Lê Thị Phương XÂy dựng cơ SỞ DỮ liệu sinh học phân tử trong nhận dạng các loàI ĐỘng vật hoang dã phục vụ thực thi pháp luật và nghiên cứU


CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Đa dạng sinh học ở Việt Nam



tải về 1.03 Mb.
trang3/13
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích1.03 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Đa dạng sinh học ở Việt Nam

1.1.1.Tiềm năng đa dạng sinh học ở Việt Nam


Việt Nam có diện tích tự nhiên là 329.240 km2 trải dài gần 15 vĩ độ (từ 8030`- 22022` vĩ độ Bắc) và hơn 7 kinh độ (từ 102010` - 109020` kinh độ Đông) từ Trung Quốc ở phía Bắc đến vịnh Thái Lan ở phía Nam. Bảy mươi lăm phần trăm diện tích là đồi núi chạy xuống vùng duyên hải hẹp và có hai vùng đồng bằng chính là đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam và đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc. Việt Nam có bờ biển dài với hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác dọc bờ biển và có một số quần đảo ngoài khơi là Quần đảo Trường Sa ở phía Nam và quần đảo Hoàng Sa ở phía Bắc biển Đông. Ngoài ra, ở miền Nam còn có hòn đảo lớn gần bờ đó là đảo Phú Quốc và Côn Đảo nằm cách bờ biển phía Nam khoảng 100 Km (Chính phủ Việt Nam, 1994).

Việt Nam bị ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa mưa điển hình ở miền Nam và thời tiết ôn hoà hơn ở miền Bắc. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của vùng Ấn Độ, Nam Trung Hoa và Malaysia. Ngoài ra, với nhiều kiểu sinh cảnh như rừng nhiệt đới thường xanh, rừng trên núi đá vôi, đầm lầy, sông suối, rạn san hô, đây là một vùng có mức độ đa dạng sinh học cao và là nơi sinh sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú trên thế giới. [17]. Một số khu vực ở Việt Nam được công nhận là những điểm ưu tiên bảo tồn toàn cầu với tính đặc hữu cao.[1]

Việt Nam được Quỹ Bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) công nhận là một trong 5 vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận có 6 trung tâm đa dạng về thực vật.[17]

Việt Nam còn là một trong 8 "trung tâm giống gốc" của nhiều loại cây trồng, vật nuôi, trong đó có hàng chục giống gia súc và gia cầm. Đặc biệt các nguồn lúa và khoai, những loài được coi là có nguồn gốc từ Việt Nam, đang là cơ sở cho việc cải tiến các giống lúa và cây lương thực trên thế giới.[17]

Hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú, bao gồm 11.458 loài động vật, hơn 21.000 loài thực vật và khoảng 3.000 loài vi sinh vật, trong đó có rất nhiều loài được sử dụng để cung cấp vật liệu di truyền. [17]

Trong 30 năm qua, nhiều loài động thực vật được bổ sung vào danh sách các loài của Việt Nam như 5 loài thú mới là sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, chà vá chân xám và thỏ vằn Trường Sơn, 3 loài chim mới là khướu vằn đầu đen, khướu Ngọc Linh và khướu Kon Ka Kinh, khoảng 420 loài cá biển và 7 loài thú biển. Nhiều loài mới khác thuộc các lớp bò sát, lưỡng cư và động vật không xương sống cũng đã được mô tả. Về thực vật, tính từ năm 1993 đến năm 2002, các nhà khoa học đã ghi nhận thêm 2 họ, 19 chi và trên 70 loài mới. Tỷ lệ phát hiện loài mới đặc biệt cao ở họ Lan. [17]



*Sự phong phú về loài:

Thuật ngữ sự phong phú về loài được dùng để chỉ đến số lượng loài được ghi nhận ở một vùng hay một khu vực địa lý nhất định, chẳng hạn như một diện tích lấy mẫu, một khu bảo tồn thiên nhiên, một nước, hoặc một lục địa. So sánh những số lượng này giữa các quốc gia sẽ dễ bị nhầm lẫn do sự khác nhau về diện tích của các quốc gia và sự mở rộng các cuộc khảo sát. Nếu xét về mặt diện tích, Việt Nam là một quốc gia có sự phong phú về loài cao. Vào thời điểm bước sang thế kỷ 21, Việt Nam được xếp vào một trong 25 quốc gia trên thế giới đứng đầu về số lượng loài thực vật, chim, và thú trên một đơn vị diện tích. Giá trị về sự phong phú loài thường thấp hơn số lượng thực của những loài hiện có, bởi vì gần như không thể nào thu thập và định loại tất cả các sinh vật trong một vùng có diện tích lớn. [3]

Trên thực tế, việc chưa đánh giá đầy đủ số lượng loài này là đặc thù cho những quốc gia như Việt Nam. Những đợt điều tra trong nước vẫn tiếp tục phát hiện thêm những sinh vật mới để đưa vào danh các loài đã biết. Bên cạnh nhóm nấm và động vật không xương sống, thực vật của Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều nhất do sự thống kê không đầy đủ. Các nhà thực vật ước tính rằng có khoảng 13.000 loài thực vật có mạch phân bố tại Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay mới chỉ có gần 10.000 được ghi nhận. Số lượng các nghiên cứu tăng nhanh trong những năm gần đây khiến cho ước tính về đa dạng sinh học thay đổi liên tục. Từ năm 1999 đến năm 2004, số lượng các loài lưỡng cư phân bố tại Việt Nam tăng từ 100 đến 157, tăng 57% về sự phong phú loài.[3]. Số lượng những loài này tiếp tục tăng mạnh trong những năm gần đây do có nhiều nghiên cứu về phân loại tập trung vào nhóm lưỡng cư.[18]

Việt Nam có mức độ đa dạng cao trong nhóm các nước có sự phong phú về loài đạt mức cao nhất châu Á. Khu hệ chim của Việt Nam gồm có gần hai phần ba các loài khướu của Đông Nam Á thuộc hai nhóm chính: 67% (26 trong số 39) là khướu (phân họ Garrulacinae) và 64% (76 trong số 119) là phân tộc khướu (Timaliini). Rùa nước ngọt và rùa cạn có mức độ đa dạng cao tập trung ở lục địa châu Á. Cho đến nay, 89 loài bản địa đã được liệt kê tại châu lục. Trong số này, Việt Nam có 29 loài và được xếp là một trong 5 nước có sự phong phú về loài rùa cao nhất. [3]

Việt Nam luôn được xếp vào nhóm hai mươi quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Đối với một số nhóm sinh vật, ví dụ như linh trưởng, Việt Nam đứng trong năm quốc gia hàng đầu về sự đa dạng. Chỉ tính riêng trên cạn đã có hơn 13.700 loài thực vật (Bộ TNMT et al. 2005), khoảng 870 loài cá có phân bố thường xuyên (Bộ TNMT et al. 2005), 310 loài thú (Bộ TNMT et al. 2005), 822 loài chim (BirdLife International 2006), 286 loài bò sát (Bộ TNMT et al.2005) và 145 loài lưỡng cư (IUCN et al. 2006) được xác định và mô tả tại Việt Nam. Môi trường biển cũng chứa đựng tính đa dạng sinh học không kém với hơn 11.000 loài sinh vật biển đã được ghi nhận (Bộ TNMT et al. 2005). Việt Nam cũng là nơi mà sự đa dạng sinh học vẫn chưa được khám phá đầy đủ - rất nhiều loài thực vật, bò sát, lưỡng cư, và thậm chí có bốn loài thú lớn và ba loài chim mới được mô tả cho khoa học trong mười lăm năm qua (Sterling et al. 2006).

Giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao nhất của Việt Nam chính là các loài đặc hữu của quốc gia- những loài không được ghi nhận ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Các loài phân bố hẹp này cũng chính là các loài bị đe dọa nặng nề nhất. Khoảng 10% các loài thực vật của Việt Nam được cho là các loài đặc hữu (UNEP 2001), tám loài chim đặc hữu (trong đó sáu loài là loài bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu), năm loài thú và một loài bò sát đặc hữu là loài bị đe dọa toàn cầu, cuối cùng là 39 loài lưỡng cư đặc hữu trong đó có bốn loài bị đe dọa toàn cầu (IUCN et al. 2006).


1.1.2.Sự suy giảm đa dạng sinh học ở VN hiện nay


Hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học. Trong hội nghị môi trường toàn quốc đang diễn ra ở Hà Nội, các nhà khoa học cho rằng sự suy thoái đa dạng sinh học được thể hiện ở sự suy giảm của diện tích rừng có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, số lượng cá thể của các loài sinh vật biển, các loài hoang dã, các nguồn gen hoang dã...

*Diện tích rừng tăng lên nhưng chất lượng rừng lại suy giảm

Cách  đây một thế kỷ, Việt Nam còn rất nhiều rừng giàu chất lượng cao, che phủ gần như cả nước. Năm 1943,  độ che phủ rừng giảm xuống chỉ còn 14,3 triệu hecta, hoặc 43% diện tích lãnh thổ. Kể từ đó, rừng không ngừng suy giảm với một tốc  độ nhanh chóng,  đặc biệt là trong những năm chiến tranh và giai  đoạn 1976 – 1985. Chính phủ  ước tính tới năm 1990, độ che phủ rừng đã giảm xuống còn 10,88 triệu hecta, hoặc 28,2 %. Từ năm 1993, nhờ có nhiều chính sách đúng đắn với sự nỗ lực của toàn dân, việc thực hiện các chương trình quốc gia lớn như 327, 556 và 661 đã ngăn chặn nạn suy thoái và phục hồi dần diện tích rừng. Tính đến năm 2006, tổng diện tích rừng đã tăng mạnh, độ phủ rừng đạt 38.2%, tăng 10% so với mức năm 1990, cơ cấu rừng đã hợp lý hơn trước (2 triệu ha rừng đặc dụng, 5 triệu ha rừng phòng hộ và 8 triệu ha rừng sản xuất).[4]



Bảng 1: Biến động diện tích và độ che phủ của rừng Việt Nam (giai đoạn 1990 - 5/2005)

Năm

 


Diện tích rừng (1000 ha)

Độ che phủ

(%)

Ha/đầu người

Rừng tự nhiên

Rừng trồng

Tổng cộng

1990

8.430

745

9.175

27,8

0,14

1995

8.252

1.050

9.302

28,2

0,12

2000

9.444,2

1.491

10.915

33,2

0,14

2002

9.865

1. 919,6

11.785

35,8

0,14

2003

10.005

2.090

12.095

36,1

0,14

2004

10.088.3

2.218,6

12.306,9

36,7

0,15

2006

10.177,7

2.486,2

12.663,9

38,2

0,15

(Nguồn: tổng hợp từ Cục Kiểm lâm, 2004;  State of World's Forest, FAO, ROME, 2001. Báo cáo môi trường quốc gia, 2007. )

Như có thể nhìn thấy ở bảng trên, trong vòng 15 năm (từ 1990- 2005) tổng diện tích rừng của Việt Nam đã tăng nhẹ từ 9.175 nghìn ha lên 12.663 nghìn ha, độ che phủ rừng tăng từ 27,8% lên 38,2%.



* Các hệ sinh thái bị tác động nghiêm trọng

- Diện tích rừng tự nhiên có tính ĐDSH cao đang bị thu hẹp

Hơn hai phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo, rừng trồng hoặc rừng  đang phục hồi, trong khi đó rừng giàu và rừng kín chỉ chiếm 3,4% (năm 2000) và 4,6% (năm 2004) tổng diện tích rừng. Rừng nguyên sinh chỉ còn khoảng 0,57 triệu ha phân bố rải rác ở một số khu vực như Tây Nguyên, Tây Bắc. Rất ít cơ hội phục hồi hoàn toàn loại rừng giàu vì các khu rừng này đã bị chia cắt và cô lập thành những mảnh nhỏ. Theo thống kê, 62% tổng diện tích rừng ngập mặn trên toàn quốc hiện nay là rừng mới trồng, thuần loại, chất lượng rừng kém cả về kích cỡ, chiều cao cây và đa dạng thành phần loài. Những cánh rừng ngập mặn nguyên sinh hầu như không còn. Tổng diện tích rừng ngập mặn của cả nước hiện chỉ còn khoảng 155.290 ha, giảm 100.000 ha so với trước năm 1990 và vẫn tiếp tục giảm nhanh. Các số liệu thống kê cho thấy, tốc độ mất rừng ngập mặn ở nước ta là rất cao, khoảng 4.400 ha/năm. Những vùng có nhiều rừng nhất, đồng thời cũng là những vùng rừng giàu trữ lượng và có chất lượng cao nhất ở Việt Nam như Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ vẫn tiếp tục suy giảm, cấu trúc và cơ cấu rừng bị phá vỡ. Các vùng rừng bị chia cắt và bị tác động mạnh là mối đe dọa lớn đối với các cấu thành đa dạng sinh học của rừng bao gồm cả các loài động vật phụ thuộc vào rừng, và là nguyên nhân chính làm suy giảm dịch vụ sinh thái và hàng hoá mà hệ sinh thái rừng cung cấp.



- Hệ sinh thái nước ngọt nội địa bị suy thoái

Các hệ sinh thái sông, hồ, đầm phá cũng đang bị khai thác quá mức, bị đe dọa nặng nề do các dự án phát triển hạ tầng lớn như ngăn đập phục vụ nhu cầu thủy lợi và thủy điện. Điều đó dẫn đến mất môi trường sống của nhiều loài thủy sinh và làm suy giảm chức năng sinh thái của đầm phá. Các vùng đầm phá bị thay đổi dẫn đến mất chức năng điều tiết nước đã gây nhiễm mặn các con sông làm ảnh hưởng tới đời sống của người dân.



- Hệ sinh thái biển bị suy thoái nghiêm trọng

Hầu hết các hệ sinh thái biển của Việt Nam đều đang bị suy thoái một cách nghiêm trọng do bị khai thác quá mức, bị đe dọa nặng nề bởi ô nhiễm chất thải, lắng đọng trầm tích và ô nhiễm dầu tràn. Môi trường biển bị ô nhiễm nặng bởi chất thải từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, và chất thải sinh hoạt. Chất lượng trầm tích đáy biển, nơi cư trú của nhiều loài sinh vật đáy, bị ô nhiễm quá mức theo quy định của hầu hết các chuẩn quốc tế.



*Số loài động thực vật bị đe dọa ngày một tăng

Nhiều loài động vật, thực vật hoang dã của Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng, ông Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội động vật học Việt Nam, cảnh báo. Theo Sách Đỏ Việt Nam 2007, tổng số các loại động-thực vật hoang dã trong thiên nhiên đang bị de dọa hiện nay là 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật), tăng 161 loài so với thời điểm năm 1992. Trong Sách Đỏ Việt Nam, phần động vật (1992), mức độ bị đe dọa của các loài chỉ mới dừng lại ở hạng “nguy cấp”, thì đến thời điểm này đã có tới 9 loài động vật được xem đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên tại Việt Nam, cụ thể là: Tê giác 2 sừng (Dicerorhynus sumatrensis), Bò xám (Bos sauveli), Heo vòi (Tapirus indicus), Cầy rái cá (Cynogale lowei), cá Chép gốc (Procypris merus), cá Chình Nhật (Angilla japonica), cá Lợ thân thấp(Cyprinus multitaeniata), Hươu sao (Cervus nippon), cá Sấu hoa cà (Crocodylus porosus). Trong hệ thực vật, một số loài Lan hài Việt Nam đã tuyệt chủng ngoài thiên nhiên. Số lượng các loài thuỷ sinh vật, đặc biệt các loài tôm, cá có giá trị kinh tế bị giảm sút nhanh chóng. Số lượng cá thể các loài cá nước ngọt quý hiếm, có giá trị kinh tế, các loài có tập tính di cư bị giảm sút.[4]



Trong phiên bản tương lai của Sách đỏ Việt Nam, danh mục các loài tuyệt chủng chắc chắn sẽ tăng lên với ít nhất một cái tên mới. Đó là tê giác một sừng, loài động vật đã chính thức được xác nhận tuyệt chủng ở Việt Nam mới đây.[8]



Hình 1: Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatrensis ), còn gọi là tê giác Sumatra, từng phân bố ở tỉnh Khánh Hòa được xác định là đã tuyệt chủng tại Việt Nam. (Nguồn: Baodatviet.vn)




Hình 2: Loài bò xám ( Bos sauveli), từng sinh sống tại Tây Nguyên đã bị tuyệt chủng tại Việt Nam. (Nguồn: Baodatviet.vn) 



Hình 3: Lợn vòi (Tapirus indicus) ở Tây Nguyên bị coi là đã tuyệt chủng. (Nguồn: Baodatviet.vn)




Hình 4: Cầy rái cá(Cynongale lowei) là từng được phát hiện tại hồ Ba Bể (Bắc Kạn) nhưng trong nhiều năm qua đã không còn thấy xuất hiện. (Nguồn: Baodatviet.vn)



Hình 5: Hà Nội (khu vực sông Hồng chảy qua Thanh Trì) từng là địa bàn sinh sống của cá chình Nhật (Anguilla japonica). Loài này đã bị tuyệt chủng do khai thác lam thức ăn. (Nguồn: Baodatviet.vn)




Hình 6: Cá chép gốc (Procypris merus) từng sống ở sông Kỳ Cùng tỉnh Lạng Sơn nay cũng đã bị tuyệt chủng. (Nguồn: Baodatviet.vn)



Hình 7: Cá lợ thân thấp (Cyprinus multitaentiata) từng sống tại các sông suối miền núi phía Bắc. (Nguồn: Baodatviet.vn)




Hình 8: Hươu sao (Cervus nippon) được coi là đã tuyệt chủng ngoài môi trường tự nhiên dù trước đây từng phân bố tại nhiều nơi từ Bắc vào Nam. (Nguồn: Baodatviet.vn)



Hình 9: Cá sấu hoa cà (Crocodylus porosus) cũng được cho là đã tuyệt chủng ngoài thiên nhiên. (Nguồn: Baodatviet.vn)




Hình 10: Loài tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) đã chính thức tuyệt chủng ở Việt Nam. (Nguồn: Baodatviet.vn)

Bảng 2: Số lượng các loài của Việt Nam bị đe dọa toàn cầu (chỉ tính các loài CR, VU và EN) và cấp quốc gia(2004)

Loài

Năm 1992, 199




IUCN, 1996, 1998

Sách đỏ 1992, 1996

IUCN

Sách đỏ

Thú

38

78

41

94

Chim

47

83

41

76

Bò sát

12

43

24

39

Lưỡng cư

1

11

15

14



3

75

23

89

ĐVKXS

0

75

0

105

Thực vật bậc cao

125

337

145

605

Nấm




7




16

Tảo




12




18

Tổng

226

721

289

1065

[Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2005, phần Đa dạng sinh học]

Từ bảng chúng ta có thể thấy rằng: từ 1992 – 2004 số loài thực vật và động vật ở Việt Nam nằm trong danh mục của IUCN và Sách đỏ Việt Nam đã gia tăng đáng kể, đặc biệt là trong sách đỏ (tăng từ 721 lên 1065 loài). Nhóm các loài tăng nhiều nhất ở cả 2 danh mục là: thú, cá, thực vật bậc cao và nấm trong khi đó có một số nhóm lại giảm mặc dù số loài bị đe dọa vẫn nằm ở mức cao như: chim, bò sát.



Bảng 3: Số loài thực vật, động vật và bậc phân hạng trong Sách đỏ Việt Nam (2007)

Lớp/phân hạng

EX

EW

CR

EN

VU

LR

DD

Thực vật

1

 

37

178

210

4

 

Ngành Mộc lan

 

 

 

 

 

 

 

- Lớp 2 lá mầm

 

 

29

96

147

 

 

- Lớp 1 lá mầm

1

 

4

69

34

3

 

Ngành Thông

 

 

4

4

18

1

 

Ngành Dương xỉ

 

 

 

1

1

 

 

Ngành Thông đất

 

 

 

 

1

 

 

Ngành Rong đỏ

 

 

 

5

2

 

 

Ngành Rong nâu

 

 

 

 

4

 

 

Ngành Nấm

 

 

 

3

3

 

 

Động vật

4

5

48

113

189

17

30

Thú

4

1

12

30

30

5

8

Chim

 

 

11

17

25

11

9

Bò sát -Ếch nhái

 

1

11

22

19

 

 



 

3

4

28

51

 

3

Động Vật KXS

 

 

10

16

64

1

10

(Ghi chú: EX: Tuyệt chủng; EW: Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên; CR: Rất nguy cấp; EN: Nguy cấp; VU: Sẽ nguy cấp; LR: ít nguy cấp; DD: Thiếu dẫn liệu.)

Chiếm một tỷ lệ lớn trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 là các loài thực vật và động vật ở cấp EN, VU. Trong giới thực vật thì lớp 2 lá mầm bị đe dọa lớn nhất với 96 loài ở cấp EN và 147 loài ở cấp VU. Trong giới động vật thì thú và động vật không xương sống là hai lớp bị đe dọa lớn nhất.



Bảng 4: Các loài bị đe dọa được ghi nhận ở Việt Nam (IUCN, 2006)





Loài bị đe dọa toàn cầu

CR

EN

VU

Tổng

Thực vật

25

38

85

148

Thú

11

11

23

45

Chim

5

13

23

41

Bò sá




7

14

8

29Lưỡng

0

5

13

18



4

6

20

30

Các loài khác

0

0

0

0

Tổng số

52

87

172

311




Theo bảng trên thì tổng số loài động, thực vật bị đe dọa ở Việt Nam theo IUCN (2006) ở 3 cấp: CR (rất nguy cấp), EN (nguy cấp), VU (sẽ nguy cấp) là 311 loài. Trong đó chiếm đa số là các nhóm: chim (41 loài), thực vật (85 loài), thú (23 loài).







: files -> ChuaChuyenDoi
ChuaChuyenDoi -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
ChuaChuyenDoi -> TS. NguyÔn Lai Thµnh
ChuaChuyenDoi -> Luận văn Cao học Người hướng dẫn: ts. Nguyễn Thị Hồng Vân
ChuaChuyenDoi -> 1 Một số vấn đề cơ bản về đất đai và sử dụng đất 05 1 Đất đai 05
ChuaChuyenDoi -> TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Hà Linh
ChuaChuyenDoi -> ĐÁnh giá Đa dạng di truyền một số MẪu giống lúa thu thập tại làO
ChuaChuyenDoi -> TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiêN
ChuaChuyenDoi -> TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Văn Cường
ChuaChuyenDoi -> ĐÁnh giá thực trạng và ĐỀ xuất giải pháP


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương