Nguyễn Thị Hồng Ngát BỘ giáo dục và ĐÀo tạO



trang1/17
Chuyển đổi dữ liệu18.07.2016
Kích3 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17

Nguyễn Thị Hồng Ngát

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

************************

NGÔ THỊ HỒNG NGÁT

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA MỘT SỐ

ƯU HỢP THỰC VẬT ƯU THẾ CÂY HỌ SAO – DẦU (Dipterocarpaceae) TRONG KIỂU RỪNG KÍN

THƯỜNG XANH VÀ NỬA RỤNG LÁ

ẨM NHIỆT ĐỚI Ở ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh, 04/2010

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH

********************

NGÔ THỊ HỒNG NGÁT

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA MỘT SỐ ƯU HỢP

THỰC VẬT ƯU THẾ CÂY HỌ SAO – DẦU (Dipterocarpaceae) TRONG KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG XANH VÀ

NỬA RỤNG LÁ ẨM NHIỆT ĐỚI Ở ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số  : 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


Hướng dẫn khoa học 

PGS. TS. NGUYỄN VĂN THÊM

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 4/2010

Chương 1


MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề

Thực vật họ Dầu (dipterocarpaceae) gồm 17 chi và có khoảng 680 lòai cây thân gỗ phân bố chủ yếu ở các rừng mưa nhiệt đới. Chúng cung cấp các loại gỗ có giá trị và nhựa mủ… (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000). Rừng ưu thế cây họ Sao - Dầu (Dipterocarpaceae) ở miền Đông Nam Bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và giàu có về các loại gỗ và đặc sản rừng. Nguồn tài nguyên đó có ý nghĩa to lớn về kinh tế, quốc phòng và bảo vệ môi trường sống. Những số liệu thống kê của Bộ Lâm nghiệp (1991)[4] cho biết, rừng miền Đông Nam Bộ có diện tích 547,9 ngàn ha, độ che phủ khoảng 25,9% diện tích đất tự nhiên. Hệ thực vật rừng phong phú và đa dạng, bao gồm khoảng 900 loài cây gỗ phân bố trong 77 họ [2], [13]. Những loài cây gỗ của họ Sao - Dầu đóng vai trò to lớn nhất trong sự hình thành cấu trúc các kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở miền Đông Nam Bộ. Trong các kiểu thảm thực vật này, những ưu hợp cây họ Sao - Dầu (Dipterocarpaceae) tham gia hình thành những quần xã thực vật rừng có trữ lượng rất cao (300 - 400 m3 gỗ/ha) [10], [11], [39]; gỗ của chúng có nhiều đặc tính cơ lý tốt, có giá trị lớn trong xây dựng và xuất khẩu, rất được ưa thích ở miền Đông Nam Bộ. Vì thế, nhiều loài cây họ Sao - Dầu đã được xếp vào danh mục những loài cây gỗ để sản xuất gỗ lớn ở Đồng Nai và miền Đông Nam Bộ [12]. Thế nhưng, cùng với sự mất rừng do khai thác và sử dụng không hợp lý, rừng ưu thế cây họ Sao - Dầu cũng dần bị thu hẹp về diện tích và có nguy cơ biến mất.

Trước đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về rừng ưu thế cây họ Sao – Dầu ở Đồng Nai [9], [10], [11], [12], [13], [26], [27], [28], [36], [37], [39], [45], [49], nhưng số liệu chưa nhiều, tản mạn, phạm vi và đối tượng nghiên cứu còn hạn chế. Do đó, việc kế thừa những tài liệu đã có và tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc trưng lâm học của rừng ưu thế cây họ Sao - Dầu là một việc cần thiết. Vì lý do đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm học của một số ưu hợp thực vật ưu thế cây họ Sao – Dầu trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Đồng Nai” đã được đặt ra.

1.2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của đề tài là xây dựng cơ sở dữ liệu về đặc trưng lâm học của một số ưu hợp thực vật ưu thế cây họ Sao – Dầu ở Đồng Nai để làm căn cứ xây dựng những biện pháp khai thác – tái sinh, nuôi dưỡng và bảo tồn những hệ sinh thái rừng ưu thế cây họ Sao – Dầu ở Đông Nam Bộ.

Để đạt được mục đích đặt ra, mục tiêu nghiên cứu là:


  • Mô tả và phân tích những đặc trưng về thành phần và kết cấu loài cây

  • Mô tả và phân tích những đặc trưng về cấu trúc

  • Đánh giá tình trạng tái sinh tự nhiên dưới tán rừng ưu thế cây họ Sao – Dầu.

1.3 Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một số ưu hợp thực vật ưu thế cây họ Sao – Dầu trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Đồng Nai.

  • Nội dung nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề có liên quan đến điều kiện hình thành, thành phần và kết cấu loài cây, cấu trúc đường kính và chiều cao, kết quả tái sinh dưới tán rừng ưu thế cây họ Sao – Dầu.

  • Địa điểm nghiên cứu được chọn là Vườn Quốc Gia Cát Tiên thuộc lãnh thổ tỉnh Đồng Nai.

  • Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 05/2009 và kết thúc vào tháng 10/2009.

  • Từ những kết quả nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp phát triển và bảo tồn những quần xã thực vật ưu thế cây họ Sao – Dầu ở Đồng Nai.

1.4 Ý nghĩa của đề tài

Những kết quả nghiên cứu của đề tài mang lại những ý nghĩa sau đây:

(1) Về lý luận, những kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu để xác định điều kiện hình thành những ưu hợp thực vật ưu thế cây họ Sao - Dầu và phân tích vai trò của cây họ Sao – Dầu trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Đồng Nai.

(2) Về thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của đề tài là căn cứ khoa học cho việc áp dụng những biện pháp bảo tồn và phát triển những ưu hợp thực vật ưu thế cây họ Sao – Dầu ở Đồng Nai.

Chương 2

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU


2.1 Tình hình chung

Hệ sinh thái rừng từ trước đến nay được nhiều nhà khoa học nghiên cứu đến (Maurand, 1952, Rollet, 1952, Vidal, 1958, Schmid 1962, Thái Văn Trừng, 1978, Vũ Xuân Đề, 1985, 1989; Phùng Tửu Bôi, 1981...). Trong các công trình khoa học đó phải kể đến: “Thảm thực vật rừng trên quan điểm hệ sinh thái” (1978) của Thái Văn Trừng; “Bước đầu nghiên cứu cấu trúc rừng miền Bắc Việt Nam” (1965, 1974) của Trần Ngũ Phương;; 2 tác giả Võ Văn Chi và Trần Hợp cùng nghiên cứu và cho ra đời công trình “Cây cỏ có ích Việt Nam”, Tác giả Nguyễn Văn Trương với công trình “Cấu trúc rừng gỗ hỗn loài Việt Nam” (1974); “Cây cỏ Việt Nam” (1993) của Phạm Hoàng Hộ. Đặc biệt chú ý đến “Từ điển thực vật thông dụng” tập I, II (2004) và “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi...

Do giá trị của thực vật họ Sao – Dầu cao nên cũng được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu. Các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu tổng quát, mang tính chất mô tả, sau này có nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn. Theo Lý Văn Hội (1969) nhận xét hạt sao đen (Hopea odorata) mất sức nảy mầm sau 20 ngày. Nguyễn Hồng Quân và các tác giả khác trong báo cáo “Một số nghiên cứu thăm dò làm cơ sở cho việc điều chế rừng khộp” (1981), quả cây Dipterocapus tuberculatus tại bản Đôn (Đăk Lăk) phát tán vào cuối tháng 4, nếu gặp mưa muộn thì hạt giống của nó không thể nảy mầm. Ashton (1983) (dẫn theo sách “Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái” của Thái Văn Trừng), cây dầu rái (Dipterocarpus alatus) mọc cụm ở ven sông, chỉ tái sinh sau những trận lụt lớn.. Lâm Xuân Sanh nghiên cứu “Vai trò của các loài cây họ sao – dầu trong sinh thái phát sinh của các hệ sinh thái rừng ở miền Nam Việt Nam” (1985) cho rằng, hạt của cây họ sao – dầu có giai đoạn ngủ kéo dài không quá 4 tuần. Các công trình khác nghiên cứu về giá trị của các loài cây gỗ “Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam” (1993) của Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh đề cập đến giá trị của các loài cây gỗ và các loài cây trong họ Sao – Dầu, cụ thể: Chi Vên vên (Anisoptera) có 1 loài; chi Dầu (Dipterocarpus) có 12 loài; chi Sao (Hopea) có 9 loài; chi Chò chỉ (Parashorea) có 2 loài; chi Sến (Shorea) có 5 loài; chi Táu (Vatica) có 4 loài. Trần Hợp (2002) cho rằng họ Sao – Dầu ở Việt Nam có 6 chi và 45 loài đều là những cây gỗ lớn, đặc trưng cho các loại hình rừng phía Nam Việt Nam. Tác giả mô tả đặc điểm hình thái các loài cây trong các chi thuộc họ Sao – Dầu, khu phân bố và công dụng của chúng. Các loài đều có số cá thể lớn, làm thành các rừng đặc biệt cho các vùng khí hậu đất đai khắc nghiệt.

Về đặc điểm sinh thái của 4 loài cây họ Sao – Dầu: dầu cát (Dipterocarpus chartaceus), sến cát (Shorea roxburghii), chai lá cong (shorea falcata), và sao lá hình tim (Hopea cordata) đã được tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa nghiên cứu trong công trình “Kết quả điều tra sinh thái - di truyền bốn loài cây họ dầu trên vùng cát ven biển”.

Nghiên cứu về tái sinh, Thái Văn Trừng (1978) và Lâm Xuân Sanh (1985) cho rằng, kiểu tái sinh phổ biến của cây gỗ rừng mưa là tái sinh theo vệt hay theo lỗ trống. Lê Bá Toàn khi nghiên cứu về tái sinh của một số cây họ Sao – Dầu [39] cũng kết luận, cây con các loài cây họ Sao – Dầu tái sinh thuộc nhiều loại khác nhau trong đó cây tái sinh hạt “đời chồi” là phổ biến. “Về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên” (1991), Vũ Tiến Hinh cho rằng, để xác định tính chất tái sinh liên tục hay định kỳ của các loài cây gỗ có thể dùng phương pháp đếm tuổi các thế hệ cây gỗ. Khảo sát về cấu trúc cây tái sinh của các loài cây gỗ trong quan hệ với cấu trúc rừng đã được làm sáng tỏ trong nghiên cứu “Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loại” (1984) của Nguyễn Văn Trương.

Báo cáo tại hội thảo khoa học ngành sinh học năm 2001 tại Hà Nội về Triển vọng phục hồi hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới họ Sao Dầu ở Việt Nam, Thái Văn Trừng đã nêu 4 mô hình phục hồi rừng bằng cây họ Sao – Dầu và kết luận “hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới có thể tái sinh tái tạo được”, khác với nhận định của nhà sinh thái học Mêhicô Gomez – Pampa: “Rừng mưa nhiệt đới, một tài nguyên không thể tái sinh tái tạo được”.

Đề cập đến giá trị lâm sản ngoài gỗ của thực vật họ Sao – Dầu, Võ Văn Chi đã nghiên cứu công trình “Cây thuốc họ Sao – Dầu ở Việt Nam”, thực vật họ Sao - Dầu không những cho giá trị về gỗ mà còn cho các giá trị khác như tinh dầu, thuốc phục vụ con người.

2.2 Tổng quát về rừng cây họ sao – Dầu ở miền Đông Nam Bộ

Rừng cây họ Sao – Dầu ở miền Đông Nam Bộ thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, nhưng cho đến nay số liệu công bố chưa nhiều. Trong cuốn “Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái” Thái Văn Trừng tiếp tục khảo sát hệ thực vật rừng và mô tả một số ưu hợp cây họ Sao – Dầu. Khi nhận xét về tái sinh tự nhiên của dầu song nàng, Thái Văn Trừng (1978) cho rằng, ở giai đoạn tuổi non nó là cây chịu bóng cao. Dưới tán rừng có một số lượng lớn cây con dầu song nàng, nhưng phần lớn ở dạng cây mạ và cây con với chiều cao dưới 50 cm. Nghiên cứu của Lê Văn Mính (1978 - 1985) [26 - 28], ở giai đoạn chiều cao từ 10 - 20 cm dầu song nàng cần cường độ ánh sáng từ 1 – 3 ngàn lux, từ 50 – 100 cm và 100 - 400 cm cần tương ứng 10 - 15 ngàn lux và 30 - 86 ngàn lux. Khi thí nghiệm về sự nảy mầm của hạt giống cây họ Sao - Dầu, Nguyễn Văn Sở (1985)[37] nhận thấy hạt dầu song nàng nảy mầm dưới đất, thích hợp với độ sâu lấp đất từ 0,5 - 1,0 cm. Một số thử nghiệm gây trồng cây họ Sao-Dầu (dầu rái, sao đen, dầu song nàng…) theo mô hình đề xuất của P. Maurand (1952) đã được Phân Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Miền Nam tiến hành từ năm 1977 - 1985. Song cho đến nay kết quả thu nhận vẫn còn rất hạn chế [13].

Ngoài những nội dung nghiên cứu trên đây, một số tác giả đã hướng vào đánh giá thực trạng tài nguyên rừng, nghiên cứu khu hệ thực vật rừng và tài nguyên đất với mục đích quy hoạch và phục vụ định hướng phát triển kinh tế [2], [9], [10], [31].

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về thực vật họ Sao – Dầu như:

Báo cáo tạ hội nghị quốc tế lần thứ 3 về họ Sao – Dầu tại Indonesia (1985) của Thái Văn Trừng: Triển vọng phục hồi hệ sinh thái rừng họ Sao – Dầu bị chất độc hoá học đã huỷ diệt chiến khu D và C phía Nam Việt Nam. Một số kết quả bước đầu trong các loài cây họ Sao – Dầu ở miền Đông Nam Bộ, khả năng tái tạo rừng bằng một số loài gỗ lớn, gỗ quý cũng được báo cáo bởi Vũ Xuân Đề (1995).

Nguyễn Văn Thêm (1992) nghiên cứu tái sinh tự nhiên của Dầu song nàng ở Đồng Nai cho rằng quá trình tái sinh tự nhiên của Dầu song nàng (Dipterocarpus dyerii Pierre) trong rừng kín thường xanh và nửa rụng lá nhiệt đới ẩm mưa mùa thành công hay không chủ yếu phụ thuộc vào lỗ trống trong rừng, nếu bị che bóng chúng sinh trưởng và phát triển trong một thời gian ngắn và sẽ bị chết.

Với công trình “Sinh thái, lâm học rừng cây họ Dầu vùng Đông Nam Bộ” (1997), 2 tác giả Nguyễn Duy Chiên và Ngô An cho rằng tuỳ theo các ưu hợp thực vật khác nhau, cây con tái sinh dưới tán rừng phụ thuộc chủ yếu vào cây mẹ gieo giống.

Võ Đình Huy (2000) nghiên cứu mô hình trồng rừng hỗn giao nhiều loài cây trong đó loài cây chính và chủ đạo là Dầu rái (Dipterocapus alatus Roxb.); Sao đen (hopea odorata Roxb.) và Vên vên (Anisoptera cochinchinensis Pierre) trên hai dạng địa hình là đồi cao và vùng thấp tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên cho kết quả rừng sinh trưởng và phát triển trên vùng đồi cao tốt hơn rất nhiều so với vùng đồi thấp.

Năm 2002, Nguyễn Văn Thêm xuất bản cuốn “Sinh thái rừng” cho rằng tái sinh rừng thành công hay không phụ thuộc chủ yếu vào số lượng và chất lượng nguồn giống, điều kiện môi trường cho sự phát tán và nảy mầm của hạt giống. Hầu hết hạt giống của cây rừng mưa nảy mầm ngay sau khi rụng xuống đất ít ngày, thậm chí có một số loài nảy mầm ngay trên cây.

Hoàng Việt (2002), mỗi loài có hàm lượng và thành phần tinh dầu khác nhau, biến thiên phụ thuộc vào sự ảnh hưởng của điều kiện môi trường và dựa vào hàm lượng tinh dầu có thể thành lập một khoá tra cho những loài cây họ Sao – Dầu.

Năm 2006, Phan Minh Xuân nghiên cứu một số đặc tính lâm sinh học các loài cây họ Sao Dầu trong rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và rừng kín thường xanh nửa rụng lá ẩm nhiệt đới vùng Đông Nam Bộ kết luận: Phân bố số cây theo cấp chiều cao có dạng một đỉnh lệch trái; phân bố số cây theo cấp đường kính có dạng phân bố giảm hàm Mayer; tái sinh cây họ Sao – Dầu có dạng phân bố cụm.

2.3 Thảo luận

Ở nước ta, mặc dù những nghiên cứu về rừng cây họ Dầu ở miền Đông Nam Bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng còn rất hạn chế, nhưng vẫn có thể phân chia sơ bộ những nghiên cứu ấy thành hai nhóm. Nhóm một bao gồm những nghiên cứu về hệ thực vật rừng, đánh giá tài nguyên thực vật rừng, thổ nhưỡng và khí hậu nhằm mục đích quy hoạch và xác định phương hướng phát triển kinh tế. Nhóm hai bao gồm một số nghiên cứu về kỹ thuật tạo rừng nhân tạo (gieo ươm và trồng rừng cây họ Sao - Dầu) và tái sinh tự nhiên cây họ Sao - Dầu. Nói chung những nghiên cứu này đã đóng góp một số thông tin có giá trị ban đầu để hiểu biết về cây họ Sao - Dầu ở miền Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, có thể nói rằng đa số những nghiên cứu về rừng cây họ Sao - Dầu còn sơ lược, tản mạn và đôi khi thiếu phương pháp và cách thức nghiên cứu có hiệu quả. Vì thế, tác giả nhận thấy cần phải thảo luận thêm một số vấn đề sau đây:

(1) Những nghiên cứu trước đây cũng chưa làm sáng tỏ thành phần và kết cấu loài cây cũng như cấu trúc của các ưu hợp thực vật ưu thế cây họ Sao – Dầu. Do đó, đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu.

(2) Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu và đánh giá chi tiết về kết quả tái sinh tự nhiên dưới tán rừng ưu thế cây họ Sao - Dầu ở Đồng Nai. Vì thế, hiện nay vẫn chưa có những chỉ dẫn về phương pháp tái sinh tự nhiên những quần xã thực vật ưu thế cây họ Sao – Dầu ở Đồng Nai. Chính vì thế, đây là vấn đề cũng cần được tiếp tục nghiên cứu.

Chương 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


3.1 Đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những quần xã thực vật ưu thế cây họ Sao - Dầu trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Đồng Nai.





  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương