Nguyễn Thị Hồng Ngát BỘ giáo dục và ĐÀo tạO



trang2/17
Chuyển đổi dữ liệu18.07.2016
Kích3 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

3.1.2 Điều kiện tự nhiên


3.1.2.1 Toạ độ địa lý

Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm ở phía Nam Việt Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 150 km theo quốc lộ 20 về hướng Đà Lạt. Nằm trên địa phận các huyện Bảo Lâm, Cát Tiên (tỉnh Lâm Đồng), huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú (tỉnh Đồng Nai), huyện Bù Đăng (tỉnh Bình Phước).

Tọa độ địa lý: 11020’50” đến 11050’20” độ vĩ Bắc

107009’05” đến 107035’20” độ kinh Đông.

Phạm vi ranh giới:


  • Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Bình Phước.

  • Phía Nam giáp Công ty Lâm nghiệp La Ngà (Đồng Nai)

  • Phía Đông có ranh giới là Sông Đồng Nai.

  • Phía Tây giáp Lâm trường Vĩnh An (Đồng Nai).

3.1.2.2 Diện tích

Theo quyết định 173/2003/QĐ-Ttg ngày 19/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ, hiện nay, diện tích Vườn Quốc gia Cát Tiên có tổng diện tích là: 71.920 ha vùng lõi và 183.475 ha vùng đệm.

Trong đó:

- Khu vực Cát Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng, diện tích: 27.850 ha vùng lõi và 64.275 ha vùng đệm.

- Khu vực Nam Cát Tiên thuộc tỉnh Đồng Nai, diện tích: 39.627 ha vùng lõi và 63.700 ha vùng đệm.

- Khu vực Tây Cát Tiên thuộc tỉnh Bình Phước, diện tích: 4.443 ha vùng lõi và 47.600 ha vùng đệm.



3.1.2.3 Địa hình - Địa chất

3.1.2.3.1 - Địa hình

Vườn Quốc gia Cát Tiên nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên cực Nam trung bộ đến đồng bằng Nam bộ, bao gồm các kiểu địa hình đặc trưng của phần cuối dãy Trường sơn và địa hình vùng Đông Nam bộ, có 5 kiểu địa hình chính:

- Núi cao, sườn dốc: Chủ yếu ở phía Bắc Vườn. Độ cao từ 200 – 600 m so với mực nước Biển. Độ dốc từ 15 – 300. Địa hình là các dạng sườn dốc, phân bố giữa thung lũng sông, suối và dạng đỉnh bằng phẳng. Mức độ chia cắt phức tạp và cũng là đầu nguồn của các suối nhỏ chảy ra sông Đồng Nai.

- Núi trung bình, sườn ít dốc: ở phía Tây Nam Vườn. Độ cao từ 200 – 300 m so với mực nước Biển. Độ dốc từ 15 – 200, độ chia cắt cao. Đây là vùng thượng nguồn của nhiều con suối lớn chảy ra sông Đồng Nai.

- Đồi thấp, bằng phẳng: ở Phía Đông Nam Vườn. Độ cao từ 130 – 150 m so với mực nước Biển. Độ dốc từ 5 – 70, độ chia cắt ít.

- Bậc thềm Sông Đồng Nai và dạng đồi bát úp tiếp giáp đầm hồ. Độ cao trung bình khoảng 130 m so với mực nước Biển. Chạy dọc theo sông Đồng Nai và vùng ven sông Đồng Nai phía Tây Bắc Vườn từ khu vực giáp ranh Bình Phước - Đồng Nai đến Tà Lài, bề rộng khoảng 1000 mét.

- Thềm Suối xen kẽ với các Bàu nước, có độ cao trung bình thấp hơn 130 m so với mực nước Biển.

Vườn Quốc gia Cát Tiên thấp từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, độ cao so với mặt nước Biển cao nhất là 626 m ở Lộc Bắc và thấp nhất là 115 m ở khu vực Núi Tượng.

3.1.2.3.2 Địa chất

Từ nền địa chất với 3 cấu tạo chính là: Trầm tích, Bazal và sa phiến thạch đã phát triển thành 4 loại đất chính của Vườn Quốc gia Cát Tiên như sau:

- Đất phát triển trên đá Bazal: Loại đất này có diện tích lớn nhất và phân bố chủ yếu ở khu phía Nam của Vườn, là một loại đất giàu chất dinh dưỡng phân hủy cho loại đất tốt, sâu, dày, màu đỏ hoặc nâu đỏ và nâu đen có nhiều đá Tubf núi lửa lộ đầu chưa bị phong hoá hết. ở trên đất này, rừng phát triển tốt, có nhiều loài cây gỗ quý và khả năng phục hồi của rừng cũng nhanh.

- Đất phát triển trên đá cát (đá phiến thạch): Chiếm diện tích lớn thứ hai của Vườn phân bố chủ yếu ở khu Cát Lộc. Một số tài liệu gọi đất này là đất xám bạc màu trên đá axít hoặc đá cát. Về độ phì của đất này kém, đất phát triển trên đá Bazal. Nhưng do rừng chưa bị tàn phá nên nói chung đất vẫn còn tốt.

- Đất phát triển trên đá sét: Có diện tích không lớn lắm, tập trung chủ yếu ở phía Nam, xen kẽ các vạt đất Bazal. Loại đất này tuy có độ phì khá, nhưng nhược điểm là thành phần cơ giới nặng, nên khi mất rừng thì đất dễ bị thoái hoá một cách nhanh chóng.

- Đất phát triển trên phù sa cổ: Gồm các loại đất được bồi tụ ven Suối, ven Sông, cũng chiếm một diện tích không nhỏ ở phía Bắc và phía Đông Nam Vườn. Thường phân bố trên các dạng địa hình khá bằng phẳng và những vùng trũng bị ngập nước vào mùa mưa. Loại đất này tuy xấu, nghèo chất dinh dưỡng nhưng thường có mực nước ngầm nông nên khá thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng trong mùa khô.

3.1.2.4 Khí hậu

VQG Cát Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hoạt động xen kẽ giữa gió mùa Tây Nam từ tháng 4 đến tháng 11 và gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Trong năm có 2 mùa mưa và mùa khô rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

Do VQG Cát Tiên nằm trên 2 vùng địa hình khác nhau, vùng núi và vùng đồi có độ cao tuyệt đối khác nhau, nên về khí hậu của 2 vùng cũng khác nhau khá rõ rệt. Với số liệu ghi nhận được ở 2 trạm khí tượng: Cát Tiên của tỉnh Lâm Đồng (vùng Cát Lộc) và trạm khí tượng Tà Lài của tỉnh Đồng Nai (vùng Cát Tiên) thì các thông số về khí hậu của 2 khu vực là:



Bảng 3.1. Tổng quan đặc điểm khí hậu Vườn Quốc gia Cát Tiên

TT

Yếu tố khí hậu

Vùng Cát Lộc

Vùng Cát Tiên

1

Nhiệt độ bình quân năm (oC)

21,7

26,5

2

Nhiệt độ trung bình cao nhất (oC)

23 (tháng 6)

28,6 (tháng 6)

3

Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC)

21,1 (tháng 12)

20,5 (tháng 1)

4

Lượng mưa trung bình hằng năm (mm)

2675

2175

5

Lượng mưa trung bình tháng cao nhất (mm)

494,8 (tháng 9)

368 (tháng 9)

6

Lượng mưa trung bình tháng thấp nhất (mm)

23,8 (tháng 2)

11 (tháng 2)

7

Số ngày mưa trung bình hằng năm (ngày)

182

145

8

Độ ẩm trung bình hằng năm (%)

87

82

9

Thời gian mưa TB trong mùa mưa (tháng)

10 (tháng 3-12)

8 (tháng 4-11)

10

Lượng mưa mùa mưa/ Lượng mưa hằng năm (%)

97,4

88,3

Với các thông số khí hậu nói trên ta thấy ở khu phía Bắc có nhiệt độ trung bình năm thấp. Lượng mưa bình quân năm và độ ẩm tương đối bình quân năm cao hơn ở khu phía Nam và Tây Vườn.



3.1.2.5 Thuỷ văn

VQG Cát Tiên có một hệ thống Sông, Suối, Đầm, Bàu rất phong phú và đa dạng. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ tỉnh Lâm Đồng, chảy qua VQG Cát Tiên với chiều dài khoảng hơn 90 km, làm thành ranh giới tự nhiên bao bọc 1/3 chu vi của Vườn về phía Bắc, Tây và phía Đông. Sông rộng trung bình khoảng 100 m, lưu lượng nước bình quân khoảng 405 m3/giây. Mực nước cao nhất 8,03 m, mực nước trung bình 5 m, mùa kiệt 2 – 3 m.

Trong VQG Cát Tiên có nhiều hệ suối lớn như:


  • Suối Đaleh, ĐaR’soui, Đa M’Bri khu vực Lộc Bắc.

  • Suối Đa Dim bo, Đa thai, Đa Ce Nac, Đa Nhor khu vực Cát Lộc.

  • Suối Đa Louha, Đa Bitt, Đa Bao, Đa Tapoh, Đa Sameth khu vực Nam Cát Tiên.

Hầu hết các hệ Suối này đều chảy ra Sông Đồng Nai. Toàn bộ diện tích của VQG Cát Tiên là lưu vực trực tiếp của hồ Thuỷ điện Trị An, phần phía Nam của Vườn là khu vực tiếp giáp hồ.

VQG Cát Tiên có nhiều Đầm, Hồ và Bàu nước với diện tích khá lớn như: Bàu Sấu, Bàu Chim, Bàu Cá, Bàu Thái Bình Dương, Bàu rau Muống, Đập Tà Lài (khu vực Nam Cát Tiên). Bàu Khoáng, Đập Vàm Hô, Hồ Đắk Lô (khu vực Cát Lộc)

Quanh các Đầm, Bàu và suối lớn thường xuyên ẩm ướt và ngập nước vào mùa mưa nên có nhiều cây bụi, cây cỏ, song, mây tre, lồ ô và giây leo phát triển mạnh, hình thành nhiều thảm thực vật ngập nước phong phú và da dạng.

Các vùng đất ngập nước là sinh cảnh quan trọng của các loài động thực vật thuỷ sinh, các loài chim nước… ngoài ra nó còn có tác dụng duy trì nguồn nước ngầm, lọc nước, giữ các dưỡng chất, ổn định các điều kiện khí hậu địa phương nhất là lượng mưa và nhiệt độ. Là địa điểm lý tưởng để nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái, giải trí, nghỉ dưỡng cho du khách trong và ngoài nước.

Chế độ thủy văn ở VQG Cát Tiên có vai trò rất quan trọng cho việc điều tiết và cung cấp nguồn nước cho hồ Thuỷ điện Trị An và các cộng đồng dân cư sinh sống và sản xuất Nông nghiệp.

3.1.3 Tình hình dân sinh kinh tế

Vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên có 36 xã, thị trấn của 8 huyện, thuộc 4 tỉnh: Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng và Đắk Lắc với khoảng 17 vạn người đang cư trú và sinh sống.

Tình hình dân sinh kinh tế của các địa phương vùng đệm có ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Vườn. Các nhu cầu về Lâm sản, nhu cầu về đất sản xuất, tập quán sống dựa vào tài nguyên rừng, vấn đề di dân tự do, tốc độ gia tăng dân số và những hậu qủa của thiên tai như hạn hán, lũ lụt…đã dẫn đến các hình thức vi phạm như phá rừng làm rẫy, săn bắn, bẫy chim, thú, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất rừng.

Trong những năm gần đây tình hình vi phạm có giảm, nhưng ở khu vực Cát Lộc (Lâm Đồng), Đa Bông Cua (Bình Phước) vẫn còn nhiều hiện tượng vi phạm về các quy định quản lý bảo vệ rừng, do hai khu vực này mới sát nhập vào Vườn, điều kiện dân sinh, kinh tế của người dân còn khó khăn, hơn nữa trong khu vực chủ yếu là đồng bào dân tộc và những cụm dân cư di dân tự do từ miền Bắc vào, nên công việc giữ rừng cũng rất phức tạp.

Hiện tại, trong VQG Cát Tiên có 9 cụm dân cư sinh sống:

- Khu vực Cát Lộc tỉnh Lâm Đồng:

+ Xã Phước Cát II: Có 3 cụm dân cư, sống dọc theo Sông Đồng Nai có khoảng 80 hộ, trong đó có 28 hộ là dân tộc S’Tiêng và 12 hộ là dân tộc Châu Mạ.

+ Xã Tiên Hoàng: Có 2 cụm dân cư, khoảng 230 hộ chủ yếu là dân tộc Châu Mạ, chỉ có 2 hộ dân tộc Tày đang sinh sống, đây là khu vực định canh, định cư cho đồng bào dân tộc do tỉnh Lâm Đồng quy hoạch và xây dựng.

+ Xã Gia Viễn: Một cụm dân cư 12 hộ đồng bào dân tộc Châu Mạ.

Những nhóm người đồng bào dân tộc này đã sống dọc theo 2 bên bờ sông Đồng Nai từ Tà Lài, Tân Phú tỉnh Đồng Nai lên đến các tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng qua nhiều thế hệ và đều là các chi thuộc dân tộc Khmer.

- Khu vực Tây Cát Tiên tỉnh Bình Phước: Có một cụm dân cư gồm 232 hộ đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao di cư tự do vào VQG Cát Tiên vào những năm 1990 – 1991.

- Khu vực Nam Cát Tiên tỉnh Đồng Nai:

+ Khu định canh, định cư Tà Lài: Hiện có 292 hộ là đồng bào dân tộc S’Tiêng và Châu Mạ. Đây là khu định canh, định cư do tỉnh Đồng Nai quy hoạch và xây dựng năm 1977 để ổn định đời sống của đồng bào dân tộc.

+ Khu vực Đắk Lua: Có 38 hộ gia đình là quân nhân ở lại làm kinh tế sau hoà bình.

Một điểm chung là hầu hết các cộng đồng dân cư đang sống trong Vườn, sinh sống chủ yếu dựa vào các sản phẩm Nông nghiệp. Vào những thời vụ nông nhàn hoặc mất mùa, họ thường vào rừng khai thác Lâm sản, săn bắt, bẫy chim, thú rừng… đã gây nhiều khó khăn cho lực lượng Kiểm Lâm bảo vệ. Đối với các cụm dân cư này, trong thời gian tới VQG Cát Tiên sẽ cùng với chính quyền địa phương nghiên cứu, sắp xếp để đảm bảo công tác quản lý rừng được thuận lợi.

3.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu bao gồm những vấn đề sau đây:

3.2.1 Đặc điểm lâm học của một số ưu hợp thực vật

3.2.2 Cấu trúc của ba trạng thái rừng IIIA3, IIIA2 và IIIB

3.2.3 Đặc điểm tái sinh tự nhiên trong ba nhóm quần xã ưu thế cây họ Sao - Dầu

3.2.4 Một số đề xuất



3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Cơ sở phương pháp luận

Cơ sở khoa học của phương pháp luận là dựa trên những quan niệm sau đây:



  1. Rừng là một hệ sinh thái; trong đó quần thụ = f(khí hậu, địa hình - đất, sinh vật, con người). Vì thế, sự hình thành và phát triển, kết cấu và cấu trúc rừng phải được xem xét trong quan hệ với những yếu tố môi trường.

  2. Tái sinh tự nhiên của rừng luôn bị kiểm soát bởi rất nhiều yếu tố; do đó những đặc trưng về tái sinh tự nhiên của rừng phải được xem xét và đánh giá trong quan hệ với kết cấu và cấu trúc quần thụ.

  3. Một phương thức bảo tồn và phát triển rừng hợp lý phải cân nhắc đầy đủ những quy luật sống của rừng – đó là quy luật tái sinh, sinh trưởng và phát triển, diễn thế và cấu trúc rừng…Vì thế, những biện pháp bảo tồn và phát triển rừng ưu thế cây họ Sao - Dầu phải dựa trên không chỉ đặc trưng kết cấu và cấu trúc rừng, mà còn cả tình trạng tái sinh rừng.

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

3.3.2.1 Thu thập dữ liệu về đặc trưng của những ưu hợp thực vật ưu thế cây họ Sao - Dầu

(a) Trước hết, thông qua điều tra phân chia sơ bộ quần xã thực vật rừng thành những ưu hợp thực vật khác nhau. Ưu hợp thực vật được nhận biết theo chỉ dẫn của GS.TS. Thái Văn Trừng (1978)[44]. Việc phân chia những ưu hợp thực vật là tạo thuận lợi cho việc xác định chính xác đối tương nghiên cứu.

(b) Kế đến, chọn những ưu hợp thực vật ưu thế cây họ Sao - Dầu để bố trí các ô đo đếm. Kích thước ô tiêu chuẩn là 2.000 m2. Những ô tiêu chuẩn này được bố trí điển hình trong những các quần xã (ưu hợp) ưu thế cây họ Sao - Dầu từ cao đến thấp. Số lượng mẫu phân bố vào mỗi ưu hợp thực vật là 3 ô tiêu chuẩn, tổng số 15 ô tiêu chuẩn. Trong mỗi ô tiêu chuẩn, thực hiện đo đếm những chỉ tiêu sau đây:

- Thành phần loài cây gỗ lớn có D1.3 ³ 5 cm và sắp xếp theo chi và họ.

- Đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m (D1,3, cm). Chỉ tiêu này được đo hai chiều vuông góc và lấy gía trị trung bình, độ chính xác là 0,5 cm.

- Chiều cao thân cây, bao gồm chiều cao toàn thân - kí hiệu HVN (m) và chiều cao dưới cành lớn nhất còn sống (HDC, m). Tất cả được đo bằng thước đo cao Blumme-Leise với độ chính xác 0,5 m.

- Mô tả cấu trúc tầng thứ (phân bố loài cây theo tầng hay lớp chiều cao) và xác định độ tàn che của rừng. Hai chỉ tiêu này được xác định bằng cách vẽ trắc đồ rừng theo chỉ dẫn của Davis và Richards (1934)[44]. Mỗi ưu hợp vẽ một trắc đồ điển hình. Dải vẽ có chiều dài 30 mét, rộng 10 mét. Vị trí trắc đồ được đặt ở nơi có những đặc trưng điển hình cho ô tiêu chuẩn.

3.3.2.2 Thu thập tái sinh rừng

Cây tái sinh dưới tán rừng trong ô tiêu chuẩn 2.000 m2 được đo đếm bằng những ô dạng bản 2 x 2 m (4 m2). Mỗi ô tiêu chuẩn đo đạc 30 ô dạng bản theo cách bố trí cơ giới cách đều. Cây tái sinh được thống kê theo loài, bắt đầu từ H = 5 cm đến H ≤ 4 m.

Nội dung đo đếm được tiến hành như sau:

Trước hết, thực hiện phân chia mỗi ô tiêu chuẩn 2.000 m2 thành các dải, mỗi dải rộng 2 m. Trên mỗi dải lại chia thành các phân đoạn, mỗi phân đoạn cách nhau 2 m. Như vậy, mỗi ô tiêu chuẩn có tất cả 500 ô. Các ô dạng bản được đo đếm tái sinh của các loài cây gỗ theo hai cách sau đây:

Từ 500 ô dạng bản, chọn ra 30 ô theo phương pháp cơ giới cách đều, nghĩa là trên mỗi dải cứ cách 16 ô lại đo 1 ô. Trong các ô dạng bản này, trước hết thống kê tên loài cây và mật độ của mỗi loài cây tái sinh. Kế đến đo đạc chiều cao thân cây bằng cây sào với độ chính xác đến 0,1 m. Chất lượng cây tái sinh phân thành khỏe, yếu. Cây khỏe là cây sinh trưởng và phát triển tốt, không bị sâu hại hay hai thân, tán lá tròn đều, cân đối, xanh tốt. Cây yếu là cây bị sâu hại, gãy ngọn, hai thân, tán lá lệch dạng cờ hoặc cây đã chết (bị đào thải).

3.3.2.3 Thu thập những số liệu khác

Những số liệu khác cần thu thập bao gồm số liệu về khí hậu - thủy văn, đất và những hoạt động lâm sinh. Cách thức thu thập được thực hiện theo những chỉ dẫn thông thường trong lâm học. Tất cả số liệu thu thập trên ô tiêu chuẩn được ghi vào bảng ngoại nghiệp.



3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Trình tự xử lý số liệu như sau:



3.3.3.1 Tính những đặc trưng lâm học của các ưu hợp ưu thế cây họ Sao - Dầu.

Trước hết, tập hợp những số liệu điều tra về kết cấu các quần thụ ưu thế cây họ Sao - Dầu.

Kế đến, tính những đặc trưng thống kê mô tả (trung bình, nhỏ nhất, lớn nhất, sai tiêu chuẩn, phạm vi biến động, hệ số biến động…) cho những nhân tố điều tra như mật độ, tiết diện ngang thân cây, trữ lượng gỗ, tổ thành hay độ ưu thế của loài…Độ ưu thế của loài được tính trung bình từ ba tham số: mật độ, tiết diện ngang và trữ lượng thân cây.

Tiếp đến, tập hợp và sắp xếp thành bảng và biểu đồ để thuyết minh đặc trưng của từng ưu hợp. Sau đó dựa vào số liệu tổng hợp để phân tích những đặc trưng sau đây:

+ Điều kiện phát sinh các ưu hợp thực vật như dạng địa hình và đất.

+ Thành phần loài cây. Chỉ tiêu này bao gồm số loài phân bố theo họ; những loài cây gỗ lớn, gỗ quý; những loài cây thuộc họ Sao - Dầu; những loài cây khác...

+ Vai trò của các loài trong sự hình thành quần xã, đặc biệt là cây họ Sao - Dầu. Vai trò của loài được đánh giá thông qua độ ưu thế trung bình của nó.

+ Phân tích kết cấu ba nhóm quần xã ưu thế cây họ Sao – Dầu được phân chia thành các bộ phận sau:



  1. Mật độ quần thụ: Chỉ tiêu này được chia thành 3 nhóm nhỏ: (1.1) Tổng số quần thể (cây/ha); (1.2) mật độ của nhóm loài mục đích (cây/ha), chỉ tiêu này lại được phân ra (a) mật độ của cây họ Sao – Dầu (cây/ha) và (b) mật độ của nhóm loài khác và (1.3) mật độ của nhóm loài tạp (cây/ha).

  2. Trữ lượng quần thụ (m3/ha)

  3. Tiết diện ngang quần thụ (m2/ha)

  4. Độ ưu thế của các loài họ Sao – Dầu (%). Chỉ tiêu này được tính bình quân từ 3 chỉ tiêu là số cây, tiết diện ngang và trữ lượng gỗ của loài so với chỉ tiêu tương ứng của quần thụ.

Dựa vào độ ưu thế của cây họ Sao - Dầu, thực hiện phân chia các ưu hợp thành ba nhóm quần xã ưu thế cây họ Sao - Dầu – đó là nhóm quần xã ưu thế cao cây họ Sao - Dầu, nhóm quần xã ưu thế trung bình cây họ Sao - Dầu và nhóm quần xã ưu thế thấp cây họ Sao - Dầu. Kết cấu của ba nhóm quần xã được tập hợp thành bảng.

3.3.3.2 Tính toán cấu trúc của những ưu hợp ưu thế cây họ Sao - Dầu

Nội dung này chỉ giới hạn ở việc xem xét những đặc trưng phân bố đường kính thân cây (N – D1.3) và phân bố chiều cao thân cây (N - H). Trình tự tính toán như sau:

+ Trước hết, tập hợp số liệu D1.3 (cm) và H (m) của những cây trong các ô tiêu chuẩn 2.000 m2 đại diện cho ba nhóm quần xã ưu thế cây họ Sao-Dầu.

+ Kế đến, tính những đặc trưng thống kê mô tả phân bố N - D1.3 và N - H. Những thống kê mô tả cần tính toán bao gồm giá trị trung bình (Xbq) và khoảng tin cậy 95%, mốt (M0), trung vị (Me), phương sai (S2), sai tiêu chuẩn (Sx), sai số chuẩn (Se), giá trị lớn nhất (Max) và nhỏ nhất (Min), độ lệch (Sk), độ nhọn (Ku), hệ số biến động (V%) và các phân vị (Percentiles).

+ Tiếp đến, những phân bố thực nghiệm (N – D1.3, N – H) được làm phù hợp với những phân bố lý thuyết. Những dạng phân bố lý thuyết được chọn lựa trên cơ sở biểu đồ phân bố thực nghiêm và lý thuyết về các kiểu phân bố N - D1.3 và N - H của rừng hỗn loài khác tuổi. Theo đó, số liệu thực nghiệm được làm phù hợp với 3 dạng phân bố lý thuyết thường gặp – đó là phân bố Mayer, phân bố khoảng cách và phân bố Weibull. Sự phù hợp của số liệu thực nghiệm với những phân bố lý thuyết được đánh giá theo kiểm định Chi-square (c2). Khi làm phù hợp số liệu thực nghiệm với các phân bố lý thuyết, thì cự ly mỗi cấp và số cấp được quy định tùy theo quần xã. Đối với D1.3 (cm), cư ly mỗi cấp thay đổi từ 4,0 cm đến 8,0 cm, còn số cấp nằm trong giới hạn từ 6 – 12 cấp. Đối với H (m), cự ly mỗi cấp thay đổi từ 2,0 m đến 2,5 m, số cấp nằm trong giới hạn từ 6 – 12 cấp.

+ Tiếp theo, từ những phân bố phù hợp chọn ra một dạng phân bố phù hợp nhất với số liệu thực nghiệm dựa theo tiêu chuẩn “Tổng sai lệch bình phương nhỏ nhất”, nghĩa là Min Σ(Flt-Ftn)2, với Ftn và Flt tương ứng là trị số thực nghiệm và trị số lý thuyết. Phân bố phù hợp nhất với số liệu thực nghiệm được sử dụng để tính tần suất (Px), tần suất dồn hay tích lũy (Fx), tần số lý tuyết (Flt), tần số dồn hay tích lũy (Ftl), tỷ lệ dồn (%), tần số cây phân bố trong cấp (D1.3, H) bình quân, tần số cây nằm trong khoảng Xbq ± Sx và Xbq ± 2*Sx

+ Cuối cùng, tập hợp kết quả thành bảng và biểu đồ để phân tích và so sánh sự khác biệt giữa các đặc trưng phân bố tùy theo quần xã ưu thế cây họ Sao - Dầu.

3.3.3.3. Tính toán tái sinh rừng

Trước hết, tập hợp những ô dạng bản theo từng ưu hợp thực vật.

Kế đến, trong mỗi ưu hợp thực vật tính những chỉ tiêu sau đây:

+ Mật độ cây tái sinh. Chỉ tiêu này được tính bằng cách nhân số cây tái sinh trên 1 ô dạng bản (mỗi ô 4 m2) với hệ số 250 (= 10.000 m2/4 m2). Sau đó, tính các thống kê mô tả như giá trị trung bình, phương sai, sai tiêu chuẩn, hệ số biến động…

+ Phân chia cây tái sinh theo nhóm loài. Cây tái sinh được phân loại theo hai nhóm loài – đó là nhóm cây mục đích và những loài khác. Nhóm loài cây mục đích được quy ước là những loài cho gỗ lớn như cây họ Dầu (Sao đen, Vên vên, Dầu rái ...), Bằng lăng, Bình linh, Trường, Gụ bông lau... Mục đích là xem xét khả năng khôi phục thế hệ mới của cây họ Sao - Dầu và các loài dưới tán rừng; đánh giá vai trò của cây họ Sao - Dầu trong kết cấu rừng hiện tại và tương lai khi rừng lâm vào tình trạng bị khai thác.

+ Phân loại chất lượng cây tái sinh theo nguồn gốc hạt, chồi và sinh lực (khỏe, yếu).

+ Phân chia cây tái sinh theo cấp chiều cao (N - H); trong đó chỉ rõ số lượng cây tái sinh của cây họ Sao - Dầu trong mỗi cấp chiều cao. Chỉ tiêu này được phân chia theo cấp, mỗi cấp 50 – 100 cm. Sau đó tập hợp thành bảng.

Sau đó, từ số liệu tính toán phân tích tình hình tái sinh rừng như sau:

+ Số loài cây tái sinh dưới tán rừng.

+ Những loài cây họ Sao - Dầu tái sinh dưới tán rừng và vai trò của chúng.

+ Mật độ tái sinh, chất lượng và phân bố cây theo cấp chiều cao.

+ So sánh tình trạng tái sinh theo những ưu hợp thực vật.

+ Đánh giá chung về kết quả tái sinh rừng…

Tất cả những cách thức tính toán ở mục 3.3.3 được thực hiện theo chỉ dẫn của Vũ Tiến Hinh và cộng sự (1992; 2003)[14]; Nguyễn Văn Trương (1984)[37]; Thái Văn Trừng (1978)[44]; Nguyễn Hải Tuất (1982)[40], [41], [42]; Nguyễn Văn Thêm (1992)[46], [48] và các tài liệu tham khảo số [51, [52], [53]. Công cụ tính toán là phần mềm thống kê Excel, SPSS 10.0 và Statgraphics Plus Version 3.0 & 5.1.


Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương