Nghị quyết số 867/NQ-UBTVQH12 ngày 25 tháng 11 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát chuyên đề “Việc tổ chức, thực hiện chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”, Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã gửi yêu cầu báo cáo đến Thường trực Chính phủ, các Bộ, ngành có liên quan chịu sự giám sát và các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; đề nghị Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương tổ chức giám sát; tập hợp các báo cáo, tài liệu, kết quả nghiên cứu, các báo cáo giám sát, khảo sát do Ủy ban về các vấn đề xã hội đã tiến hành để nghiên cứu, bổ sung cho báo cáo kết quả giám sát; tổ chức giám sát tại 10 tỉnh, thành phố1. Đoàn giám sát đã nghe báo cáo trực tiếp của đại diện Chính phủ và 6 bộ, ngành liên quan2.

Phạm vi giám sát tập trung vào việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật từ thời điểm Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực (1/7/2007) đến nay. Sau khi nghe Đoàn giám sát báo cáo tại phiên họp thứ 34 (9/2010) và xem xét Báo cáo số 116/BC-CP ngày 13 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội kết quả giám sát như sau:

Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là hoạt động được chính thức thực hiện từ năm 1980 với hai thời kỳ: từ 1980 đến 1990 là thời kỳ hợp tác lao động với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và một số nước châu Phi theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, Nhà nước ký các hiệp định Chính phủ cung cấp lao động và chuyên gia, các doanh nghiệp không phải tìm kiếm và ký kết hợp đồng cung ứng lao động, việc tuyển chọn lao động, chuyên gia theo chỉ tiêu, kế hoạch giao cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; lao động đi chủ yếu có chuyên môn, tay nghề trong biên chế nhà nước, được tổ chức thành đoàn, đội, quản lý chặt chẽ; người lao động và chuyên gia không phải chi phí trước khi đi, hằng năm phải đóng góp nghĩa vụ xây dựng Tổ quốc theo quy định. Thời kỳ này chúng ta đã đưa được khoảng 300 nghìn lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài, đóng góp cho ngân sách nhà nước 800 tỷ đồng (tính theo tỷ giá Rúp/VNĐ năm 1990) và hơn 300 triệu USD, không tính số ngoại tệ lao động và chuyên gia mang về cùng lượng hàng hóa thiết yếu trị giá hàng nghìn tỷ đồng góp phần cải thiện, nâng cao đời sống cho một bộ phận người lao động và gia đình, nhiều lao động có tay nghề cao, tác phong công nghiệp, có trình độ ngoại ngữ phục vụ tốt cho công việc cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp sau khi về nước. Thời kỳ từ năm 1991 đến trước khi có Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là thời kỳ đổi mới. Sau khi các Hiệp định hợp tác lao động với các nước Đông Âu cũ mất dần hiệu lực, thấy rõ thế mạnh của xuất khẩu lao động và chuyên gia, Nhà nước đã chủ trương mở rộng thị trường hiện có, tìm và mở các thị trường mới, cho phép nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia dưới sự quản lý của Nhà nước thông qua các Nghị định của Chính phủ, văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành (từ năm 1991-1994) và từ năm 1995 thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động. Đối tượng tham gia đi lao động ở nước ngoài không còn là những người trong biên chế nhà nước mà đa số là lao động xã hội, đặc biệt là lao động ở nông thôn. Việc tổ chức đưa đi, quản lý và đóng góp của người lao động cũng thay đổi nhằm mục tiêu cơ bản phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập, cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo, đào tạo, nâng cao tay nghề, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước. Từ năm 1999 đến 5/2005 đã có 323 nghìn lượt lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài gửi về nước khoảng 1 tỷ USD/năm3. Từ 1/7/2007 hoạt động này được thực hiện theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Phần thứ nhất

KẾT QUẢ TỔ CHỨC, THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT

VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI

THEO HỢP ĐỒNG (2007 - 6/2010)
1. Về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Quốc hội khóa XI thông qua năm 2006 và có hiệu lực từ 1/7/2007. Từ đó đến nay, để hướng dẫn thực hiện Luật, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành được 02 nghị định, 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 07 thông tư và thông tư liên tịch, 04 quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành một số văn bản liên quan đến chính sách hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đối với hộ gia đình người có công, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn4... Nhìn chung, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã cụ thể hóa các quy định của Luật và cùng với Luật đã đáp ứng cơ bản khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi chung là người lao động).

Tuy nhiên, việc ban hành các văn bản để cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành Luật chậm so với yêu cầu; một số quy định của Luật chưa có hướng dẫn hoặc hướng dẫn chưa cụ thể, đầy đủ như: mức trần ký quỹ của người lao động, mẫu và nội dung của hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phù hợp với từng thị trường lao động5; quy định về chính sách hỗ trợ tín dụng cho người nghèo, người dân tộc thiểu số đi lao động ở nước ngoài chưa thống nhất, đồng bộ về mức vay và lãi suất cho vay.

Chưa tích cực trong xây dựng chính sách để tổ chức thực hiện một số quy định của luật như: hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý, dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động; khuyến khích đưa nhiều lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đi làm việc ở nước ngoài có thu nhập cao; đi làm việc tại các công trình, dự án do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ở nước ngoài (khoản 3 và 5, Điều 5); chính sách hỗ trợ sau khi người lao động về nước (Điều 59, 60); chính sách đầu tư của nhà nước đối với cơ sở dạy nghề tạo nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài, hình thành một số trường dạy nghề đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động theo quy định dạy nghề gắn với việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Điều 64). Bên cạnh đó, quy định chế tài xử lý vi phạm, xử phạt chưa đủ mạnh và khó có thể thực hiện đối với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (Điều 76); …



2. Tình hình lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Theo Báo cáo của Chính phủ, ước tính có khoảng 500 nghìn lao động Việt Nam đang làm việc ở khoảng 40 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, với khoảng 30 ngành, nghề khác nhau từ lao động giản đơn đến lao động kỹ thuật cao và chuyên gia. Trong 5 hình thức đi làm việc ở nước ngoài (qua doanh nghiệp dịch vụ; tổ chức sự nghiệp; doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài; thực tập nâng cao tay nghề và hợp đồng cá nhân), đa số lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ và tổ chức sự nghiệp.

Số lượng người lao động cũng phân bố khác nhau ở các địa bàn. Theo Báo cáo của Chính phủ, từ năm 2007 đến tháng 6/2010 có 282.106 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó các thị trường đi nhiều là: Đài Loan (89.887 người), Malaysia (39.817 người), Hàn Quốc (39.382 người), Nhật Bản (19.590 người), khu vực Trung Đông (32.196 người) và khu vực châu Phi (12.092 người).

Theo số liệu tổng hợp từ 58 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì 4 tỉnh có trên 20 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài; 10 tỉnh, thành phố có từ 5.000 đến 12.000 người, 16 tỉnh có từ trên 1.000 đến 4.000 và 2 tỉnh chỉ có dưới 100 người là Lai Châu (72 người) và Bà Rịa - Vũng Tàu (11 người)6. Lao động các tỉnh, thành phố khu vực miền Bắc, miền Trung chiếm 95%; phía Nam chiếm 5%. Đa số ngành, nghề, việc làm theo yêu cầu của nước ngoài thường đòi hỏi trình độ không cao nên phù hợp với khả năng lao động nông thôn Việt Nam như: xây dựng; giày da, may mặc; giúp việc gia đình, chăm sóc người bệnh hoặc người già yếu, tàn tật; nông nghiệp; lắp ráp điện tử… Một số quốc gia có nhu cầu ngành, nghề kỹ thuật cao nhưng chúng ta chưa đáp ứng được.

Trong số lao động đi làm việc ở nước ngoài, tỷ lệ lao động nữ tăng dần, từ năm 1992-1996 tỷ lệ nữ chỉ chiếm khoảng 10-15% trong tổng số lao động, đến thời kỳ 2007- 2010, tỷ lệ lao động nữ luôn chiếm từ 30% trở lên.

Phần đông người lao động Việt Nam được các quốc gia và các doanh nghiệp nơi đến đánh giá khéo tay, cần cù, nắm bắt nhanh công việc đảm nhận, ham học hỏi, sáng tạo, năng động, làm việc năng suất, chất lượng. Một số quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản ghi nhận lao động Việt Nam ở vị trí cao so với lao động các nước khác. So với trước khi đi, người lao động được nâng cao tay nghề, có thêm tay nghề. Đa số người lao động có thu nhập tương đối ổn định, cao hơn so với việc làm trong nước cùng ngành nghề, cùng trình độ… Tính bình quân chung, thu nhập sau khi trừ chi phí sinh hoạt của lao động tại các thị trường cơ bản như sau: Khoảng từ 3-4 triệu đồng/tháng tại thị trường thu nhập thấp, sử dụng lao động giản đơn (Malaysia); từ 7-12 triệu tại thị trường có thu nhập trung bình (Trung Đông, Đông Âu) và từ 15-20 triệu đồng ở những thị trường thu nhập cao (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan).

Hàng năm lượng tiền người lao động gửi về nước khoảng 2 tỷ đô la Mỹ. Việc chuyển tiền về nước được người lao động gửi thông qua nhiều kênh khác nhau như: qua các ngân hàng thương mại, qua công ty môi giới, phái cử hoặc người thân, bạn bè và qua người lao động hoặc các cá nhân khác. Tại một số tỉnh có số lượng lớn lao động đi làm việc ở nước ngoài, có năm lượng tiền người lao động gửi về nước xấp xỉ bằng tổng thu nội địa của địa phương7.

Gần đây một số thị trường điều chỉnh chính sách theo hướng có lợi và bảo vệ tốt hơn cho người lao động như Hàn Quốc (Chương trình cấp phép lao động nước ngoài gọi tắt là EPS), Nhật Bản (theo hình thức thực tập sinh) tạo sự thay đổi tích cực đối với người lao động, chất lượng lao động và sự tín nhiệm tăng lên, hạn chế tình trạng tự ý bỏ việc và vi phạm pháp luật của người lao động8.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế, yếu kém đối với người lao động, đó là: phần lớn lao động đi làm việc ở nước ngoài sống ở nông thôn, hoản cảnh kinh tế khó khăn, mức sống trung bình, nghèo nên trình độ học vấn thấp, chưa qua đào tạo nghề, không có ngoại ngữ, ý thức kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp và sức khỏe hạn chế. Theo báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước, lao động phổ thông và lao động có tay nghề thấp chiếm khoảng 50-60%, nhưng theo báo cáo của 10 tỉnh, thành phố được giám sát, tỷ lệ lao động có tay nghề ước khoảng 20-30%, còn tổng hợp báo cáo của các địa phương, doanh nghiệp và so sánh với kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì số lao động có tay nghề có thể còn thấp hơn nữa9, nhiều lao động làm các công việc giản đơn, phổ thông ở các thị trường có thu nhập thấp. Tình hình trên so với Báo cáo kết quả giám sát của Uỷ ban về các vấn đề xã hội về tình hình dạy nghề và xuất khẩu lao động tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI (tháng 10/2005) cho thấy vấn đề này chưa được cải thiện nhiều so với những năm trước khi có Luật.

Một bộ phận lao động chưa chú tâm tìm hiểu kỹ pháp luật, thông tin về thị trường lao động, chưa nghiên cứu kỹ các nội dung hợp đồng ký kết trước khi đi, chỉ mong được đi nhanh, rút ngắn thời gian đào tạo, sẵn sàng mất tiền qua trung gian, “cò mồi” để ra nước ngoài; trong quá trình lao động ý thức kỷ luật kém, chưa chấp hành đầy đủ quy định pháp luật, thiếu tôn trọng phong tục, tập quán của nước sở tại… Tình trạng lao động bỏ trốn, phá hợp đồng ra ngoài làm việc, nấu rượu lậu, đánh bạc, đánh nhau, trộm cắp…ở mức độ khác nhau vẫn diễn ra ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của lao động cũng như đất nước, con người Việt Nam ở nước ngoài. Chính vì vậy, trong một số thời điểm, một số nước đã ngừng cấp thị thực (visa) hoặc không nhận lao động của một số địa phương sang làm việc (Nhật, Anh, Catar, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất) hoặc đóng cửa một phần thị trường với lao động Việt Nam (Đài Loan)10; một bộ phận lao động phải về trước thời hạn do nguyên nhân chủ quan11.

Tình trạng người có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài bị các cá nhân hoặc doanh nghiệp không có chức năng lừa đảo để đi làm việc ở nước ngoài vẫn là vấn đề bức xúc trong dư luận xã hội, được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hiện tượng này chủ yếu xảy ra ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung, hầu hết nạn nhân là người lao động nghèo, thiếu thông tin, đi qua môi giới, trung gian. Theo báo cáo của Bộ Công an, thời gian qua đã điều tra, xử lý 137 vụ, khởi tố 186 bị can, xử lý hành chính 118 vụ với 133 đối tượng, đang tiếp tục điều tra 39 vụ với 88 đối tượng; tổng giá trị tài sản thiệt hại là 37,7 tỷ đồng và 1.450 USD với tổng số người bị hại trong các vụ án là 5.490 người. Hiện tượng này đã tồn tại nhiều năm nhưng chưa được ngăn chặn có hiệu quả, trong đó có trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tuyên truyền, phổ biến thông tin, chính sách, pháp luật tới người dân, cũng như việc phối hợp cung cấp thông tin, đấu tranh xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật.

Việc quản lý, sử dụng và thực hiện chính sách đối với người lao động sau khi về nước chưa được quan tâm. Mặc dù Điều 59, 60 của Luật đã quy định hỗ trợ việc làm và khuyến khích tạo việc làm đối với lao động sau khi về nước, song trong Báo cáo của Chính phủ cũng như thực tế giám sát tại địa phương và Bộ, ngành cho thấy, 50/63 tỉnh, thành phố không nắm được số lượng lao động về nước (cả lao động hoàn thành hợp đồng và lao động về trước hạn), chưa có chính sách hỗ trợ đối với nhóm đối tượng này, chưa có chính sách khuyến khích người lao động và gia đình họ đầu tư sản xuất, kinh doanh, sử dụng hiệu quả thu nhập có được từ việc đi lao động ở nước ngoài, cũng như thông tin và hướng dẫn họ đăng ký tìm việc làm phù hợp. Phần lớn người lao động về nước phải tự tìm việc làm, tạo việc làm cho mình. Bên cạnh đó, một số tác động xã hội đối với người lao động khi về nước cũng chưa được quan tâm thỏa đáng.



3. Hoạt động của doanh nghiệp làm dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Theo Báo cáo của Chính phủ, tính đến 30/6/2010 có 167 doanh nghiệp đang hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi chung là doanh nghiệp), trong đó có 98 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoặc cổ phần có vốn Nhà nước chi phối; 39 doanh nghiệp cổ phần vốn Nhà nước không chi phối; 30 doanh nghiệp tư nhân; 18 doanh nghiệp xác định hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh doanh chính, còn lại là các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành. Các doanh nghiệp là lực lượng chính thực hiện đưa khoảng 80% người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo kế hoạch hằng năm.

Về cơ bản, các doanh nghiệp đã có bước trưởng thành về quy mô, chất lượng hoạt động và đầu tư. Nhiều doanh nghiệp đội ngũ cán bộ, nhân viên, giáo viên dạy nghề và ngoại ngữ phục vụ cho hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Nhìn chung, các doanh nghiệp hoạt động lâu năm trong lĩnh vực này chủ động được các khâu: tìm kiếm thị trường, đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức tuyển chọn, đào tạo, tổ chức quản lý lao động, thực hiện thanh lý hợp đồng, góp phần phát triển thị trường mới, số lượng lao động đưa đi lớn, có chất lượng, thu nhập hợp lý, giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh đối với người lao động.

Một số doanh nghiệp đã hợp tác với đối tác nước ngoài để đào tạo theo yêu cầu thị trường, một số doanh nghiệp đã triển khai đầu tư chiều sâu, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ tuyển chọn, đào tạo lao động; cơ cấu, đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn của doanh nghiệp hợp lý; quy trình hóa các khâu nghiệp vụ, bước đầu áp dụng công nghệ thông tin và quản trị doanh nghiệp; khoảng 1/3 số doanh nghiệp hoạt động hiệu quả đã đưa được 2/3 tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài ổn định, bảo đảm quyền lợi người lao động, trong đó: chỉ tính riêng 10 doanh nghiệp12 trong tổng số 167 doanh nghiệp, năm 2007 đưa 22.326 lao động đi làm việc ở nước ngoài, năm 2008 là 24.065 lao động, năm 2009 là 17.409 lao động, chiếm 24% đến 28% chỉ tiêu Nhà nước giao hằng năm.

Với vai trò là tổ chức xã hội - nghề nghiệp13, Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam đã hoạt động tích cực và góp phần hỗ trợ doanh nghiệp; phối hợp, liên kết hoạt động giữa các doanh nghiệp dịch vụ với các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác; hợp tác với các tổ chức quốc tế về lao động, lao động di cư (ILO, IOM), các diễn đàn đối thoại của các tổ chức, các hiệp hội trong khu vực cũng như trên thế giới nhằm đóng góp thúc đẩy sự phát triển của công tác này.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ còn nhiều hạn chế, yếu kém:

- Quy mô hoạt động của phần đông doanh nghiệp còn nhỏ. Qua tổng hợp số liệu báo cáo của các doanh nghiệp, chỉ có 17 doanh nghiệp mỗi năm đưa từ 1.000 lao động trở lên đi làm việc ở nước ngoài; 29 doanh nghiệp từ 500 lao động đến dưới 1.000 lao động; 50 doanh nghiệp từ 300 lao động đến dưới 500 lao động và 52 doanh nghiệp đưa dưới 100 lao động mỗi năm.

- Tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của phần lớn doanh nghiệp còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của hoạt động này. Trình độ của đội ngũ cán bộ hạn chế, nhất là các doanh nghiệp hoạt động đa ngành chưa quan tâm đầy đủ đối với tổ chức chuyên hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hợp đồng cung ứng lao động có ý nghĩa quyết định nhưng chủ yếu qua môi giới, doanh nghiệp không có điều kiện tìm hiểu đầy đủ về đơn vị tiếp nhận lao động nên chất lượng hợp đồng cung ứng lao động chưa bảo đảm. Việc đăng ký hợp đồng cung ứng lao động vẫn còn vi phạm dưới nhiều hình thức khác nhau như: không đăng ký hợp đồng; tổ chức thực hiện hợp đồng trước khi đăng ký; đưa lao động đi nhiều hơn số lượng hợp đồng đăng ký; chưa có chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước vẫn thực hiện hợp đồng14. Hợp đồng cung ứng lao động còn những nội dung chưa được bảo đảm theo quy định của pháp luật, thiếu rõ ràng về nội dung, nhất là các điều khoản liên quan đến quyền lợi của người lao động. Theo đánh giá của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong tổng số 167 doanh nghiệp dịch vụ có khoảng 30% doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả cao, 50% doanh nghiệp hiệu quả hoạt động trung bình và 20% doanh nghiệp còn lại hoạt động kém hiệu quả.

- Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, giành hợp đồng cung ứng lao động giữa các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước dẫn đến giảm quyền lợi, tăng chi phí đóng góp của người lao động vẫn xảy ra mà chưa có biện pháp xử lý hiệu quả; một bộ phận doanh nghiệp được cấp phép hoạt động nhưng không trực tiếp khai thác, tìm kiếm hợp đồng cung ứng lao động, tư vấn, tuyển chọn lao động mà khoán trắng mọi hoạt động từ việc tìm kiếm thị trường, thực hiện hợp đồng cung ứng lao động cho chi nhánh hoặc trung tâm trực thuộc15 trong khi quản lý không chặt chẽ hoạt động thực sự của chi nhánh, trung tâm; tuyển chọn lao động thông qua môi giới, liên kết tràn lan, triển khai không thống nhất16; vẫn còn hiện tượng nhân viên doanh nghiệp đi tuyển chọn lao động nhưng lại “chuyển” lao động tuyển được cho doanh nghiệp khác để nhận hoa hồng và tình trạng doanh nghiệp dồn người lao động vào thế bị động khi ký kết hợp đồng trước khi ra nước ngoài làm việc, có những nội dung giữa thực tế và ký kết không theo hợp đồng và phần thiệt hại chủ yếu thuộc về người lao động.

- Các doanh nghiệp thực hiện chưa nghiêm quy định của pháp luật về tổ chức, quản lý quá trình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trong 167 doanh nghiệp với gần 300 ngàn lao động đưa đi làm việc ở nước ngoài tại khoảng 40 thị trường chỉ có 22 văn phòng đại diện của doanh nghiệp ở nước ngoài. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp, chi nhánh chưa thực hiện hoặc thực hiện không tốt, không đầy đủ chế độ báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền17, nhất là việc thông báo những vấn đề liên quan đến người lao động với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

- Công tác đầu tư, đào tạo nghề, giáo dục định hướng của không ít doanh nghiệp thiếu kỹ lưỡng, có tính hình thức, chưa bảo đảm chất lượng, việc bổ túc tay nghề, ngoại ngữ cho người lao động chưa đảm bảo yêu cầu, chỉ dừng lại ở việc giáo dục định hướng, trang bị bước đầu một số kỹ năng nghề, đáp ứng yêu cầu trước mắt của doanh nghiệp.

4. Việc thực hiện các chính sách hỗ trợ

Cùng với chính sách hỗ trợ đối với người có công, hộ nghèo, dân tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành Quyết định 71/2009/QĐ-TTg hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020 nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng lao động và tăng số lượng lao động ở các huyện nghèo tham gia lao động ở nước ngoài theo hợp đồng, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và thực hiện giảm nghèo bền vững. Các chính sách tập trung hỗ trợ cho người lao động nâng cao trình độ văn hóa, học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết, hỗ trợ chi phí khám sức khỏe, làm hộ chiếu, visa, hỗ trợ rủi ro,… Đến nay, tuy mới hơn 1 năm triển khai Quyết định 71, đã có 18 địa phương, 30 doanh nghiệp tham gia và đã đưa 2.500 lao động đi làm việc tại các nước.

Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam là đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện chính sách tín dụng cho các đối tượng chính sách. Nhìn chung, hệ thống ngân hàng chính sách xã hội trong cả nước thực hiện tốt chính sách hỗ trợ vay vốn, đã tổ chức hơn 9.000 điểm giao dịch tại xã với thủ tục công khai, đơn giản, thuận tiện, dễ dàng tiếp cận.

Về cơ bản, các chính sách hỗ trợ tín dụng cho người nghèo và đối tượng chính sách xã hội khác đã thực hiện đúng quy định về đối tượng vay, hạn mức cho vay, thu hồi vốn và xử lý vấn đề nợ xấu. Từ năm 2007 đến nay, ngân hàng chính sách xã hội đã cho hơn 43.000 người lao động vay với tổng doanh số khoảng 1.020 tỷ đồng, tổng dư nợ tại thời điểm tháng 6/2010 đạt xấp xỉ 830 tỷ đồng với hơn 41.600 lao động vay vốn, số dư nợ quá hạn gần 70 tỷ đồng. Theo đánh giá chung, Ngân hàng chính sách xã hội đáp ứng đủ vốn để phục vụ đối tượng được vay18. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cũng tham gia cho người lao động vay vốn với hạn mức không quá 20 triệu đồng/hộ đối với vùng nông thôn, có 8 ngân hàng thương mại tham gia, trong đó Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm tỷ lệ lớn nhất (82,5%)19.

Một số hạn chế trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ đó là: do xuất phát điểm học vấn của đa số lao động trong hộ nghèo thấp, hầu hết không có tay nghề, cùng với mức vay giới hạn từ 20-30 triệu đồng/người nên chủ yếu tham gia ở thị trường thu nhập thấp. Tuy nhiên, với sự thay đổi của chính sách tại thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản hiện nay sẽ tạo cơ hội tham gia nhiều hơn cho lao động nghèo vào thị trường này20. Mặc dù đã đầu tư khá nhiều nguồn lực, song việc thực hiện Quyết định 71 khó đạt được chỉ tiêu đặt ra cho giai đoạn 2009-2010 (đưa 10.000 lao động thuộc các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài).

Ở địa phương, các chính sách hỗ trợ phần lớn đều do chính quyền huy động, vận dụng để có nguồn vốn vay, hỗ trợ ban đầu cho người lao động khi làm thủ tục, như cho vay từ 1-2 triệu đồng, không tính lãi suất, hỗ trợ dạy nghề, học nghề, giáo dục định hướng.



5. Công tác quản lý nhà nước

Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được Bộ lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tập huấn, thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến bằng nhiều hình thức khác nhau như công bố toàn văn nội dung các văn bản pháp luật trên các trang thông tin điện tử; thông qua các hội nghị; biên soạn, in và phát hành miễn phí nhiều ấn phẩm có liên quan; phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng. Tại nhiều địa phương, cơ quan quản lý nhà nước còn phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp có nhiều hình thức tập trung tuyên truyền cho các thành viên của các tổ chức này, phổ biến, tư vấn cho đối tượng thanh niên, người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài (điểm tư vấn tại xã, tổ chức hội chợ việc làm, sàn giao dịch việc làm, phát hành tờ rơi, tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh, truyền hình...). Một số doanh nghiệp hoạt động dịch vụ có uy tín và kinh nghiệm đã phối hợp, hỗ trợ chính quyền địa phương trực tiếp tuyên truyền, phổ biến giúp người lao động và gia đình của họ hiểu được các quy định pháp luật, quyền, nghĩa vụ, thủ tục, trình tự và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước khi đi làm việc ở nước ngoài.

Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương có nhiều chuyển biến tích cực. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã từng bước thực hiện phân cấp trách nhiệm, quyền hạn cho các địa phương và đơn vị trực thuộc. Công tác cấp phép, đăng ký và chấp thuận hợp đồng của doanh nghiệp dần đi vào nề nếp. Trong 3 năm, cơ quan quản lý nhà nước đã xem xét, chấp thuận 17.574 hợp đồng cung ứng lao động do các doanh nghiệp đăng ký. Công tác xúc tiến, mở rộng thị trường được đẩy mạnh, mang lại hiệu quả tích cực, khai thác thêm được nhiều thị trường tiềm năng, thu nhập cao, phù hợp với nguồn cung ứng lao động Việt Nam, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và cạnh tranh gay gắt giữa các nước nhưng vẫn mở thêm được thị trường mới và tăng thêm thị phần ở những thị trường đã có lao động.

Từ năm 2007 đến nay Chính phủ và các Bộ, ngành đã đàm phán ký kết được 13 hiệp định và biên bản ghi nhớ với các nước21 tạo điều kiện cho lao động Việt Nam có thêm nhiều cơ hội để đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó có những thị trường đòi hỏi khắt khe về trình độ chuyên môn, kỹ thuật và kỷ luật lao động cao như Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước khu vực châu Âu, Ca-na-đa, Mỹ… và cả một số nước có phong tục tập quán, lối sống rất khác biệt ở khu vực Trung Đông.

Công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp hoạt động dịch vụ được tăng cường. Từ năm 2007 đến nay Bộ đã tiếp nhận, xử lý 1.184 khiếu nại của người lao động; thanh tra, kiểm tra 191 lượt doanh nghiệp, xử lý vi phạm hành chính 119 lượt doanh nghiệp (trong đó có 76 doanh nghiệp bị phạt vì vi phạm chế độ báo cáo), thu hồi giấy phép của 04 doanh nghiệp22.

Đã thành lập Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước, tính đến ngày 31/12/2009 số dư là 114,278 tỷ đồng, trong đó thu từ các doanh nghiệp và người lao động chỉ có 29,112 tỷ đồng, còn lại là phần kết dư của các năm trước và gần một nửa do chuyển từ khoản tiền xử lý sau thanh tra đối với Trung tâm lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các quy định về việc sử dụng Quỹ khá rõ ràng.

Bộ Ngoại giao đã tích cực thực hiện chương trình ngoại giao phục vụ kinh tế, phối hợp, hỗ trợ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội mở rộng thị trường lao động ngoài nước, chủ động chỉ đạo cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tăng cường công tác quản lý và bảo hộ lao động Việt Nam ở nước ngoài. Những năm gần đây, công tác bảo hộ công dân bao gồm việc hợp pháp hóa văn bản, giấy tờ, chứng nhận lãnh sự, cấp hộ chiếu, giấy thông hành và xử lý các vụ việc cụ thể phát sinh liên quan đến công dân đã được triển khai tốt hơn, đặc biệt kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 119/2007/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài, tăng cường cung cấp thông tin và phối hợp với Bộ Công an trong việc đấu tranh với hành vi lợi dụng một số lao động Việt Nam hoạt động chống đối, tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách, nói xấu Việt Nam, cùng với việc thực hiện các biện pháp chống trốn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Có 8 thị trường đông lao động Việt Nam làm việc đã thành lập Ban quản lý lao động trong cơ quan đại diện ngoại giao23 của nước ta để thực hiện một số chức năng quản lý, theo dõi, kiểm tra và hỗ trợ kịp thời cho lao động và doanh nghiệp trong quá trình người lao động làm việc ở nước ngoài.

Hầu hết các địa phương đều thành lập Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động do lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cùng cấp làm trưởng ban và phân công trách nhiệm cho lãnh đạo các ban, ngành tham gia. Một số cấp ủy, Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết riêng về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài hoặc lồng ghép với các nghị quyết chuyên đề về dạy nghề và giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đưa chỉ tiêu đi làm việc ở nước ngoài vào kế hoạch kinh tế - xã hội hàng năm. Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân xây dựng kế hoạch cụ thể để chỉ đạo thực hiện. Một số địa phương ban hành các chính sách riêng hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn, dạy nghề, hỗ trợ người lao động học nghề, khám sức khỏe, chi phí làm thủ tục ban đầu, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý nhà nước đó là:

- Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa sâu rộng, còn mang tính hình thức. Đối tượng tuyên truyền, phổ biến chủ yếu là cán bộ, công chức các cơ quan, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội từ cấp tỉnh đến cấp xã có liên quan đến hoạt động này. Đối với người dân, chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tờ rơi, tài liệu in ấn khác, ít được phổ biến trực tiếp. Đối với các doanh nghiệp, việc tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về lĩnh vực này chỉ nhằm mục đích chính là phục vụ cho tuyển dụng lao động, chưa bảo đảm để người lao động hiểu biết đầy đủ pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Trong khi đó, một số phương tiện thông tin đại chúng phản ánh thông tin về công tác này mang tính phiến diện, tập trung nhiều vào các khía cạnh tiêu cực, hạn chế, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm khó khăn hơn cho công tác tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Việc thực hiện quy định doanh nghiệp đăng ký để cơ quan quản lý nhà nước chấp thuận hợp đồng cung ứng lao động còn hạn chế do thiếu nhân lực, chưa có thông tin đầy đủ ở các thị trường tiếp nhận; việc phối hợp của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội với các cơ quan ngoại giao Việt Nam và các cơ quan liên quan ở các nước trong việc thẩm định hợp đồng đăng ký chưa nhiều. Trên thực tế, công việc này còn phụ thuộc nhiều vào phía doanh nghiệp trong nước và tổ chức môi giới phía nước tiếp nhận.

- Công tác phối hợp liên ngành giữa Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an trong việc cung cấp thông tin, hỗ trợ cho doanh nghiệp khai thác, mở thị trường mới, quản lý doanh nghiệp và người lao động vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục khắc phục, một số doanh nghiệp phản ánh việc hỗ trợ này của các cơ quan quản lý nhà nước chưa liên tục và chưa cập nhật. Theo báo cáo của Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện ngoại giao ít nhận được thông tin của các doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc, không có danh sách người lao động để chủ động trong việc thực hiện trợ giúp hay bảo hộ công dân khi cần thiết, chỉ khi xảy ra vụ việc các cơ quan liên quan mới thông báo để tham gia xử lý, giải quyết. Bộ Công an cho rằng, việc cấp phép cho các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan nhằm hạn chế các trường hợp rủi ro do năng lực yếu kém hoặc các vấn đề khác của doanh nghiệp.

- Chưa có sự phân định rõ ràng trong việc bảo hộ công dân nói chung với bảo hộ lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Một số quy định còn bất cập trong thực tiễn, gây khó khăn và bất lợi hơn cho người lao động như công dân xuất cảnh theo các trường hợp thông thường nếu xảy ra vụ việc thì các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài có thể sử dụng ngay Quỹ Bảo hộ công dân để mua vé máy bay, các nhu yếu phẩm tối thiểu... hỗ trợ cho công dân, nhưng đối với người lao động lại phải qua nhiều công đoạn và thủ tục để xác minh từ doanh nghiệp đưa đi, cam kết của Cục quản lý lao động ngoài nước, mất không ít thời gian ... mới có thể sử dụng Quỹ để tạm ứng, giải quyết cho lao động về nước. Một bộ phận lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài còn bị phân biệt đối xử nhưng việc bảo hộ cũng còn hạn chế.

- Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực người lao động đi làm việc ở nước ngoài nhưng cũng chỉ mới nắm được số liệu cơ bản về lao động đi từ các doanh nghiệp dịch vụ và tổ chức sự nghiệp và giải quyết các sự cố xảy ra, chưa cập nhật được số lượng lao động đi - về, vi phạm hợp đồng, vi phạm kỷ luật, pháp luật. Đối với hình thức đi làm việc ở nước ngoài theo trúng thầu, nhận thầu; đầu tư ra nước ngoài, thực tập tay nghề và hợp đồng cá nhân chỉ nắm sơ bộ, chưa đánh giá được đầy đủ hiệu quả24. Việc sử dụng và phát huy vai trò của Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước chưa nhiều, yếu và kém hiệu quả. Cho đến thời điểm này, Quỹ mới sử dụng được khoảng trên 5 tỷ đồng, chưa khuyến khích các doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ từ Quỹ, kinh phí cấp cho công tác hỗ trợ phát triển thị trường gần như không đáng kể.

Hoạt động hợp tác chuyên gia được coi là hoạt động ưu tiên trong chính sách cũng như theo quy định của pháp luật về lĩnh vực này25, nhưng cho đến nay, Nhà nước chưa có biện pháp hỗ trợ đáng kể để thúc đẩy loại hình này. Dự án hỗ trợ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề giai đoạn 2006-2010 chưa bố trí ngân sách để thực hiện.

- Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa thực sự kiên quyết. Số lượng cán bộ thanh tra của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Cục quản lý lao động ngoài nước và các Sở Lao động-Thương binh và Xã hội quá mỏng, hiệu quả hoạt động chưa cao. Việc vi phạm của doanh nghiệp về tổ chức bộ máy; hoạt động của chi nhánh, trung tâm, tổ chức tuyển dụng, đào tạo, giáo dục định hướng, thu phí, tổ chức quản lý người lao động, thực hiện chế độ báo cáo… diễn ra ở mức độ khác nhau còn khá nhiều nhưng chưa kiểm soát được nên quy định về thu hồi giấy phép, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này không được thực hiện. Trên thực tế, chưa có doanh nghiệp nào bị thu hồi giấy phép theo quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 1526 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; cũng chưa có trường hợp nào bị xử phạt vi phạm hành chính do người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài thực hiện theo quy định tại Điều 16, Nghị định số 144/2007/NĐ-CP27.

- Hoạt động của các Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động ở các địa phương còn mang tính hình thức, chủ yếu là hoạt động của bộ phận thường trực. Tình trạng giới hạn số lượng doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn diễn ra ở hầu hết các địa phương đến cấp huyện và xã. Quy định về việc doanh nghiệp thông báo với địa phương khi tuyển chọn lao động trên thực tế đã trở thành việc cấp phép tại từng cấp địa phương đối với các doanh nghiệp thông qua việc đồng ý, chấp thuận của các cơ quan quản lý nhà nước hoặc qua các hình thức giới thiệu. Bên cạnh đó, một số địa phương giao cho Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động hoặc chính quyền ký các cam kết hoặc hợp đồng trách nhiệm với doanh nghiệp khi tuyển dụng lao động trên địa bàn mình quản lý.



Phần thứ hai

ĐÁNH GIÁ CHUNG
Ủy ban thường vụ Quốc hội tán thành với nhiều nội dung báo cáo của Chính phủ về việc tổ chức, thực hiện chính sách, pháp luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và có một số nhận định, đánh giá tổng quát như sau:

1. Kết quả đạt được

- Với số lượng lao động làm việc ở nước ngoài ngày càng tăng đã giải quyết khá vững chắc việc làm hàng năm cho một bộ phận người lao động (khoảng 5% tổng số chỗ việc làm mới), lượng tiền chuyển về đã giúp cho người lao động và gia đình họ cải thiện đời sống; có nguồn vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh; xây dựng, sửa sang nhà cửa; chăm lo cho con em học hành; xóa đói giảm nghèo… đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo có trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền Nhà nước từ trung ương tới địa phương; sự nỗ lực của các doanh nghiệp và sự tham gia của nhiều người lao động trong việc thực hiện chính sách, pháp luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Cơ quan quản lý nhà nước các cấp đã ban hành nhiều văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể các điều khoản quy định của Luật, tổ chức tuyên truyền, quán triệt văn bản pháp luật; chủ động trong việc ổn định, phát triển các thị trường lao động truyền thống, mở rộng thêm các thị trường mới theo phương thức cung ứng lao động bằng hiệp định hoặc thỏa thuận song phương. Trên cơ sở kinh nghiệm hợp tác, xuất khẩu lao động và chuyên gia đã hình thành nhiều năm, sắp xếp lại tổ chức bộ máy; ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động, đặc biệt là hộ gia đình người có công, hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; chấn chỉnh và quản lí các tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng dần vào kỷ cương, nề nếp.

- Các doanh nghiệp từng bước củng cố, tự vươn lên để phát triển, tiếp cận thị trường lao động quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh, năng động hơn trong hoạt động kinh doanh; nhiều doanh nghiệp chủ động tìm kiếm, khai thác, mở rộng thị trường tiếp nhận lao động, ký được nhiều hợp đồng cung ứng lao động với nước ngoài, bảo đảm quyền và lợi ích cho người lao động. Hàng năm đưa được hàng vạn người lao động đi làm việc, trong đó phần lớn có công việc ổn định, tiền lương, thu nhập cao hơn nhiều so với việc làm trong nước, góp phần thực hiện mục tiêu xuất khẩu lao động mà Đảng, Nhà nước đề ra.

- Người lao động nhìn chung đã được các thị trường chấp nhận. Đa số nỗ lực, chủ động học tập, nắm bắt nhanh công việc, sáng tạo, cần cù trong lao động, có thu nhập để nâng cao đời sống bản thân và gia đình, góp phần thay đổi bộ mặt của nông thôn Việt Nam, nhất là các làng, xã nghèo, tạo thêm việc làm cho mình và cho lao động khác.

2. Hạn chế, yếu kém

Tuy thành tích là cơ bản nhưng còn những hạn chế, yếu kém cần được nhìn nhận, đánh giá đúng thực chất để hoạt động người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ngày một tốt hơn.



- Về công tác quản lý nhà nước.

+ Các văn bản hướng dẫn ban hành vẫn chậm, một số nội dung chưa được hướng dẫn cụ thể hoặc còn chồng chéo. Chất lượng và hiệu quả tuyên truyền phổ biến pháp luật còn thấp, chưa thực sự đến với phần đông người lao động và gia đình họ.

+ Chưa quản lý, kiểm soát và đánh giá được thực sự hoạt động của các doanh nghiệp tham gia hoạt động dịch vụ; việc đăng ký, chấp thuận hợp đồng cung ứng lao động của doanh nghiệp thực chất là thẩm định, cấp phép nhưng chất lượng của việc đăng ký khó tránh khỏi hình thức vì còn thiếu cơ sở đầy đủ để thẩm định. Trong 5 hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì cơ bản quản lý được hai hình thức dịch vụ và sự nghiệp, còn hình thức trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài; thực tập nâng cao tay nghề và hợp đồng cá nhân thì quản lý còn thụ động, chưa thực sự quan tâm, tổ chức theo dõi, quản lí trong khi hình thức trúng thầu, nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài khẳng định là xu hướng tốt nhưng chưa được quan tâm, phát triển.

+ Nhiều địa phương có Ban Chỉ đạo xuất khẩu lao động từ cấp tỉnh đến cấp xã nhưng hoạt động chưa thường xuyên, công tác tham mưu, giúp việc chưa hiệu quả, chưa nghiên cứu ban hành chính sách phù hợp với địa phương hoặc thực hiện các chính sách đã ban hành chưa đầy đủ. Tình trạng lừa đảo vẫn chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả.



- Về doanh nghiệp được phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ, thiếu kinh nghiệm, thiếu chuyên nghiệp; việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài chỉ là hoạt động kết hợp trong kinh doanh đa ngành của mình, nên hiệu quả hoạt động còn thấp; tình trạng cạnh tranh không lành mạnh cả thị trường trong và ngoài nước làm thiệt hại đến quyền lợi người lao động;… Bên cạnh đó, mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận, số lượng hợp đồng cung ứng lao động và số lượng lao động đưa đi là doanh thu nên không ít doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm chăm lo người lao động, chưa tuân thủ đầy đủ các nội dung quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho các hành vi tiêu cực tồn tại, phát triển.



- Về người lao động, chất lượng còn thấp cả về trình độ tay nghề và ngoại ngữ, khó có khả năng độc lập trong quan hệ lao động và tự bảo vệ mình; một bộ phận yếu về ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật lao động và khả năng thích nghi, hòa nhập với môi trường, văn hóa nơi làm việc; chưa quan tâm đến học nghề, giáo dục định hướng, đã gây không ít khó khăn cho công tác quản lí của Nhà nước và doanh nghiệp.

3. Nguyên nhân chính của kết quả và các hạn chế, bất cập

Những kết quả đạt được trong công tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là do: Chủ trương, định hướng đúng đắn; quy định của pháp luật cơ bản phù hợp với thực tiễn quản lý và nguyện vọng của người lao động; sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp, có trách nhiệm của cấp ủy Đảng, sự quan tâm của cơ quan quản lí nhà nước các cấp, sự tham gia tích cực của các tổ chức trong việc triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; sự nỗ lực của các doanh nghiệp và sự thay đổi nhận thức của người lao động. Việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động mang lại lợi ích cho nhiều bên, từ người lao động đến doanh nghiệp và nhà nước.

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng những hạn chế, yếu kém trong việc thực hiện chính sách, pháp luật đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan chủ yếu sau:

- Về khách quan: Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một lĩnh vực khó, phức tạp và nhạy cảm, phụ thuộc không chỉ chính sách, pháp luật trong nước mà còn phụ thuộc vào chính sách, pháp luật của nước tiếp nhận lao động. Giai đoạn 2008-2009 khi nền kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, nhiều lao động phải về nước trước thời hạn do khó khăn của doanh nghiệp tiếp nhận, nhiều lao động phải chuyển việc, chờ việc, thu nhập giảm sút, các thị trường hạn chế tiếp nhận lao động nên khó có thể thực hiện được kế hoạch đã đề ra.

- Về chủ quan: Chúng ta chưa thực sự quản lí chặt chẽ được hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chưa phân tích, đánh giá đúng được thực trạng tình hình để có biện pháp, giải pháp phù hợp với hoạt động này; cách nhìn nhận, bố trí, sắp xếp tổ chức, biên chế của cơ quan thực thi pháp luật quá mỏng, chưa đảm bảo cả số lượng và chất lượng để hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu; cơ chế phối hợp quản lý của các cơ quan nhà nước chưa chặt chẽ, đồng bộ; đầu tư cho hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn hạn chế; thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa nghiêm, thiếu kịp thời; doanh nghiệp chưa tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật; chất lượng lao động nói chung còn thấp.
Phần thứ ba

KIẾN NGHỊ
Nhiều năm qua, trong từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, việc đưa người lao động đi làm việc nước ngoài đã và đang là một biện pháp quan trọng nhằm góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập, cải thiện đời sống cho một bộ phận người lao động và phát triển kinh tế - xã hội. Đến nay, khi nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển cao hơn, việc làm mới trong nước tạo ra ngày càng tăng, áp lực giải quyết việc làm giảm dần thì cần phải định hướng lại chính sách giải quyết việc làm theo hướng ưu tiên giải quyết việc làm trong nước. Việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu cao hơn của người lao động, từng bước nâng cao tỷ lệ lao động có tay nghề và chuyên gia góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tới. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nhà nước và xây dựng cơ chế phối hợp; phân cấp trách nhiệm; phát huy sự tham gia của các tổ chức; xây dựng chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp và người lao động để hoạt động đưa người lao động đi làm việc nước ngoài đạt chất lượng và hiệu quả. Vì vậy, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội kiến nghị một số vấn đề sau:

1. Đối với Quốc hội:

- Giám sát thường xuyên việc thực hiện chính sách, pháp luật về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Xem xét việc giao chỉ tiêu hằng năm về đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, theo hướng thay thế chỉ tiêu giải quyết việc làm (kể cả đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài) bằng chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có thể kiểm soát được, ví dụ: chỉ tiêu thất nghiệp.

- Quan tâm bố trí ngân sách Nhà nước hằng năm cho việc thực hiện các chính sách trong Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nằm trong ngân sách dành cho việc thực hiện chương trình giải quyết việc làm hằng năm.



2. Đối với Chính phủ:

- Rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành Luật để sửa đổi, bổ sung, thay thế những quy định mâu thuẫn, bất cập, tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Luật nhằm bảo đảm tính thống nhất và tính khả thi của các văn bản pháp luật về lĩnh vực này, đồng thời bảo đảm sự lồng ghép với các chính sách khác có hiệu quả, trong đó chú ý thêm đối tượng là lao động hộ nghèo, dân tộc thiểu số, bộ đội xuất ngũ, lao động trong các hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện công tác quản lý nhà nước một cách đồng bộ đối với tất cả các hình thức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; phân cấp và phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong và ngoài nước; xây dựng hệ thống chỉ tiêu biểu mẫu thống kê, báo cáo; tổ chức quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và cung cấp những thông tin đầy đủ và chính xác cho người lao động, trong đó chú trọng hình thức thông qua người lao động đã thành công khi đi làm việc ở nước ngoài để chia sẻ kinh nghiệm, cung cấp thông tin cho người có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài; chấn chỉnh, hạn chế và ngăn chặn các thông tin thiếu khách quan, không chính xác, thông tin một chiều. Đồng thời, cần thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động về nước theo quy dịnh tại Điều 59 và 60 của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

- Nghiên cứu mô hình, sắp xếp doanh nghiệp theo hướng tăng cường năng lực, tổ chức hợp lý để hình thành những doanh nghiệp mạnh hoạt động trong lĩnh vực này; xây dựng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ, hướng tới định kỳ đánh giá, công bố chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp.

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm pháp luật; kiên quyết thu hồi giấy phép của các doanh nghiệp không thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật về đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; kịp thời thông tin đầy đủ, công khai về doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép hoạt động. Khuyến cáo các thủ đoạn lừa đảo trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng để địa phương và người dân chủ động phòng ngừa, ngăn chặn. Tăng cường hoạt động phòng, chống tội phạm nhằm chấm dứt tình trạng lừa đảo đối với người lao động.

- Đẩy mạnh các biện pháp xúc tiến mở rộng thị trường, tăng cường công tác đàm phán ký kết các hiệp định, thỏa thuận song phương, biên bản ghi nhớ về hợp tác lao động với các nước nhằm đưa lao động đi làm việc ở thị trường ổn định, chi phí thấp, quyền lợi của người lao động được đảm bảo, đặc biệt là lao động nữ; có cơ chế hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp thâm nhập, khai thác các thị trường có thu nhập cao phù hợp với khả năng cung ứng lao động Việt Nam. Ngoài ra, cần nghiên cứu việc đưa chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài, là hình thức có triển vọng, mang lại nhiều lợi ích cả về chính trị - kinh tế - xã hội, đồng thời là kênh quảng bá hình ảnh Việt Nam tích cực và hiệu quả. Phù hợp với nội dung các diễn đàn đối thoại Việt Nam - Châu Phi với những cam kết chính trị mạnh mẽ mở ra nhiều tác động tích cực, tạo điều kiện thúc đẩy việc đưa chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài.

- Nghiên cứu, sửa đổi quy định sử dụng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước hợp lý, có hiệu quả, hướng tập trung chủ yếu vào hỗ trợ, khai thác thị trường tiếp nhận lao động có thu nhập cao, ổn định; hỗ trợ người lao động khi gặp sự cố, rủi ro; hỗ trợ công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật. Tăng cường nguồn vốn đầu tư phát triển thị trường và đào tạo nguồn lao động có trình độ tay nghề, ngoại ngữ.



- Tăng cường công tác bảo hộ công dân và trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho lao động Việt Nam ở nước ngoài; hình thành các địa chỉ/trung tâm hỗ trợ người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng tại các nước có đông lao động Việt Nam; nghiên cứu, hoàn thiện mô hình Ban quản lý lao động ở nước ngoài phù hợp với các thị trường và pháp luật của nước tiếp nhận. Đồng thời, có các biện pháp thiết thực nhằm tăng cường sự kết nối trong cộng đồng người Việt Nam làm việc ở nước ngoài bằng các hoạt động nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, quảng bá hình ảnh con người và đất nước Việt Nam ở nước ngoài.

- Hợp tác với các nước phái cử lao động xây dựng chương trình phối hợp cung cấp lao động cho các nước tiếp nhận lao động, giảm cạnh tranh không lành mạnh làm thiệt hại đến quyền, lợi ích của người lao động và quốc gia phái cử.

*

* *



Trên đây là kết quả giám sát “Việc tổ chức, thực hiện chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”, xin kính trình Quốc hội.



Nơi nhận:

- Như trên;

- Thủ tướng Chính phủ;

- Văn phòng Trung ương Đảng;

- Văn phòng Quốc hội;

- Văn phòng Chính phủ;

- Các Bộ: LĐ-TB-XH, Tư pháp, Công an, Ngoại giao, Quốc phòng, NHNN, Ngân hàng Chính sách xã hội, Hiệp hội XKLĐ;

- TT. HĐND, UBND các tỉnh liên quan;

- Lưu: VT, TH, CVĐXH.


TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(đã ký)

Tòng Thị Phóng




1 Tính đến ngày 31/8/2010, các bộ, ngành được yêu cầu đều gửi báo cáo đúng theo định, có 60/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 96/167 doanh nghiệp gửi báo cáo. 10 tỉnh, thành phố Đoàn giám sát của UBTVQH trực tiếp giám sát (Hải Dương, Hà Nội, Phú Thọ, Thanh Hóa, Hà Giang, Yên Bái, Nghệ An, An Giang, Hồ Chí Minh và Tây Ninh), các tỉnh còn lại gửi báo cáo phân theo đối tượng gửi như sau: 34 tỉnh do Đoàn ĐBQH, 12 tỉnh do HĐND, 2 tỉnh do Ban VH-XH, 2 tỉnh do UBND gửi báo cáo (Gia Lai, Quảng Bình) và 03 tỉnh chưa gửi báo cáo (Lào Cai, Bình Phước, Đồng Tháp).

2 Các bộ, ngành báo cáo với Đoàn giám sát: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội.

3 Để đánh giá tình hình cũng như chuẩn bị cho việc soạn thảo, thẩm tra dự án Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thực hiện chương trình giám sát của Quốc hội, năm 2005 Ủy ban về các vấn đề xã hội đã có Báo cáo giám sát và Thuyết trình về “Nâng cao hiệu quả quản lý để phát huy thế mạnh của hoạt động xuất khẩu lao động” tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI.

4 Quyết định 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008 về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2008-2010; Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg ngày 6/7/2007 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia việc làm đến năm 2010; Quyết định số 103/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 về phê duyệt Đề án hỗ trợ thanh niên học nghề tạo việc làm giai đoạn 2008-2015; Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 về việc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg về “Phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh XKLĐ góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020”.

5 Điều 23, Điều 17 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

6 Nghệ An: 36.516; Thanh Hóa: 30.278; Bắc Giang: 21.836 và Hà Tĩnh: 21.088. Hà Nội: 12.880, Bắc Ninh: 10.013, Phú Thọ: 9.620, Thái Bình: 9.311, Hưng Yên: 9.495, Nam Định: 7.600, Quảng Bình: 7.253, Thái Nguyên: 6.275, Ninh Bình: 5.235 và Hà Nam: 5.234.

Tính theo tỷ lệ dân số, vùng Bắc Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng có số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài nhiều nhất (Hà Tĩnh có 1,72% dân số toàn tỉnh làm việc ở nước ngoài, Nghệ An tỷ lệ này là 1,25%, Bắc Giang 1,4%...), vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền núi phía Bắc số người đi lao động nước ngoài thấp nhất.



7 Theo báo cáo của UBND tỉnh Phú Thọ, từ năm 2007 đến tháng 6/2010, số tiền người lao động của tỉnh gửi về nước qua tài khoản ngân hàng khoảng 98 triệu USD, tương đương 1.863 tỷ đồng, bình quân mỗi năm khoảng 500 – 600 tỷ đồng.

8 Nhật Bản: tỷ lệ lao động tự ý bỏ việc làm giảm từ 30% xuống còn 2% (2010).

99 Theo kết quả chủ yếu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: “trong nhóm dân số từ 15 tuổi trở lên, có đến 86,7% không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong cả nước, số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp đến trên đại học chiếm một tỷ trọng rất thấp (13,3%), còn số người có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm một phần rất nhỏ (4,4%)”.

10 Theo báo cáo sơ bộ của các Bộ, ngành, ước tính số lao động bỏ trốn tại Malaysia khoảng 2.000 người, Đài Loan khoảng 11.000 người…

11 Số lao động về nước trước thời hạn từ tháng 7/2007 đến 30/6/2010 khoảng 23.000 người, trong đó do nguyên nhân chủ quan (sức khỏe, vi phạm kỷ luật, hợp đồng….) khoảng 6.450 người chiếm 28-30%. Theo báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội gửi Chính phủ, trong 10 ngày từ 13/4 đến 23/4/2010 đã xảy ra vụ việc gây rối trật tự giữa người lao động Việt Nam tại Các tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (UAE) và các cơ quan chức năng của Việt Nam đã phối hợp với cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam tại UAE để đưa trên 500 lao động về nước trước thời hạn.

12 1. Công ty cổ phần tiến bộ quốc tế (AIC); 2. Công ty cổ phần TRAENCO; 3. Công ty cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại (SONA); 4. Công ty TNHH một thành viên XNK Tổng hợp và chuyển giao công nghệ Việt Nam; 5. Công ty xuất khẩu lao động-Thương mại và Du lịch (SOVILACO); 6. Công ty cổ phần xuất khẩu lao động, thưong mại và du lịch (TTLC); 7. Tổng Công ty Phát triển phát thanh truyền hình và thông tin (EMICO); 8. Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực LOD; 9. Công ty cổ phần Simco Sông Đà (SIMCO SDA., JSC); 10. Công ty cổ phần XNK và Hợp tác đầu tư VILEXIM.

13 Theo báo cáo của Hiệp hội hiện nay có 136 thành viên.

14 Theo báo cáo của Bộ LĐ-TB-XH cho biết đã xử phạt 26 doanh nghiệp về các vi phạm này.

15 Theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH: 9 doanh nghiệp có 3 chi nhánh, 24 doanh nghiệp có 2 chi nhánh và 40 doanh nghiệp có 1 chi nhánh.

16 Qua giám sát và khảo sát của Đoàn, một số xã phản ánh 70-80% người lao động không được tuyển dụng trực tiếp bởi doanh nghiệp về tư vấn, tuyển dụng tại địa phương mà được tuyển dụng qua môi giới. Doanh nghiệp có hợp đồng cung ứng lao động ở thị trường có thu nhập cao ít khi về trực tiếp tuyển lao động tại địa phương.

17 Đoàn giám sát của UBTVQH gửi văn bản yêu cầu doanh nghiệp báo cáo tình hình thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhưng cũng chỉ có 96/167 doanh nghiệp báo cáo, chất lượng nhiều báo cáo quá kém, sơ sài, thể hiện việc không quản lí chặt chẽ được hoạt động này.

18 Theo báo cáo của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam tính từ năm 2003 cho đến thời điểm tháng 6/2010 tổng số lao động được vay vốn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là gần 82 nghìn người với tổng số vốn cho vay đạt xấp xỉ 1.700 tỷ đồng.

19 8 ngân hàng thương mại đã cho vay tổng số vốn là 1.202 tỷ (hộ gia đình chiếm 85,2%), nợ xấu chiếm 7,6%.

20 Nhật Bản: với hình thức phi lợi nhuận, người lao động không phải chi phí lúc đi, khi kết thúc hợp đồng được trợ cấp 600.000 Yên (tương đương khoảng 5.000 USD) để tái hòa nhập cộng đồng. Hàn Quốc: với hình thức phi lợi nhuận, người lao động đóng 700 USD chi phí khi đi, tỷ lệ lao động được tuyển chọn khoảng 85%.

21 4 Hiệp định song phương, 1 thỏa thuận và 8 biên bản ghi nhớ.

22 1 doanh nghiệp không đủ điều kiện hoạt động, 1 doanh nghiệp có nhiều vi phạm, 2 doanh nghiệp chấm dứt hoạt động do kém hiệu quả.

23 Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Ca ta, Libia và Cộng hòa Séc.

24 Theo Báo cáo của Bộ LĐ-TB-XH, 18 doanh nghiệp trúng thầu, nhận đầu và đầu tư ra nước ngoài đưa được 3.060 lao động, theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề là 125 lao động ở 5 quốc gia và khoảng 4.500 hợp đồng cá nhân.

25 Theo báo cáo của Chính phủ, hiện chỉ có khoảng 80 chuyên gia giáo dục làm việc tại Angola, 200 chuyên gia y tế và 65 chuyên gia nông nghiệp làm việc tại một số nước châu Phi trong khuôn khổ hợp tác 3 bên giữa Việt Nam - FAO và một số quốc gia Châu Phi.

26 Quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 15 về trường hợp doanh nghiệp dịch vụ bị thu hồi Giấy phép: “Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép, mà không đưa được người lao động đi làm việc ở nước ngoài”.

27 Nghị định của Chính phủ ngày 10/9/2007 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.


: content -> vankien -> Lists -> DanhSachVanKien -> Attachments
Attachments -> KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)
Attachments -> Đa dạng sinh họC Ở việt nam
Attachments -> PHẦn I các bộ, ngàNH, CƠ quan thuộc chính phủ trả LỜi cáC Ý kiếN, kiến nghị CỦa cử tri
Attachments -> CHÍnh phủ Số: 62/bc-cp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2008 BÁo cáO
Attachments -> BỘ giao thông vận tảI 1/ Cử tri tỉnh Đắk Lắc kiến nghị
Attachments -> QUỐc hội khóa XI uỷ ban về các vấn đề xã hội
Attachments -> QUỐc hội số: CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> 210/bc-btnmt cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010) TẬp hợP Ý kiếN, kiến nghị CỦa cử tri
Attachments -> BỘ NÔng nghiệp và phát triển nông thôn số: 1588




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương