TRƯỜng đẠi học nha trang viện khoa học và CÔng nghệ khai thác thủy sảN


Nghề cá các nước đang phát triển ở Châu Phi



tải về 1.36 Mb.
trang10/20
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích1.36 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   20

3.4. Nghề cá các nước đang phát triển ở Châu Phi

3.4.1. Châu Phi và tình hình hợp tác nghề cá của các nước trong khu vực


Châu Phi là một trong năm lục địa lớn của thế giới, tiếp giáp với Châu Âu và ngăn cách với các châu lục khác qua Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương rộng lớn. Đây là châu lục với vùng biển giàu có, nhiều tài nguyên, đặc biệt là dầu khí, khoáng sản và là nơi tập trung một số lượng và trữ lượng lớn các loài cá của đại dương. Vì vậy, từ lâu Châu Phi không chỉ được biết tới là lục địa của sa mạc và rừng rậm mà còn nổi tiếng với các giếng dầu lớn ở Nam Phi, Senegal, khu vực mái vòm Flora, vùng vịnh Ba Tư,… với các đặc sản của biển như ngọc trai, bào ngư, tôm, cá, trong đó có rất nhiều loài cá đẹp và quý hiếm cũng như nhiều loài cá có giá trị kinh tế cao như cá trích, cá thu, cá ngựa, cá ngừ, cá hồng, … những loài cá rất được ưa chuộng trên thế giới và chiếm tỷ lệ cao trong tổng lượng thị phần đánh bắt và tiêu thụ cá ở thị trường Châu Âu.

Mặc dù có tiềm năng lớn về tài nguyên hải sản nhưng với trình độ kỹ thuật yếu kém, chủ yếu sử dụng phương tiện thô sơ, đánh bắt gần bờ và với các biện pháp lạc hậu, đa số các quốc gia Châu Phi vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của mình để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của nước mình. Mặt khác, theo cách xác định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Công ước Luật Biển 1982 thì giữa các nước Châu Phi liền kề tồn tại nhiều vùng chồng lấn biển cần phân định.

Tuy nhiên, việc phân định trong hoàn cảnh tranh chấp không phải dễ dàng, cần có sự thương lượng và nhượng bộ của cả hai bên. Trong khi đó, nhu cầu khai thác tài nguyên lại là nhu cầu bức thiết đối với các quốc gia này. Vì vậy, một giải pháp khả thi được lựa chọn để vừa khắc phục những yếu kém về mặt kỹ thuật, vừa đáp ứng nhu cầu khai thác tài nguyên là hợp tác với các quốc gia có nền kinh tế xã hội phát triển hơn hoặc những quốc gia có tranh chấp nơi vùng biển chồng lấn: giải pháp hợp tác khai thác chung. Biện pháp hoà bình này đã được áp dụng khá phổ biến ở các quốc gia châu Phi ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX và tiếp tục được đẩy mạnh hơn nữa trong những năm đầu của thế kỷ XXI.

Theo thống kê, đến năm 2006, ở châu Phi đã có hàng trăm hiệp định hợp tác nghề cá song phương và đa phương, tuy nhiên các hiệp định này được ký kết dưới nhiều hình thức khác nhau với nội dung hợp tác rất đa dạng, phong phú, trong đó có thể có một số loại hình hợp tác chủ yếu sau:

- Hiệp định nhượng quyền:

Các dạng hiệp định nhượng quyền đã trở thành một thực tiễn từ cuối những năm 60 khi các quốc gia dần dần tuyên bố thiết lập một vùng tài phán đánh cá. Đây cũng là mô hình khá phổ biến ở các nước ven biển châu Phi trong mối quan hệ với các nước châu Âu. Mô hình này có hai hình thức chủ yếu có thể tạm gọi là nhượng quyền trả phí và nhượng quyền qua lại.

+ Dạng thứ nhất (nhượng quyền trả phí) là các hiệp định theo đó một nước thành viên của một hiệp định cho phép tàu đánh cá của một nước thành viên khác vào đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của mình với điều kiện là phải thanh toán cho nước có vùng đặc quyền kinh tế một khoản tiền nhất định. Tàu nước ngoài khi vào đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia thành viên phải tuân thủ pháp luật của quốc gia đó. Điển hình của loại hình hợp tác này ở châu Phi là các Hiệp định giữa từng quốc gia ven biển châu Phi với Cộng đồng chung châu Âu như Hiệp định giữa EU và Angola năm 2002, Hiệp định giữa EU và Guinea và rất nhiều quốc gia Châu Phi khác. Kèm theo các Hiệp định này thông thường là rất nhiều Nghị định thư bổ sung để điều chỉnh số lượng tàu đánh cá, khối lượng cá cho phép và các quy định về phí khác theo từng giai đoạn 1 hoặc 2 năm.

+ Dạng hiệp định thứ hai (nhượng quyền qua lại) là các hiệp định theo đó các nước ven biển Châu Phi cho phép công dân và tàu đánh cá của nước thành viên Hiệp định vào đánh bắt ở trong vùng đặc quyền kinh tế của nhau trên cơ sở có đi có lại. Công dân và tàu đánh cá của một nước tiến hành đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của một nước thành viên khác phải tuân thủ những luật lệ của nước đó. Đây cũng là hình thức được khá nhiều nước Châu Phi áp dụng.

Thông thường các Hiệp định này là các Hiệp định song phương giữa hai nước Châu Phi hoặc một nước châu Phi và một nước Châu Âu có vùng biển đối diện hoặc tiếp liền nhau. Ví dụ điển hình cho loại hiệp định này ở khu vực Châu Phi là Hiệp định giữa Estonia và Thụy Điển năm 1993, Estonia và Phần Lan năm 1994, Estonia và Faroe Islands năm 1992, Giambia và Senegal năm 1998,…

Sau khi Công ước Luật Biển 1982 được ký kết, việc ký kết hiệp định nhượng quyền, đặc biệt là dạng hiệp định cho phép đánh cá trên cơ sở nộp thuế trở thành một thực tiễn phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới. Đặc biệt loại hiệp định này cũng rất phù hợp với các nước Châu Phi khi có nguồn tài nguyên cá phong phú mà khả năng khai thác yếu kém sẽ dẫn đến lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này.

Có thể nói, hiệp định nhượng quyền là một giải pháp hay, vừa bảo đảm được các quyền chủ quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia ven biển, vừa đáp ứng được nhu cầu của những nước đánh cá tầm xa tiếp tục khai thác số cá dư ở khu vực các nước ven biển.

- Hiệp định hợp tác nghề cá về mặt khoa học kỹ thuật:

Khoa học kỹ thuật nghề cá là một trong những yếu tố quan trọng để vừa đảm bảo khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên cá, vừa bảo vệ được môi trường biển và bảo tồn tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái biển. Với trình độ non yếu, phương tiện kỹ thuật, phương pháp lạc hậu thì mô hình hợp tác này rất hữu ích và được nhiều nước áp dụng. Các hiệp định dưới hình thức này thường là hiệp định giữa các quốc gia châu Phi với các quốc gia Châu Âu có trình độ kinh tế, kỹ thuật phát triển. Tuy nhiên, mô hình này cũng tồn tại hai dạng là quốc gia này sẽ thực hiện các biện pháp hỗ trợ về kinh tế, kỹ thuật cho quốc gia kia mà không yêu cầu bất cứ sự trao đổi nào. Tuy nhiên các hiệp định theo cách thức này không nhiều.

Dạng thứ hai là một bên sẽ hỗ trợ về phương tiện kỹ thuật, đào tạo, nghiên cứu cho bên kia, đổi lại nước thành viên kia sẽ cho các tàu đánh cá của nước đối tác được khai thác chung tại vùng biển thuộc chủ quyền nước mình. Đây là hình thức được áp dụng khá phổ biến giữa các nước Châu Phi với Xô Viết (nay là Liên bang Nga) trong đó hoạt động khai thác chung sẽ được tiến hành tại vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của các nước Châu Phi. Ở đây có tồn tại mô hình khai thác chung, vì vậy trong phạm vi của chuyên đề này ta cũng sẽ phân tích một số Hiệp định theo hình thức này, điển hình là Hiệp định giữa Xô Viết và Angola năm 1976, giữa Chính phủ Xô Viết và Chính phủ Guinea năm 1981.

- Các hiệp định có quy định thiết lập vùng đánh cá chung

Đây là hình thức hợp tác mà các thành viên sẽ ký kết một thoả thuận trong đó thiết lập một vùng đánh cá chung, tại đó cả hai bên cùng tiến hành thăm dò, khai thác, quản lý các hoạt động liên quan đến việc thăm dò, khai thác phù hợp với luật pháp quốc tế và theo các điều kiện, cách thức nhất định do hai bên thoả thuận. Hình thức này hiện nay được gọi là khai thác chung (Joint development).

Trên thế giới hiện nay có khoảng trên dưới 40 hiệp định khai thác chung cả dầu khí và nghề cá, trong đó khai thác chung dầu khí là hình thức phổ biến hơn. Tuy nhiên hiệp định khai thác chung nghề cá ở Châu Phi có số lượng không nhiều, chỉ có khai thác chung nghề cá trong phạm vi Hiệp định khai thác chung hỗn hợp giữa Senegal và Guinea Bissau năm 1993, các hoạt động khai thác chung nghề cá còn lại chủ yếu nằm trong các hiệp định về hỗ trợ kỹ thuật như đã nêu ở phần trên.

3.4.2. Nội dung một số hiệp định khai thác chung nghề cá Châu Phi


Với tính chất là một điều ước quốc tế xác lập quan hệ hợp tác, cùng thăm dò, khai thác quản lý và sử dụng các nguồn tài nguyên biển, thỏa thuận khai thác chung được xây dựng một cách linh hoạt theo ý chí của các quốc gia, tuân theo các nguyên tắc của luật quốc tế. Về cả lý luận và thực tiễn, các loại hình khai thác chung là vô cùng đa dạng bởi chúng còn tuỳ thuộc vào đặc điểm địa lý, tài nguyên thiên nhiên của các vùng biển, tính chất phức tạp của các tranh chấp, điều kiện kinh tế, xã hội và mối quan hệ khác nhau của các quốc gia tham gia khai thác chung,…

Theo quan niệm truyền thống, thì khai thác chung sẽ được tiến hành ở vùng biển chồng lấn giữa hai quốc gia có vùng biển tiếp liền hay đối diện để có một biện pháp tạm thời giải quyết các bất đồng tranh chấp và phân định.

Tuy nhiên, trong thực tiễn ngày nay, khai thác chung cần được hiểu rộng hơn, không chỉ là khai thác chung nơi vùng biển chồng lấn, nơi còn có sự tranh chấp về đường biên giới, mà còn có thể được tiến hành cả ở những vùng biển chỉ thuộc thẩm quyền tài phán của một nước nhưng do nhu cầu, khả năng, và mối quan hệ hợp tác giữa các nước mà các nước đó vẫn có thể thoả thuận xác lập vùng khai thác chung.

3.4.3. Hiệp định giữa Chính phủ Liên Xô (cũ) và Chính phủ Angola liên quan đến việc hợp tác các ngư trường cá năm 1976


Angola là quốc gia ven biển nằm ở Tây Nam Châu Phi. Với bờ biển trải dài 1.600 km giáp với biển Đại Tây Dương và rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ, nơi tập trung trữ lượng lớn các nguồn tài nguyên biển phong phú như dầu khí, khoáng sản, hải sản,… Angola cũng là quốc gia có tiềm năng kinh tế biển vô cùng lớn.

Tuy nhiên, vào những năm 70 của thế kỷ XX, Angola vẫn còn là quốc gia có nền kinh tế kém phát triển so với các quốc gia trên thế giới. Trong lĩnh vực ngư nghiệp nói riêng, người dân Angola có truyền thống đánh bắt cá ở các khu vực biển Đại Tây Dương, nhưng đến nay, đánh bắt thô sơ, nhỏ lẻ vẫn là đặc điểm nổi bật của nghề cá ở quốc gia này. Trong khi đó Liên Xô từng là quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới, lại có nhu cầu khai thác và tiêu thụ thuỷ hải sản khá lớn.

Điều này lý giải nguyên nhân tại sao hai nước không có chung đường biên giới biển, không tồn tại tranh chấp, không có các vùng biển chồng lấn lại đi đến ký kết một hiệp định hợp tác nghề cá. Hiệp định hợp tác các ngư trường cá giữa Angola và Liên Xô năm 1976 là kết quả của mối quan hệ hợp tác giữa hai nước đồng thời cũng xuất phát từ nhu cầu của hai quốc gia để phục vụ cho các lợi ích của quốc gia mình. Hiệp định được ký kết vào ngày 26 tháng 5 năm 1976 với 14 điều khoản.

Đây là một Hiệp định hợp tác nghề cá theo nghĩa rộng thường thấy trong mối quan hệ nghề cá giữa Liên Xô và các nước Châu Phi mà không hoàn toàn tập trung vào khai thác chung như trong một số thoả thuận khai thác chung nghề cá điển hình trên thế giới, nhưng ở đây vẫn có thể chọn lọc một số yếu tố của khai thác chung giữa hai nước và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tương lai. Hiệp định được chia thành 4 phần, 14 điều quy định những nội dung cơ bản liên quan đến hoạt động khai thác chung nghề cá và hỗ trợ kỹ thuật giữa hai quốc gia.

Điều 5 của Hiệp định đã xác định một vùng khai thác chung là khu vực khá rộng lớn bao gồm hầu như toàn bộ các vùng biển của Angola ở bờ Đại Tây Dương. Đây cũng là vùng biển tập trung nhiều loài cá và nguồn hải sản quý như cá ngừ, cá thu, các loài tôm và nhiều loài hải sản khác. Vì vậy khai thác chung ở khu vực này theo Hiệp định sẽ có tiềm năng rất lớn. Tại vùng này, phía Liên Xô có trách nhiệm trợ giúp Angola về khoa học, kỹ thuật, đào tạo, nghiên cứu và thăm dò tàinguyên cá. Đáp lại, Angola sẽ cho phép các tàu đánh cá của Liên-Xô được cùng khai thác cá với tàu đánh cá của Angola trong Vùng biển Angola, neo đậu và sử dụng cảng của Angola với số lượng và các điều kiện thích hợp do hai bên thoả thuận.

Để quản lý vùng khai thác chung và các hoạt động đánh bắt, nghiên cứu khoa học, hỗ trợ kỹ thuật ở khu vực này, một “Uỷ ban hỗn hợp” (Joint Commision) bao gồm đại diện của các bên được thành lập. Đồng thời, hai bên cũng đã đề ra ý tưởng về việc thành lập một công ty khai thác chung Liên Xô - Angola nhưng lại không được quy định cụ thể. Tuy nhiên, công ty này, theo đề xuất của hai bên sẽ là một công ty liên hợp đảm nhận cả việc đánh bắt, chế biến và bán các sản phẩm từ việc khai thác chung của hai quốc gia.

Hai bên cũng có quy định về vấn đề tài chính nhưng chỉ được đề cập rất đơn giản, theo đó “các lợi nhuận thu được từ việc bán các sản phẩm từ cá sẽ được thanh toán cho các bên có liên quan trong việc tiến hành đánh cá chung” (Điều 7). Đây là một điều khoản tài chính hết sức sơ sài, không cụ thể, không thể hiện được quyền của mỗi bên. Đồng thời điều khoản này không chỉ rõ “các bên có liên quan trong đánh cá chung” là những bên nào sẽ gây phức tạp trong quá trình thực thi hiệp định trong trường hợp có sự tham gia của các nhà thầu, công ty khai thác hoặc quốc gia thứ ba,… Đây là một nhược điểm khá lớn của Hiệp định.

Theo thoả thuận của hai bên, Hiệp định sẽ có hiệu lực từ ngày 26/5/1976, kéo dài trong 3 năm và vẫn sẽ tiếp tục có hiệu lực trừ khi một bên đưa ra thông báo trước 6 tháng về việc không tiếp tục thực hiện.

Đặc thù của thoả thuận giữa Liên Xô - Angola và cũng là đặc thù của các hiệp định hợp tác hỗ trợ kỹ thuật kết hợp với khai thác chung là các điều khoản về hỗ trợ kỹ thuật thường rất chi tiết.

Ở Hiệp định này, Liên Xô không chỉ hỗ trợ về việc nghiên cứu khoa học tại các vùng biển của Angola mà còn hỗ trợ về nhân lực và đào tạo cho Angola bằng việc cử 5 nhà khoa học Xô Viết làm việc trên các tàu nghiên cứu thuỷ sản và 8 nhà khoa học làm việc với chuyên gia Angola để xây dựng các biện pháp khả thi về kinh tế, kỹ thuật trong việc khai thác các khu vực cá; chi phí cho việc đào tạo chuyên gia Angola và cung cấp sự hỗ trợ về kỹ thuật cho việc xây dựng lại hoặc phục hồi các xí nghiệp chế biến cá trên bờ và cả các tàu đánh cá đang trong quá trình bảo dưỡng,…Sự hỗ trợ như vậy của Liên Xô có ý nghĩa rất lớn đối với nghiên cứu khoa học và kinh tế thuỷ sản của Angola, đồng thời cũng thể hiện mối quan hệ tốt đẹp, tinh thần hữu nghị giữa hai nước.

Mặc dù đã đạt những thành tựu hợp tác đáng kể, nhưng hiệp định này vẫn còn chứa đựng những điểm bất cập như: nội dung còn chung chung, không chi tiết, thiếu các điều khoản về luật áp dụng và giải quyết tranh chấp, quy định về việc quản lý chưa thực sự chặt chẽ. Những thiếu sót này có thể sẽ gây ra nhiều rắc rối, phức tạp cho các bên trong quá trình thực thi Hiệp định.


: Portals
Portals -> Phan Chau Trinh High School one period test no 2 Name: English : 11- time : 45 minutes Class: 11/ Code: 211 Chọn từ hoặc cụm từ thích hợp A, B, C, d để điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau
Portals -> PHẦn I: thông tin cơ BẢn về ĐẠi hàn dân quốc và quan hệ việt nam-hàn quốc I- các vấN ĐỀ chung
Portals -> Năng suất lao động trong nông nghiệp: Vấn đề và giải pháp Giới thiệu
Portals -> LẤy ngưỜi học làm trung tâM
Portals -> BÀi tậP Ôn lưu huỳnh hợp chất lưu huỳnh khí sunfurơ so
Portals -> TỜ trình về việc ban hành mức thu phí tham gia đấu giá quyền sử dụng đất
Portals -> CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Portals -> GIẤY Ủy quyền tham dự Đại hội đồng Cổ đông thường niên năm 2016


1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   20


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương