Cố Mục Sư Nguyễn Duy Xuân LỜi tác giả. Mục đích tôi viết quyển sách làm chứng này


CHƯƠNG SÁU ƠN CHÚA THƯƠNG XÓT TẠI QUẬN LỴ LONG THÀNH



tải về 1.82 Mb.
trang3/8
Chuyển đổi dữ liệu02.06.2018
Kích1.82 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

CHƯƠNG SÁU

ƠN CHÚA THƯƠNG XÓT TẠI QUẬN LỴ LONG THÀNH

Sau một niên học tốt nghiệp trở về. Chúng tôi được bổ chức đến Hội thánh Long Thành, tháng 8, năm 1950. Hội thánh Long Thành là một Chi hội nhỏ, chỉ có chừng 10 tín hữu mà lại không có Mục sư đã hơn một năm, nên nhà cầm quyền địa phương như có vẻ xem thường!

Khi chúng tôi đến Long Thành được vài tuần, có chừng năm, bảy người trong làng xa đến tìm tôi hỏi thăm Đạo và tin Chúa. Sau đó, họ nhờ tôi đến nhà binh Pháp xin giấy tờ và cũng yêu cầu tôi cho họ tạm trú ít ngày tại nhà thờ. Tôi dẫn họ đến chỗ nhà binh xin giấy tờ. Việc này gây nên sự va chạm với ông Chủ Quận địa phương. Ông nói việc đó do thẩm quyền của ông chớ chẳng phải của nhà binh. Ông phàn nàn tôi dữ dội tại nhà làng. Đoạn, ông cho lính đến vây nhà thờ, bắt hết các tín đồ mới. Cảm thấy Danh Chúa bị tổn thương, chúng tôi cầu xin Chúa bênh vực Danh Thánh của Ngài, đừng để loài người ỷ thế lực khinh dể Danh của Chúa, và xin Ngài giải thoát anh em tín hữu mới, để họ thấy quyền phép lớn lao của Chúa hầu bước theo đường lối của Ngài.

Cám tạ ơn Chúa, vài ngày sau, anh em tín hữu ấy được trả lại tự do. Hơn thế nữa, chính Đức Chúa Trời binh vực Danh thánh của Ngài. Chừng 15 ngày sau, viên Chủ quận ấy bị cách chức và phải giao quyền lại cho viên Thơ ký Quận thay thế tạm.

Lại nữa, vài tháng sau, cũng có vài người từ trong làng xa đến tìm tôi để xin tin Chúa và nhờ tôi giúp xin giấy tờ. Ngược lại lần trước, tôi không dẫn họ đến nhà binh mà lại dẫn họ đến Nha quận để xin giấy tờ. Sau khi họ được giấy tờ vài ngày thì nhà binh Pháp lại đòi các tín hữu ấy đến bắt giam và nói rằng: Họ là Việt minh, cùng quở trách nặng viên Thơ ký thế quyền Chủ quận. Người đổ lỗi tại tôi giới thiệu. Sau đó, viên quyền Chủ quận mời tôi đến Nha quận phàn nàn lắm lời. Trở về nhà, chúng tôi cầu xin Chúa giải thoát giùm anh em tín hữu mới tin Chúa, để họ thấy ơn yêu thương của Ngài.

Cám ơn Chúa, vài ngày sau thì nhà binh Pháp trả tự do cho anh em tín hữu. Tuần sau đó, viên thư ký quyền Chủ quận bị đổi đi xa một cách gấp rút, bỏ vợ con lại có vẻ thật buồn bã! Lúc bấy giờ có dư luận lầm tưởng chắc Đạo Tin Lành có thế lực nào phía sau bênh vực? Nhưng trên thực tế thì người có Đạo Tin Lành ai cũng biết rõ Đạo chẳng nương nhờ một thế lực nào của đời này. Chúng tôi chỉ nương dựa vào thế lực của Đấng cầm quyền vũ trụ. Đấng đó tức là Đức Chúa Trời, như Chúa đã phán với Giê- rê-mi: “Ta lập ngươi lên làm cột bằng sắt, làm tường bằng đồng… Họ sẽ tranh đấu với ngươi, nhưng không thắng hơn ngươi được.” (Giê-rê-mi 1:18-19).

Sau đó vài tháng, một viên Tân Chủ quận được bổ chức đến, người rất tử tế, thỉnh thoảng mời chúng tôi đến dùng cơm thân mật tại tư gia của ông. Đôi khi người cũng đến nhóm họp tại nhà thờ. Đã có một lần, tôi nhờ ông thông dịch bài giảng của tôi ra tiếng Pháp trước buổi lễ chiến sĩ trận vong của quân đội Pháp.

ƠN CHÚA NGĂN TRỞ KẺ HÀNH HUNG

Nhớ lại một việc, đến nay nhắc lại cũng còn ngán kẻ hung dữ. Nếu ở đời mà đem lý lẽ nói chuyện phải trái với kẻ không muốn nghe phải trái, thì cũng không khác nào mang họa vào thân.

Một buổi trưa kia, có đám vợ con lính nhà binh đến bẻ phá trái cây chung quanh nhà thờ, vừa hái ăn, vừa ném bỏ. Thấy vậy, tôi đến nói với họ “Cây trái có chủ, chị em đến hái ăn sao không hỏi xin tôi. Tại đây là nhà thờ, gần sát bên nhà binh mà chị em còn hành động như vậy, huống chi ở nhà quê thì chị em đối xử với đồng bào ta như thế nào nữa? Nói cho biết vậy thôi, chị em ăn bao nhiêu cứ hái ăn, nhưng đừng hái ném bỏ các trái non.” Họ giận bỏ ra về và nói thêu dệt với các anh chồng lính như thế nào không rõ mà các anh lính hăm dọa sẽ đến hành hung tôi. Trong trại lính có mấy tín hữu nghe tự sự đều khuyên can; nhưng họ cương quyết hẹn nhau 6 giờ chiều đến nhà tôi... Được tin cho hay, chúng tôi cũng ngán bọn ác ôn (Biết rằng: Đám lính này, mấy tháng trước có vây đánh viên Chủ quận, khiến người phải chạy trốn trong một phòng thánh của nhà thờ công giáo, và được đoàn xe chánh phủ từ Biên Hòa đến rước đi luôn). Có người tín hữu đề nghị với chúng tôi nên báo tin khẩn cấp cho vị Quan ba nhà binh hay để can thiệp. Nhưng chúng tôi chỉ muốn cầu xin cánh tay quyền năng Chúa can thiệp mà thôi; chớ không muốn cậy chút thế lực nào khác bênh vực. Cám ơn Chúa, cánh tay Đức Chúa Trời không phải ngắn mà không bảo vệ chúng tôi được.

Chiều hôm đó, không thấy đám lính hăm dọa ấy đến. Sáng hôm sau, tín hữu ở trong nhà binh đến cho chúng tôi hay rằng: “Đám lính muốn đến đánh Thầy tôi khuyên không được. Chiều hôm qua, có lệnh đi hành quân, mấy thằng đầu đảng đã tử trận hết rồi, Thầy đừng lo sợ chuyện ấy nữa.” Thật ơn Chúa bảo vệ rất diệu kì! Ngài không để chúng tôi bị sa vào tay đám người gian ác như tác giả Thi thiên đã nói “Đức Chúa trời bênh vực tôi; loài người sẽ làm chi tôi?”… “Thà nương náu mình nơi Chúa, còn hơn tin cậy loài người” (Thiên 118: 6 – 8).



ƠN CHÚA BẢO VỆ KHỎI SÚNG ĐẠN

Lúc bấy giờ, thỉnh thoảng mọt chê từ trong đồng ruộng bắn ra trúng vào phía nhà binh, mà nhà thờ thì nằm sát bên hàng rào nhà binh. Nếu mọt chê chỉ đi sái trong gang tấc thì có thể lọt vào nhà thờ. Sự nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ giờ phút nào không lường trước được. Nhưng cám tạ ơn Chúa, Ngài đủ quyền bảo vệ chúng tôi như Tác giả Thi Thiên đã nói: “Sẽ có muôn ngàn người sa ngã bên ngươi; song tai họa sẽ chẳng đến gần trại ngươi”. (Thi Thiên 91:7) Và mấy tháng sau đó, một trái đạn pháo cỡ lớn lọt ngay vào khu nhà thờ gây thiệt hại ít nhiều về vật chất; nhưng cám ơn Chúa, lúc đó chúng tôi đã đổi về Hội thánh Bình Hòa Phước. Và được biết rằng trái đạn ấy đã gây cho người giữ nhà thờ ngủ trên cái giường mà chúng tôi ngủ khi trước bị hộc máu và té xỉu, phải chở vào bệnh viện cấp cứu. Chúng tôi nhớ lại ơn Chúa đối với chúng tôi thật rất diệu kì! Nếu lúc đạn trái phá rớt như vậy mà chúng tôi và ba cháu nhỏ còn ngủ ở đó, chắc có thể bị lâm nạn ! Thật cám tạ ơn Chúa.



ƠN CHÚA BẢO VỆ KHỎI SẬP NHÀ THỜ.

Nhớ lại một buổi sáng kia, tôi cùng anh Lương Văn Học, Chấp sự Hội thánh Long Thành, đang đứng bên hông nhà thờ nói chuyện. Thình lình, anh Học chạy lấy thang leo lên coi cây chốt của cây trính sường nóc nhà thờ. Xem kỹ chỉ còn là vỏ, còn ruột bị mối mọt ăn hết. Tiếp tục xem xét hết thảy nhà thờ thì thấy mấy chốt khác cũng chỉ còn là vỏ. Hoảng sợ, chúng tôi liền làm lại những cây chốt mới để thay thế và hơn thế thế nữa, còn đóng phụ thêm vào những cây đinh lớn rất chắc.

Tuần sau, một cơn bão dữ dội, thổi đến suốt đêm. Nhà thờ bị rung chuyển với tiếng kêu nghe răng rắc rất khủng khiếp! Cơn bão này quá mạnh gây cho hàng trăm cây cối ngã đổ, nhiều nhà bị hư sập và lụt ngập cuốn nhiều nhà trôi đi. Cám ơn Chúa. Nếu Ngài không chỉ dẫn tìm ra mối mọt kịp thời, chắc nhà thờ có thể bị sập ngay lúc bão; và gia quyến chúng tôi ngủ ở phòng sau nhà thờ, không biết tánh mạng như thế nào? Thật Chúa là Đấng biết trước tất cả mọi sự hiểm nguy sẽ xảy ra trên chúng tôi, nên Ngài thi hành sự cứu giúp đúng lúc, kịp thời, hầu bảo vệ chúng tôi khỏi tai nạn! Cám ơn Chúa

ƠN CHÚA CỨU NHÀ VÀ NHÀ THỜ KHỎI BỊ CHÁY.

Buổi sáng kia, tôi đi đến một làng xa để thăm tín hữu, nhưng không biết sao hôm đó lại muốn về nhà sớm. Vừa về đến trước cửa nhà thì thấy cái nhà tranh của người lân cận kế bên đang cháy. Nhà bếp và nhà ở của chúng tôi gần bên cạnh nhà bị cháy cũng được lợp bằng tranh, và nhà thờ tuy lợp ngói, nhưng lại nằm gần sát bên nhà bếp. Hốt hoảng, chúng tôi chạy đến chữa lửa thì thấy một đứa gái độ 14 tuổi làm cháy nhà rồi chạy ra sân cười hoảng! Chúng tôi tạt nước lên nhà bị cháy, nhưng ngọn lửa nóng quá khó đến gần. Đồng thời, chúng tôi cũng lo tạt nước lên mái nhà bếp để tàn lửa tắt khi vừa rớt xuống. Mặc dầu chúng tôi tận tâm chữa lửa, nhưng nhà hàng xóm cũng đã cháy gần hết. Song cám ơn Chúa, nhà chúng tôi thì không sao! Nếu tôi về trễ độ năm, ba phút, thì nhà bếp chúng tôi có thể bị lửa cháy lan và nhà thờ nằm kế bên nhà bếp cũng không biết sẽ ra như thế nào? Sự dẫn dắt của Chúa khiến tôi về kịp lúc rất diệu kỳ! Thật cám tạ ơn Chúa.



ƠN CHÚA DỰ BỊ VẬT LIỆU XÂY CẤT NHÀ.

Chiến tranh cũng đã xảy đến tàn phá làng tôi (Mỹ An). Ông bà thân và hai em trai tôi phải ra tá túc với chúng tôi. Cả gia quyến gồm 9 người mà số tiền trợ cấp của Hội thánh cũng chẳng được bao nhiêu. Hơn nữa, Hội Truyền Giáo cho hay họ không còn có công quỹ giúp đỡ cho những Hội thánh thiếu nữa. Vậy các vị mục sư, truyền đạo tùy ý tự túc để có phương tiện hầu việc Chúa. Chúng tôi cầu nguyện Chúa chỉ dẫn cách nào để có thể hầu việc Chúa. Sau ít ngày cầu nguyện, chúng tôi bàn tính cất vài căn phố để có chỗ cho hai em tôi mua bán, hầu nhẹ bớt gánh nặng gia đình được phần nào.

Tôi liền đến trình bày cùng ông Chủ quận, muốn cất vài căn phố ở chợ, để hai em tôi sinh sống vì họ ở từ quê xa mới tản cư ra. Ông rất vui lòng. Nhưng làm sao cho có đất? Ông suy nghĩ một chút rồi nói: “Được, tôi sẽ cho dời hai căn nhà cây để cho dân hồi cư tạm trú ra một chỗ khác, nhường chỗ đất đó cho ông cất nhà.” Thật cám ơn Chúa cho chúng tôi được may mắn! Sau đơn xin xây cất hai căn nhà bằng gạch ngói được chấp thuận tại Quận, chúng tôi nạp đơn đến Tỉnh Biên Hòa, thì đơn bị ém nhẹm khá lâu; nhưng nhờ viên Chủ quận tận tình giúp đỡ nên mọi việc cũng được xong. Đã có giấy phép rồi, bây giờ làm sao mua được gạch và cây? Vì chiến tranh, chẳng ai dám vào rừng đốn cây, và lò gạch cũng bị bỏ hoang. Tôi cậy người quen đi tìm mua gạch cũ và cây cũ. Ít ngày sau, có một người muốn bán gạch cho tôi, vì muốn có tiền, nên người liều mạng vào rừng sâu để cạy lò gạch cũ của nhà binh Nhật khi trước bỏ lại, đem về bán cho tôi số gạch vừa đủ xây hai căn nhà. Còn dư lại bao nhiêu trong rừng, nhà binh Pháp sau đó đến sung công hết số gạch ấy để dùng vào việc xây cất trại lính. Cám ơn Chúa đã dự bị cho chúng tôi mua được đủ số gạch cần thiết để làm hai căn nhà; cũng như mua được cây của một người dự bị cất nhà nhưng không cất, bán lại cho tôi.

Chúng tôi đã xây xong hai căn phố và đóng được mè, ron; nhưng không tìm được nơi nào bán ngói. Chúng tôi đến Biên Hòa kiếm mua cũng không được vì tất cả lò gạch ngói lúc bấy giờ đều bỏ hoang. Chúng tôi rất lo vì mùa mưa đã đến. Trải qua một tháng, chúng tôi tha thiết cầu nguyện, xin Chúa giúp đỡ cách nào để có ngói.

Cám ơn Chúa, một buổi sáng kia, tôi đang ngồi trước hai căn nhà mới ngẫm nghĩ… thình lình có một người đến hỏi: “Thầy mua cây không?” Tôi trả lời: “Cần ngói chứ không cần cây”. Người la lên: “Ô hôm qua tôi thấy có nhiều người kéo cả chục xe bò ngói để tại làng Phước Lai!” Mừng quá, tôi liền nhờ người dẫn đường đến chỗ có ngói. Người có ngói thấy tôi muốn mua cũng mừng lắm, vì sợ nhà binh biết được, thì số ngói sẽ bị xung công. Sau khi giá cả xong, người bán ngói chở liền cho tôi nội trong ngày. Qua ngày hôm sau, nhà binh đến cùng người bán ngói để sung công số ngói; nhưng người bán đã chở hết ngói đến cho tôi kịp thời. Cám ơn Chúa, Ngài đã đáp ứng lời cầu nguyện rất diệu kì! Nếu chỉ trễ một ngày là tôi không mua được số ngói hiếm có ấy.

Sau đó, người bán ngói nói với chúng tôi: “Không biết ai xui giục mà tôi chịu cực khổ cả tuần nay, xuống tới rừng sát chở ngói đem về quá sức cực nhọc, thiếu điều muốn bỏ mạng, nhưng bán cũng không được bao nhiêu tiền và may là còn bán được, nếu trễ một ngày là nhà binh lấy hết!” Nghe biết vậy, chúng tôi càng thêm lòng tạ ơn Chúa đã giục lòng người đó mang về số ngói cho chúng tôi để lợp nhà.

Khi lợp xong, chúng tôi thấy còn thiếu chừng 500 tấm. Chưa biết tính lẽ nào thì cám ơn Chúa, tuần sau, có một ông già quen cùng xóm, kéo ngang qua một xe bò ngói, kêu tôi: “Thầy cần ngói không?” Tôi chỉ kiếm mua vài trăm tấm mà người bán buộc tôi phải mua hết số ngói mới chịu bán; nên tôi sẵn xe kéo hết về đây”. Mừng quá! Miệng tôi lẩm bẩm cám ơn Chúa về sự dự bị của Ngài rất diệu kì, khiến chúng tôi được nhiều may mắn. Cũng như Tác giả Thi Thiên đã kinh nghiệm ơn Chúa nên đã nói: “Phước cho người nào có Đức Chúa Trời của Gia-cốp giúp đỡ mình” (Thiên 146:5 ). Nhờ có số ngói này nên tôi lợp vừa đủ lỗ trống còn thiếu! Cám tạ ơn Chúa.

ƠN CHÚA CỨU HAI CĂN NHÀ CHÚNG TÔI VỪA MỚI CẤT KHỎI BỊ CHÁY.

Hai căn nhà vừa làm xong, tôi đến ngủ nhà mới để sửa sang thêm vài việc cần làm. Thình lình khoảng hai giờ khuya đêm đó, gần năm, sáu chục căn nhà tranh bên kia lộ đối diện nhà tôi bị hỏa họan. Con lộ này nhỏ nên lửa lòe ngọn qua gần tới cửa sau nhà chúng tôi. Hơn nữa, đồng bào bị nạn, họ như mất hồn, quăng bừa bải mùng, mền, chiếu, gối, rương trắp, nằm ngổn ngang ngay cửa sau nhà chúng tôi; và lửa cũng đã bắt đầu cháy đồ đạc sát bên cửa cây rồi. Ở phía trong nhà ngó ra thấy đồ đạc cháy bên cửa; nhưng tôi không làm sao mở được cửa để tạt nước, vì ngọn lửa bên kia lòe qua nóng cách khủng khiếp! Tôi xin Chúa cứu giùm nhà tôi khỏi bị cháy. Cám tạ ơn Chúa, Ngài liền khiến có một ngọn gió thổi ngọn lửa ngược trở lại! Thấy bớt nóng, tôi liền hé cửa tưới nước trên đồ vật đã bị cháy. Đồng thời, tôi cũng tạt nước trên cửa và mái nhà nghe tiếng xèo xèo. Tuy nhà không bị cháy nhưng cửa cũng bị xém đen. Thật cám tạ ơn Chúa. Nếu gió không trở ngọn; và nếu tôi không đến ngủ tại nhà mới trong đêm đó, chắc nhà đã bị cháy. Thật Đức Chúa Trời có vùa giúp chúng tôi cất được nhà và bảo vệ giùm sản nghiệp nên mới khỏi bị hỏa hoạn! Chúng tôi suy nghĩ: Nếu Chúa không bảo vệ sản nghiệp, thì con người dù có cố gắng làm việc bao nhiêu cũng luống công như Tác giả Thi Thiên nói: “Nếu Đức Chúa Trời không cất nhà, thì những thợ xây cất nhà lấy làm uổng công.” (T.Thiên 127:1).



ƠN CHÚA NHẬM LỜI CẦU NGUYỆN CỨU MỘT ĐỨA TRẺ TỈNH LẠI.

Buổi chiều kia, tôi đang đi dạo ngoài vườn. Thình lình vợ tôi chạy ra cách vội vả mời vô cầu nguyện cho em Trí, nó đau nặng và sắp tắt thở. Má nó vừa ẵm đến khóc lóc xin cầu nguyện. Tôi trở vào nhà, lòng thầm nguyện, xin Chúa cứu giùm em Trí, vì má em nầy mới tin Chúa. Tôi nhìn đứa bé thấy mặt tái xanh, chỉ còn nghe một tiếng hướt. Hiện diện trong lúc đó, có cả gia quyến đứa bé gồm ba người chưa tin Chúa (Bà ngoại, Cậu và Dì). Tôi cúi đầu cầu nguyện lớn tiếng xin Đức Chúa Trời ban một ơn huệ cứu giùm đứa bé, để cho bà con chưa tin Chúa đứng đây thấy quyền phép lạ lùng của Ngài, để họ có thể tin Ngài hầu cho linh hồn được cứu! Tôi tiếp tục cầu nguyện chừng 5 phút. Tạ ơn Cứu Chúa vì quyền phép Chúa thật lạ lùng. Sau khi cầu nguyện xong, em Trí mở mắt ra bình tĩnh như chẳng đau bệnh gì.

Cả gia quyến đứa bé phát cười rộ lên vui vẻ! Lợi dụng cơ hội, tôi khuyên mỗi người nên tin Chúa. Cám ơn Chúa, cả gia quyến đều tin Chúa Jê-sus liền trong giờ đó. Và suốt thời gian chúng tôi còn hầu việc Chúa tại Hội thánh Long Thành; gia quyến này vẫn thường xuyên đi nhà thờ để thờ phượng Chúa.

ƠN CHÚA DỰ BỊ MỘT CHIẾC XE VỀ KỊP NGÀY CHÚA NHẬT

Một buổi chiều kia, tôi từ Sài Gòn về Biên Hòa. Tôi biết đã trễ giờ đón xe về Long Thành, vì đã quá 5 giờ chiều mà chiếc xe đò tôi đang đi chưa về đến Biên Hòa (Từ Long Thành đến Biên Hòa phải chờ 10 ngày mới có một ngày mà nhà binh hộ tống cho xe lưu thông, nhưng đến 5 giờ là hết xe). Tôi cúi đầu cầu nguyện, xin Chúa dự bị cho một chiếc xe đi trễ để tôi có thể về Long Thành. Vì nếu bị trễ xe, phải mất 10 ngày nữa mới về nhà được, phải bỏ hai Chúa nhật. Khi xe đò đến Biên Hòa, cám ơn Chúa, tôi thật vui mừng thấy vẫn còn một chiếc xe đang chết máy, anh tài xế đang lui cui sửa. Các hành khách ngồi dựa mé lộ khoanh tay có vẻ bực bội! Tôi hỏi: “Chào các bà. Xe còn chỗ không?” – “Còn, mà xe bị chết máy.” Mừng quá! Tôi bước lên xe ngồi. Liền lúc đó anh tài xế cũng vừa sửa máy xong. Lên xe cho máy nổ thử. Máy nổ. Các hành khách reo lên cười rộ! Đoạn, xe bắt đầu chạy. Một bà hành khách nói: “Ông này là ông gì mà vừa leo lên xe là xe chạy được! Từ sớm đến giờ anh tài xế sửa muốn hụt hơi mà máy không nổ”. Nghe vậy, lòng tôi cám tạ ơn Chúa hơn nữa, vì biết Đức Chúa Trời đã đáp ứng lời cầu nguyện nên đã dự bị một chiếc xe bị trục trặc để đưa tôi về Long Thành cho kịp ngày Chúa nhật. Cám ơn Chúa, dầu chỉ là việc đi đường tầm thường Chúa cũng vui lòng giúp đỡ, nên khi đi cũng như lúc về đều được may mắn và có phước. Đúng như lời Chúa phán trong sách Phục truyền: “Nếu ngươi nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời cách trung thành, cẩn thận làm theo… Ngươi sẽ được phước trong thành và được phước ngoài đồng ruộng… Người sẽ được phước khi đi ra, và sẽ được phước khi đi vào.” (Phục truyền 28:1,3,6).



ƠN CHÚA GIÚP CHO VIÊN PHI CÔNG BỚT SAY.

Một ngày kia, tôi có việc cần phải đi Sài Gòn, nhưng chưa đến ngày có xe nhà binh hộ tống. Tôi phải đi nhờ máy bay 4 chỗ ngồi của hãng cao su. Khi máy bay cất cánh được ít phút, thì anh phi công Pháp lái máy bay gục lên gục xuống vì đã uống quá nhiều rượu đế. Tôi và hai hành khách ngồi phía sau đều phát sợ! Một bà hành khách nói: “Trước khi lên máy bay, thấy nó uống cả sị (chai sá- sị) rượu đế. Chúng tôi bàn luận phải làm sao, chớ để người nầy ngủ gục thì nguy! Tôi vỗ vai kêu thức dậy đi! Người cố nhướng mắt lên. Nhưng sau đó, người cũng gục xuống nữa như mê ngủ. Biết chuyến bay có thể nguy hiểm, tôi cúi đầu cầu nguyện, xin Chúa giúp cho người được tỉnh rượu trong giờ phút có cần. Nếu chuyến bay này gặp nạn là chấm dứt đời tôi trên đất. Xin Chúa cho tôi sẵn sàng gặp Chúa. Đoạn, tôi kêu người một lần nữa. Cám ơn Chúa người có vẻ khá hơn đôi chút. Tôi bắt đầu chú ý máy móc, xem xét những nút, tay lái và thắng để đề phòng rủi người phi công nầy có bị mê man thình lình thì trong trường hợp bất trắc, tôi sẽ đánh liều thay thế. Nhưng cám ơn Chúa, anh phi công lần lần được khá hơn nên có thể điều khiển máy bay đáp xuống sân được an toàn. Hai người hành khách cũng như tôi đều thở được một hơi nhẹ nhàng vì nhận biét mình được thoát nạn!



CHÚA SAI MỘT QUÂN NHÂN PHÁP ĐẾN SỚM ĐỂ CẦM TÔI Ở LẠI NHÀ

Có vài lần tôi được giấy của nhà cầm quyền địa phương xin Hội thánh tổ chức “cầu nguyện cho chiến sĩ trận vong”. Nhưng lần nào nhà cầm quyền cũng chỉ đến dự bên nhà thờ Công giáo mà thôi. Có lẽ họ biết Tin lành chỉ cầu nguyện cho người đang sống chớ không cầu hồn cho người đã chết như bên Công giáo.

Một ngày kia, ông Chủ quận cũng gởi giấy đến yêu cầu tôi tổ chức cầu nguyện cho “Chiến sĩ trận vong”. Tôi nhận lời và nghĩ rằng chắc không ai đến dự như những lần trước. Vả lại, ngày cầu nguyện là ngày thứ năm, ngày đó tôi và ban thăm viếng phải đi thăm tín hữu. Nên sáng sớm ngày hôm đó, tôi mời tín hữu ở gần đến nhóm cầu nguyện, định ý sau đó, tôi sẽ đi thăm viếng. Vừa cầu nguyện xong, tôi và anh Chấp sự Hội thánh dẫn xe đạp đi ra. Lúc bấy giờ độ 9 giờ sáng. Vừa ra tới cửa là gặp ngay một quân nhân Pháp. Người nói: Tôi là tín hữu đến dự nhóm cầu nguyện. Chúng tôi trở vào nhà nói chuyện để làm quen.

Sau vài chục phút, chúng tôi bước vào nhà thờ khỏi sự hành lễ. Thì thình lình hai xe nhà binh chở đầy người ngừng lại trước cửa. Có Quan Ba, quan Tư bước xuống cùng với viên Chủ quận, làng và lính gần năm, sáu chục người. Tôi đọc Kinh thánh sách I Timôthê 2:I-2 rằng: “Hãy cầu nguyện cho các Vua, cho hết thảy bậc cầm quyền để chúng ta được lấy đều nhơn đức và thành thật mà ở đời cho, bình tịnh và an ổn”. Tôi nhờ ông Quận trưởng thông dịch giùm bài giảng ứng khẩu của tôi ra tiếng Pháp.

Khi cuộc nhóm họp xong, tôi ngồi nghĩ lại tự sự vừa qua. Lòng rất cám tạ ơn Chúa, vì chính Ngài có sai một quân nhân Pháp đến sớm hơn một giờ để cầm tôi ở lại nhà thờ. Nếu buổi sáng hôm đó, nhà cầm quyền địa phương đến đông như thế mà tôi không có ở nhà để tổ chức cầu nguyện như lời họ đã yêu cầu, vì tôi cũng đã hứa, thì nhà cầm quyền có thể than phiền; rồi tôi cũng không biết phải trả lời làm sao với họ và có thể bị xấu hổ vì không giữ đúng lời hứa. Nên mỗi khi tôi nhớ lại sự này, miệng tôi luôn cám tạ ơn Chúa về sự lo liệu của Ngài rất diệu kì! Thật Chúa là Đấng biết trước tất cả mọi sự để giúp đỡ tôi làm xong được một trách nhiệm khá quan trọng mà tôi không ngờ trước được, một sơ sót có thể thật tai hại. Cám tạ ơn chăm sóc thật vẹn toàn của Cứu Chúa đối với chức vụ chúng tôi.

CẦU NGUYỆN CHO MỘT NỮ PHÁP SƯ TIN CHÚA

Một ngày kia, tôi đến thăm nhà một ông thầy thuốc, gặp một bà đến đó chữa bệnh. Tôi nói về tình yêu thương của Cứu Chúa Jê-sus cho bà, và bà có vẻ rất quan tâm. Bà tự giới thiệu tên là Cam, Nữ pháp sư có quyền trừ tà ma và có độ 300 bổn đạo theo bà. Nhà bà có cả thảy 7 bàn thờ, nhang đèn cháy suốt ngày đêm, bổn đạo đến cúng hiến, lợi tức cũng khá nhiều. Bà hỏi tôi nhiều câu và cuộc nói chuyện kéo dài hơn 2 giờ. Sau đó, bà hẹn ngày trở lại để đàm luận thêm.

Thật đúng y như lời hẹn, tuần sau Bà trở lại đàm luận, và việc đó cứ tái diễn như thế được 4 lần. Rồi một lần kia, bà đến xin tôi cho viếng nhà thờ. Bà ngó trước, ngó sau, ngó cả bàn ghế như có nhiều suy nghĩ… Đoạn, bà hỏi tôi vài câu trước khi xin tôi cầu nguyện cho bà tin Chúa. Kế đó, bà kể chuyện: “Tháng rồi tôi có thấy một điềm chiêm bao rất lạ lùng, có một Đấng mặc đồ trắng, mặt sáng lòa dẫn tôi đi vào trong một căn nhà có bàn ghế giống như trường học. Đoạn, Đấng ấy kêu tôi “hãy quì xuống cầu nguyện thì được cứu.” Cả tháng nay, tôi suy nghĩ nhiều lắm và hôm nay, tôi vào xem nhà thờ đây sao giống trong cảnh chiêm bao tôi quá! Nhứt là không có hình tượng nào như ở Chùa hay là như ở nhà thờ Công giáo mà tôi có vào để quan sát.

Sau khi nhơn danh Đức Chúa Jê-sus cầu nguyện cho bà và dạy bà cách cầu nguyện với Chúa, tôi cắt hết thảy giây bùa phép đeo trên cổ, trên tay. Tuần sau, bà đi nhà thờ dẫn theo con và cháu chừng 6 người xin tôi cầu nguyện tin Chúa. Bà rất sốt sắng đi đây đó làm chứng về quyền phép Chúa Jê-sus, ai nấy trong làng hết sức ngạc nhiên về Đạo Chúa! Trong số bổn đạo của bà sau đó có độ 5 người tin Chúa; còn bao nhiêu người khác thì chống đối bà kịch liệt! Nhưng bà vui vẻ, yêu thương hết lòng làm chứng về quyền năng của Cứu Chúa cho họ.

Bà sốt sắng trong đức tin được vài năm, rồi sau đó, bà nhóm lại ít hơn và mỗi lần nhóm lại là bà lại ngủ gục, không thể nghe giảng được. Bà nói: “Tôi có chứng bệnh ngủ; nhiều người cũng bệnh như tôi vậy”.

Một buổi sáng Chúa nhật kia, tôi mời bà vào nhà riêng để cầu nguyện cho bà hết bệnh ngủ gục. Bà cầu nguyện và khóc lóc, xưng tội vì bị cám dỗ chơi cờ bạc. Sau đó tôi nhơn Danh Chúa Jê-sus cầu xin Chúa cứu bà khỏi chứng bệnh ngủ. Thật cảm tạ ơn Chúa, từ đó về sau, bà nghe giảng rất chăm chú như trước, bệnh buồn ngủ không còn nữa và bà đã giữ được đức tin cho đến ngày về nước Chúa!



ĐỦ TIỀN TRẢ NỢ

Khi chúng tôi cất căn nhà ở Long Thành, có vay số tiền 20.000 của một người bạn chưa tin Chúa. Chúng tôi hứa chắc trong danh dự, ngày nào người cần là chúng tôi sẽ hoàn lại. Ít tháng sau, khi chúng tôi được đổi đến Hội thánh Bình Hòa Phước. Người nầy gởi thơ cho chúng tôi hay, người cần lấy tiền lại nội trong một tháng. Chúng tôi trả lời là sẽ trả đúng hẹn. Gần đến ngày hẹn mà chúng tôi chưa lo được tiền, nên hết sức bối rối vì mình là tôi tớ của Chúa, đã hứa chắc với bạn trong danh dự, thì không nên sai lời hứa. Chúng tôi tha thiết cầu xin ơn Chúa giúp đỡ cách nào lo được tiền để trả cho người.

Đúng ngày hẹn, tôi xách cái cặp không tiền ra đi đến nhà chủ nợ. Ngồi trên chiếc xe đò gần suốt ngày, tôi luôn hướng về Cha Thánh, xin sự giúp đỡ của Cứu Chúa.

Cám tạ ơn Chúa, chính Ngài đã lo liệu mọi việc xong mà tôi chưa biết. Tới Long Thành, ghé lại nhà em tôi để thăm. Khi gặp nhau, em tôi nói mau lẹ: “À, anh, hôm qua có người đến yêu cầu em xin mướn căn nhà để mở tiệm cơm, chịu đưa cho em 20,000 trước. Anh tính sao?”



Mừng quá! Tôi cám tạ ơn Chúa và đến ngay người muốn mướn nhà, làm giao kèo, nhận 20,000 đồng và đem liền đến nhà chủ nợ để trả xong số nợ ấy đúng hẹn. Thật cám tạ ơn Chúa đã giúp tôi giữ được lời hứa với bạn, và cũng trả xong được số nợ khá lớn đối với tôi lúc bấy giờ.

Hình Chụp ở Long Thành Với Cha mẹ là Ông Bà Nguyễn Văn Bộ, em là Nguyễn V. Phò, với 2 con là Duy Tân và Ân Huệ



CHƯƠNG BẢY:

THOÁT NẠN TẠI HÒA NINH

CHIẾC ĐÒ MÁY ĐẦY NGUY HIỂM

Đầu năm 1955, chúng tôi được đổi đến Hội thánh Hoà Ninh. Khi tới Vĩnh Long gia đình chúng tôi tạm trú một đêm tại nhà thờ. Sáng hôm sau, chúng tôi xuống bến đò đi Bình Hòa Phước vì bấy lâu chỉ nghe tên Hội thánh Bình Hòa Phước chớ chưa nghe Hội thánh Hòa Ninh (Hòa Ninh là ấp, Bình Hòa Phước là làng, cách nhau độ 10 cây số). Chuyến tàu đò hôm ấy rất là nguy hiểm vì người đi quá đông nên đò thật khẩm. Khi ra gần giữa sông bị sống lớn, đò mấy lần nghiêng ngửa, thiếu điều bị lật. Chúng tôi hốt hoảng cầu xin Chúa cứu và bảo vệ để chiếc đò khỏi bị chìm! Cám ơn Chúa. Đò vừa qua sông là chết máy. Nếu chết máy lúc giữa sông chắc bị chìm!

Sau một hồi sửa chữa, đò lại tiếp tục đi dọc theo một khúc sông lớn rồi vào sông nhỏ. Kế lại, phải ra đi dọc theo sông lớn một lần nữa. Lần này tuy không ra khơi, nhưng không kém phần nguy hiểm vì hôm ấy gió rất mạnh, sóng lượn to mà đò lại chở đầy. Gia quyến chúng tôi có 4 con nhỏ, vợ tôi cũng không biết lội. Nếu rủi ro đò bị lật chìm, dù ở gần bờ cũng là nguy hiểm. Chúng tôi cầu xin Chúa cứu giúp cách nào cho qua được những cơn sóng lớn. Cảm tạ ơn Chúa, sự can thiệp của Chúa rất kì diệu! Liền sau đó, chiếc đò bị hư máy lần nữa, lần này ngừng nổ luôn, phải cập sát vào mé bờ để chống đi lần lần. Đò đi sát bờ nên chúng tôi bớt lo được phần nào. Nhưng chúng tôi hơi bối rối vì đã biết mình đi lộn đò. Hơn nữa, đứa gái nhỏ của chúng tôi đang bị sốt, nhiệt độ khá cao, và bụng ai nấy cũng bị đói vì xuống đò lúc 11 giờ trưa mà đã đến 3 giờ chiều, đò đi chưa tới bến.

SỰ GẶP GỠ BẤT NGỜ

Cám ơn Chúa, Ngài khiến cho người chống đò đậu nghỉ đúng vào một bến kia. Khi đò đậu ở đó được vài phút thì trên nhà có một bà cụ đi xuống thấy chúng tôi. Bà nhìn một hồi rồi hỏi: “Thầy đi đâu?” – “Tôi là Thầy giảng đạo mới đến Hội Thánh Hòa Ninh.” Bà liền hỏi: “Sao thầy không đi đò Hòa Ninh?” Khi đã biết chúng tôi đi lộn đò, bà liền ân cần mời chúng tôi lên nhà nghỉ và hứa đưa chúng tôi đến Hội thánh, vì con rể của bà là Thư ký của Hội thánh. Mừng quá! Nhờ vậy, chúng tôi có cơm ăn, có thuốc cho con chúng tôi uống, và được đưa đến Hội thánh trong ngày đó.

Bài học lộn đò kể như quá đắt! Có thể trả giá bằng mạng sống cho cả gia quyến. Nếu không có Đức Chúa Trời phù hộ đưa dùm qua cơn sóng gió nguy hiểm và cho tấp vào đúng chổ, thì khó được an toàn cho sinh mạng! Từ đây về sau, chúng tôi đi đâu, làm gì, đều suy nghĩ rất cẩn thận và cầu xin Chúa chỉ dẫn, vì sợ lạc đường cũng như sợ sai ý Chúa.

ƠN CHÚA CỨU KHỎI BỊ CƯỚP

Ở Hòa Ninh được 1 năm, thì có nạn cướp xảy ra. Chúng đánh cướp xóm làng gần như mỗi đêm. Chúng thường vào nhà, lôi người ra tra khảo, lấy đinh ngoái vào lỗ tai để đòi tiền. Cả làng, từ giàu đến nghèo, hễ đêm đến thì mạnh ai nấy tìm chỗ trú ẩn. Gặp những đêm mưa gió, thật khốn khổ cho dân làng! Loạn cướp xảy ra vài tháng như vậy hết sức khủng khiếp! (Cả làng ai cũng biết rõ họ là những quân nhân ở bót Bình Hòa Phước, dưới quyền tên cai tổng ác ôn, ban đêm đi tuần rồi lợi dụng cướp phá xóm làng!)

Về phần chúng tôi thì chẳng biết đi đâu và phải làm gì, chỉ cầu xin Chúa bảo vệ. Một đêm kia, bọn lính cướp này đến kêu cửa nhà tôi lúc 12 giờ khuya. Đã dự biết chúng là bọn cướp, tôi không mở cửa và nói: “Lúc này có nhiều cướp, tôi khó phân biệt chân giả. Vậy các ông là lính tuần thiệt, xin mời sáng mai trở lại đây nói chuyện hoặc tôi sẽ đến bót.” Sau khi nghe tôi nói vậy, chúng nó bước ra sân ngồi thảo luận. Chúng tôi lắng tai nghe một tên đề nghị: “Phá cửa vào đi.” Nghe vậy chúng tôi hoảng sợ, quỳ gối xuống cầu xin sự giải cứu từ cánh tay quyền năng của Đức Chúa Trời (Thật sự chúng tôi không sợ mất tiền bạc, của cải, nhưng sợ chúng tra khảo tàn nhẫn như đồng bào đã kể lại). Chúng nó cứ ngồi đó bàn luận gần 2 tiếng đồng hồ mới chịu bỏ ra đi. Thấy bọn chúng xuống ghe đi, chúng tôi mới thở được một hơi thở nhẹ nhàng, và cảm tạ ơn Chúa đã xô đuổi, khiến chúng nó sợ mà không dám phá cửa.

Sáng hôm sau, chúng tôi chưa biết tính lẽ nào, thì Chúa sai một người cùng xóm ghé nhà chúng tôi báo tin rằng: “Tôi có nghe những lính tuần hỏi thăm Thầy lãnh lương được bao nhiêu.” Nghe vậy, chúng tôi biết bọn chúng đã có ý đến nhà chúng tôi. Chắc chắn thế nào bọn chúng cũng sẽ trở lại. Chúng tôi cùng hiệp chung cầu nguyện, xin ý Chúa soi dẫn. Đoạn, chúng tôi sửa soạn đồ đạc vào các va li và nhờ một anh em tín hữu đem ghe đến chở dùm qua Vĩnh Long và dặn người đó đậu ghe tại Cầu Kinh Cụt chờ chúng tôi tại đó. Đến 6 giờ chiều, chúng tôi đi đò máy qua Vĩnh Long và đến ngay chỗ hẹn nhưng không thấy ghe. Khi tìm gặp, chúng tôi hỏi: “Sao đậu ở đây?” Người ấy trả lời: “Nước ở Cầu Kinh chảy mạnh quá, không đậu được nên tôi bị trôi dần xuống đây.” Lúc bấy giờ là 7 giờ tối và anh chèo ghe chưa biết tính lẽ nào. Thình lình, có một ông cụ từ nhà gần đó đi xuống hỏi: “Các ông đi đâu?” Tôi trả lời: “Chúng tôi ở Hòa Ninh chạy cướp qua đây, ông có biết nhà nào cho mướn không?” Người liền trả lời: “Có một nhà gần đây cách chừng vài trăm thước.” Mừng quá! Tôi liền theo ông cụ ấy đến mướn được nhà, đoạn, dọn đồ lên nội trong giờ đó. Thật cảm tạ sự chỉ dẫn của Chúa và sự dự bị sẵn của Ngài cho một căn nhà cách mau lẹ như vậy. Nếu không, chắc cũng phải gặp thêm nhiều khó khăn, cực nhọc trong hoàn cảnh của đêm ấy!

Sáng hôm sau, anh tín hữu ở ngang cửa nhà thờ đến cho chúng tôi hay: “Thầy ơi! Thầy có phước quá! Bọn cướp đêm hôm qua đến rất đông, cạy cửa nhà thờ và tư thất, lục soát đồ đạc lâu lắm, chúng mới chịu bỏ đi.” Chúng tôi nghe vậy, lớn tiếng cảm tạ ơn Chúa là Đấng biết trước tất cả mọi sự nên dẫn dắt chúng tôi ra đi kịp thời và đúng lúc. Khi chúng tôi ở trong tay bọn cướp, thì Chúa khiến chúng lưỡng lự; lúc bọn cướp quyết định thì Ngài dẫn chúng tôi đi khỏi kịp thời, trước giờ chúng hành động chừng 6 tiếng đồng hồ, để khỏi sa vào tay bọn chúng. Thật cảm tạ ơn Chúa, chúng tôi nhận biết mình là những tôi tớ hèn mọn của Chúa, nhờ nương tựa vào Ngài nên mới được phước, vì trong hoàn cảnh ấy, nếu không có Chúa phù hộ, thì sự nguy hiểm khó có thể vượt qua. Như tác giả Đa vít, người từng trải trên đường dẫn dắt của Chúa đã nói: “Đức Chúa Trời ơi! Xin phù hộ tôi, tôi nương náu mình nơi Chúa… trừ Chúa ra tôi không có phước nào khác.” Trong cơn gian truân, họ kêu cầu cùng Chúa, Ngài bèn giải cứu họ khỏi đều gian nan. Chúa sẽ gìn giữ người khỏi tai họa, Ngài sẽ gìn giữ người khi ra, khi vào.” (Thi Thiên 16:1-2, 107:6, 121:7).

ƠN CHÚA CỨU VỢ TÔI QUA CƠN NGUY VÌ NẠN SÓT NHAU LÁ

Đang khi chúng tôi tị nạn cướp tại đây, vợ tôi đang có thai được 8 tháng. Căn nhà chúng tôi đang mướn ở là nhà có người đã bị chết trong khi sanh con nên bị bỏ trống khá lâu, không ai dám mướn vì có tiếng đồn có quỷ hiện hình. Bà con trong xóm thấy vợ tôi có thai gần ngày sanh lấy làm thương hại cho số phận nên hỏi: “Thầy cô không sợ ma quỉ sao mà dám ở trong nhà này có người sanh đã chết?” Tôi trả lời: “Chúng tôi không sợ vì tôi là Thầy giảng đạo Tin lành, tôi có thể “nhơn danh Đức Chúa Jê-sus” đuổi quỷ. Nghe vậy, nên đồng bào trong xóm để ý coi đến ngày vợ tôi sanh sẽ như thế nào?

Đến tháng sau, vợ tôi gần sanh tôi phải đi nhóm Hội đồng Tổng Liên ở Gia Định. Lòng rất e ngại, nhưng tôi hy vọng sẽ về kịp lúc vợ tôi chưa sanh. Sau khi dự Hội đồng trở về, vợ tôi đã vào nhà thương sanh được một trai đã 4 ngày, mọi sự đều bình an. Cảm tạ ơn Chúa. Nhưng khi vợ tôi về nhà thì thình lình hôm đó cảm thấy trong bụng hơi đau. Chúng tôi chẳng biết chi nên hiệp chung cầu nguyện. Sau đó, ít phút thì cái nhau lá rất lớn tuột ra. Chúng tôi đem cho mụ xem. Đó chính là cái nhau lá còn sót trong bụng đã hơn 4 ngày. Thật cảm tạ ơn Chúa. Sự thương xót của Đức Chúa Trời đối với chúng tôi thật lớn lao. Nếu mụ biết sót lúc mới sanh chắc phải móc ra. Mà ai là người bị móc một lần, mới biết sự đau đớn, không có bút mực nào tả xiết! Khi móc xong, nghe nói nếu rủi sót một miếng nhỏ cũng đủ làm chết mạng người. Chúng tôi rất cảm tạ ơn lớn lao của Chúa và có thể nói như tác giả Thi Thiên rằng: “Hễ tôi còn sống chừng nào thì tôi sẽ hát xướng cho Đức Chúa Trời tôi chừng ấy”.

“Vì Chúa thương xót chúng tôi khác nào Cha thương xót con cái mình vậy” (Thi Thiên 146:2, 103:13)



ƠN CHÚA CỨU TÔI THOÁT NẠN MÔ TÔ

Một ngày kia, tôi đi xe gắn máy trên đường từ Bến Bắc Mỹ Thuận về Vĩnh Long. Khi còn cách chợ Vĩnh Long 2 cây số. thình lình một chiếc xe nhà binh lớn từ phía sau chạy tới, tránh xe qua mặt bên kia thế nào mà nó ép sát gần tôi. Hốt hoảng, tôi quẹo lên lề. Nhưng cũng bị xe nhà binh quẹt bánh xe sau một cái thật mạnh, đến nổi tôi nhào lộn lên và té ngồi xuống! Nhưng cảm tạ ơn Chúa, tôi cảm thấy mình tôi rơi xuống cách nhẹ nhàng, chẳng bị chút thương tích nào cả. Thật là sự bảo vệ lạ lùng của cứu Chúa. Nếu tôi bị té vô phía xe hơi chắc nguy hiểm đến tính mạng hoặc lách vô lề không kịp cũng bị đụng nát xe và người, nên dù bị quẹt té nhưng chắc Chúa đã sai thiên sứ đỡ cho được an toàn. Thật cảm tạ ơn Chúa. “Vì Chúa gìn giữ con cái Ngài như con ngươi mắt Ngài” (Xachari 2:8b, Thi Thiên 17:8).



THOÁT KHỎI SỰ ĐÒI BỒI THƯỜNG NHƠN MẠNG

Một ngày kia, lúc 6 giờ chiều, một người lân cận ẵm đếm một em bé độ 3 tuổi xin tôi ít viên thuốc cho đứa bé uống vì nó bị sốt đã lâu. Bà nói: “Xin thầy làm ơn biết thuốc chi cho nó uống đỡ.” – “Nó có ăn uống chi không?” – “Không. Nó không ăn chi cả.” Tôi rờ đầu cháu, biết đang nóng và có vẻ thở mệt. Để ngừa sưng phổi, tôi liền đưa cho bà vài viên Thiazomides và dặn về uống đỡ rồi sáng mai phải ẵm nó ra cho thầy thuốc xem.

Vài giờ sau, vợ chồng ông ấy ẵm đứa bé chạy lại khóc lóc và la ó dữ dội: “Ông cho thuốc chi mà con tôi vừa uống vào là gần chết! Ông thấy nó không? Nó chết là ông phải đền nhơn mạng!”

Chúng tôi hết sức bối rối, chẳng biết tính lẽ nào vì thấy đứa bé mặt mày tái xanh và như thở không được, sự chết trong giây phút là cầm chắc. Chúng tôi thầm cầu nguyện, xin cánh tay Chúa can thiệp cứu dùm đứa bé để giúp chúng tôi khỏi nạn. Đoạn, tôi hỏi ông bà có cho nó ăn chi không? – “Nó không ăn chi cả, chỉ uống thuốc ông cho đó thôi.” – “Ông bà phải nói thiệt đừng giấu tôi đều chi, tôi mới cứu nó được.” Ông ấy ngó vợ một vài giây, rồi ngập ngừng nói: “Nó có ăn chút cháo và năm, bảy miếng thịt vịt gì đó.” Tôi hiểu nay chứng bệnh và cầu xin Chúa chỉ dẫn tôi cần cho bé uống chi. Chúa nhắc tôi nhớ lại người bệnh giống như trường hợp nầy mà tôi có thấy tại Long Thành, nhờ uống muối nên ói ra được mà thoát chết. Tôi liền hối vợ tôi vào nhà lấy muối quậy với nước đem ra. Tôi cạy họng nó ra đổ nước muối, bé liền ói ra cả cháo lẫn thịt vịt còn nguyên miếng. Đứa nhỏ thấy tỉnh lại rỏ ràng. Mừng quá! Tôi liền cho nó uống thêm một chút rượu Rhum. Sau đó, đứa nhỏ khỏe lại, kể như thoát chết! Cha mẹ đứa nhỏ vui vẻ ẵm con về, nhưng không có lời nào cám ơn. Chúng tôi cũng thở được nhẹ nhàng thấy mình thoát nạn, cảm tạ ơn Chúa, nếu đứa nhỏ chết trong trường hợp này, chắc chúng tôi không tránh khỏi sự khó khăn. Nào bị cha mẹ đứa bé kêu bồi thường nhơn mạng, cũng như những người vô tín xung quanh xóm lợi dụng tình thế xúi giục. Đây là bài học yêu thương có thể bị trả một giá đắt. Nhưng Đức Chúa Trời không phải là không biết mọi sự kiện phản trắc đã xảy ra nên Chúa có can thiệp, cứu giúp để chúng tôi được thoát nạn! Thật đáng ngợi khen Chúa! Ha lê lu gia.



CHƯƠNG TÁM

HƠN 14 NĂM PHỤC VỤ CHÚA Ở NAM VANG

ƠN CHÚA ĐƯA ĐƯỜNG ĐẾN HỘI THÁNH NAM VANG RẤT DIỆU KỲ.

Đến đầu tháng mười, năm 1956, chúng tôi được ông chủ nhiệm, Mục sư Trần Xuân Hỷ cho hay chuẩn bị đi Nam Vang.

Chúng tôi đi xin giấy tờ xuất dương xong. Nhưng có một việc khó là chiếc xe gắn máy và bàn máy may phải có giấy phép mới được đem theo. Tôi đến sở xin, nhưng nhân viên lo việc nầy nói không thể nào được, vì có lịnh cấm mang xe gắn máy ra ngoại quốc. Tôi ra về cách lưỡng lự và lo lắng. Tôi đứng lại thầm nguyện, xin Chúa giúp cho cách nào để có thể đem xe theo được. Đoạn, tôi trở lại yêu cầu một lần nữa. Bấy giờ cũng nhân viên ấy lại vui vẻ nói: “Chỉ có ông Giám đốc mới quyết định được.” Người đem đơn vào rồi trở ra nói: “Ông Giám đốc trả lời: được.” Thật cảm tạ ơn Chúa, đã khiến cho người nhân viên vui lòng giúp tôi được việc.

Sáng hôm sau, tôi lên thăm Hội Thánh Long Thành gặp một người quen, nghe tôi sắp đi Nam Vang, liền trao cho tôi 200 Ria (tiền Cao miên) nhờ xài dùm. Tôi lấy 200 bạc Việt Nam đổi lại cho người. Lại nữa, cầm ba giấy thông hành, tôi ra sở Hối đoái đổi tiền được 1,200.00 Ria. Như vậy, ngày chúng tôi bước lên xe đò đi Nam Vang, trong túi có cả thảy được 1,400.00 Ria.

Khi tới Biên giới, tôi đem giấy tờ trình cho nhân viên quan thuế Cao miên. Họ định thuế chiếc xe gắn máy và bàn máy may là 4,500.00 Ria, quá số tiền trong túi hiện có. Tôi nài xin họ bớt nhưng không được. Bước ra ngoài, lòng đương bối rối, tôi cầu xin Chúa phù hộ và xui giục nhân viên quan thuế chịu giảm bớt cho ít nhiều để tôi có đủ tiền đóng. Đoạn tôi trở vô, tôi kêu nài là không có đủ tiền để đóng thuế, xin vui lòng bớt cho. Người thu thuế lấy viết tính một chút rồi nói: “2,500.00 Ria.” Tôi ra hỏi người tài xế mượn thêm tiền để đóng, lúc tới Nam vang sẽ trả lại. Nhưng anh ta móc bóp ra chỉ còn vài trăm nên không đủ. Tôi thầm nguyện xin Chúa giúp tôi trở vô kêu nài bớt một lần nữa. Đoạn, tôi bước vào văn phòng xin người thu thuế coi lại giấy tờ vì xe cũ và máy may cũng cũ. Người lấy viết tính lại rồi trả lời: “1,250 Ria.” Mừng quá! Tôi móc tiền ra đóng liền và miệng nói cảm tạ ơn Chúa.

Ra ngoài bà con hành khách thường đi mua bán trên con đường này nói: “Thầy Hai có phước quá! Hôm nay Thầy gặp ông ốm tử tế. Nếu Thầy gặp thằng cha mập mà kêu nài tới lui, nó nạt nộ, lại còn tăng thêm tiền thuế nữa là khác. Mỗi người làm việc một ngày, hôm nay tới phiên ông mập mà sao ông ốm lại làm. Vậy Thầy Hai có phước.” Chúng tôi nghe vậy, càng thêm lòng tạ ớn Chúa vì biết có bàn tay Đức Chúa Trời sắp đặt trước nên mới được vậy. Thật cảm tạ ơn Chúa.

Chiếc xe đò chúng tôi tiếp tục đi, chạy cách chậm chạp vì đường xấu, lại thêm hư máy mấy lần ở dọc đường phải dừng lại để sửa, nên khi tới thành phố Nam vang là đã vào 10 giờ đêm, dưới cơn mưa tầm tả! Tôi liền đi mướn một chiếc xe chở đồ đưa đến nhà thờ giá 150 Ria, đúng y số tiền còn lại trong túi, không dư cũng không thiếu. Thật cảm tạ ơn Chúa đã dự bị đúng số tiền để trang trải cách diệu kỳ.

Đường đến nhà thờ chỉ vài ba cây số nhưng vì đường không cán đá; lại gặp mưa lớn nên xe bị lún khó chạy. Hơn nữa, người tài xế cũng không biết nhà thờ ở đường nào nên chạy vòng vòng mãi mà không tìm được. Người ngừng nghỉ một chút. Ngó vào một nhà kia thấy ánh đèn leo lét tôi bước vào nhà để hỏi thăm, cũng may gặp một người Trung hoa biết tiếng Việt. Người nói nhà thờ gần đây nhưng khó chỉ vì đường không có tên. Ban đầu người tỏ vẻ lưỡng lự một chút, đoạn xách áo mưa lên xe đi với chúng tôi để chỉ giùm đường. Khi tới nhà thờ, người lội bộ về nhà dưới cơn mưa lớn, đường xá sình lầy lúc đêm khuya gió lạnh. Chúng tôi hết sức cám ơn người và cảm tạ ơn Chúa đã dự bị cho đủ tiền để trang trải và hơn nữa, lại gặp người tử tế sẵn lòng dẫn đường lúc đêm khuya mưa gió để giúp chúng tôi đến nhà thờ sớm để nghỉ ngơi, vì suốt cuộc hành trình chúng tôi và 3 con nhỏ đã quá mệt nhọc. Thật cảm tạ ơn Chúa về sự đưa đường dẫn lối của Ngài rất lạ lùng. Như Chúa đã hứa cùng Gia-cốp: “Nầy, Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó; vì Ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi Ta làm xong những điều Ta đã hứa cùng ngươi.” (Sáng 28:15). Cũng như tác giả Đa-vít, người đã từng trải trên đường đi với Chúa đã nói: “Hãy phó thác đường lối mình cho Chúa và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành mọi việc” (Thi Thiên 37:5).







1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương