VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014



tải về 1.15 Mb.
trang7/14
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích1.15 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14

  1. Phương pháp thu thập số liệu

Kiểm tra năng suất cá thể lợn đực hậu bị theo quy trình TCVN 3897-1984 và TCVN 3898-1984 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Thế hệ 0 được bố trí thí nghiệm từ năm 2009 đến năm 2012, thế hệ 1 được bố trí trong năm 2012 và 2013, cả thế hệ 0 và thế hệ 1 đều được bố trí 4 mùa (xuân, hạ, thu, đông). Căn cứ vào thành tích kiểm tra năng suất cá thể để chọn đực giống giao phối tạo thế hệ sau. Số liệu từ năm 2009 đến tháng 6/2010 là thu thập số liệu kế thừa từ các bố trí thí nghiệm của cơ sở, số liệu từ tháng 7/2010 đến tháng 10/2013 là số liệu thu thập trực tiếp từ bố trí thí nghiệm trong thời gian nghiên cứu.

Khối lượng của từng cá thể được xác định vào đầu buổi sáng (lúc chưa ăn) tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm và kết thúc thí nghiệm bằng cân điện tử Kelba (Úc). Tăng khối lượng trung bình (gam/ngày) được tính dựa trên chênh lệch khối lượng của từng cá thể giữa hai thời điểm bắt đầu và kết thúc thí nghiệm thực tế. Độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn được đo tại thời điểm kết thúc thí nghiệm bằng máy đo siêu âm Agroscan ALvới đầu dò ALAL 350 (ECM, Pháp) ở vị trí gốc xương sườn cuối cùng cách đường sống lưng 6 cm về phía bên trên từng cá thể sống theo phương pháp được mô tả trong nghiên cứu của Youssao và cs. (2002). Độ dày mỡ lưng và độ dày cơ thăn được sử dụng để ước tính tỷ lệ nạc bằng phương trình hồi quy được Bộ Nông nghiệp Bỉ khuyến cáo năm 1999.

Y = 59,902386 - 1,060750 X1 + 0,229324 X2

Trong đó:

Y: tỷ lệ nạc ước tính (%)

X1: độ dày mỡ lưng, bao gồm da (mm)

X2: độ dày cơ thăn (mm)

Các chỉ tiêu thành phần thân thịt được xác định sau khi kết thúc nuôi thí nghiệm, chọn ngẫu nhiên và mổ khảo sát 40 con đực (mỗi thế hệ 20 con). Các chỉ tiêu xác định gồm: khối lượng móc hàm, tỉ lệ móc hàm, khối lượng, tỉ lệ thịt xẻ và dài thân thịt. Khối lượng móc hàm được cân bằng cân đồng hồ (loại 100 kg) sau khi cạo lông, bỏ tiết và nội tạng trừ lại hai quả thận và lá mỡ. Tỷ lệ móc hàm được tính dựa trên khối lượng trước khi giết thịt và khối lượng móc hàm. Tỷ lệ thịt móc hàm = (Khối lượng thịt móc hàm/khối lượng giết mổ) x 100. Khối lượng thịt xẻ là khối lượng thân thịt sau khi đã bỏ đầu, 4 chân (từ khuỷu chân trở xuống), đuôi, hai lá mỡ ở thân thịt móc hàm. Tỷ lệ thịt xẻ được tính dựa trên khối lượng thịt xẻ và khối lượng trước giết thịt. Tỷ lệ thịt xẻ (%) = (Khối lượng thịt xẻ/khối lượng giết mổ) x 100.

Chất lượng thịt được xác định và phân loại tại bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam. Các chỉ tiêu xác định: giá trị pH45 (pH cơ thăn ở 45 phút sau khi giết mổ) và pH24 (pH cơ thăn ở 24 giờ bảo quản sau khi giết thịt), màu sắc thịt, tỉ lệ mất nước bảo quản, giải đông, chế biến theo phương pháp của Warner và cs. (1997) và độ dai thịt theo phương pháp Channon và cs. (2003).

Giá trị pH được đo bằng máy Testo 230 (Đức) tại các thời điểm 45 phút (pH45) và 24 giờ (pH24) bảo quản sau giết thịt. Giá trị pH là trị số trung bình của 5 lần đo trên 5 điểm khác nhau.

Màu sắc thịt được xác định bằng máy Minolta CR-410 (Nhật Bản) với các chỉ số L* (lightness), a* (redness) và b* (yellowness) tại thời điểm 24 giờ (L*24, a*24, b*24) bảo quản sau giết thịt. Giá trị màu sắc thịt là trung bình của 5 lần đo trên 5 điểm khác nhau.

Tỷ lệ mất nước bảo quản (%) được xác định dựa trên khối lượng mẫu trước và sau bảo quản ở thời điểm 24 giờ.

Tỷ lệ mất nước chế biến (%) được xác định dựa trên khối lượng mẫu trước và sau chế biến (mẫu cơ thăn được hấp cách thủy bằng máy Waterbach Memmert ở nhiệt độ 750C trong 50 phút).

Độ dai của cơ thăn (N), được xác định bằng máy Warner Bratzler 2000D (Mỹ) tại thời điểm 24 giờ bảo quản sau giết thịt. Độ dai của mẫu được xác định là trung bình của 5 lần đo lặp lại.

Chất lượng thịt được phân loại dựa vào tỉ lệ mất nước bảo quản, màu sáng thịt (L*), giá trị pH45, pH24 cơ thăn theo tiêu chuẩn của Warner và cs. (1997), Joo và cs. (1999): thịt lợn chất lượng tốt có tỉ lệ mất nước bảo quản 2 - 5%, màu sáng thịt (L*) 40 - 50, giá trị pH45 > 5,8 và 5,4 < pH24 < 6,1.


  1. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm SAS 9.1 (2002). Các tham số được tính toán gồm: dung lượng mẫu (n), trung bình bình phương nhỏ nhất (LSM), sai số tiêu chuẩn (SE), hệ số xác định (R2) và sai khác theo giá trị P. So sánh các giá trị LSM theo cặp bằng phép so sánh Tukey HSD.

Mô hình phân tích

yij = m + ai + bxij + eij (1)

Trong đó:

yij = quan sát thứ j ở công thức i,

m = là trung bình chung,



ai = ảnh hưởng của thế hệ i,

bxij = hiệp phương sai: ảnh hưởng của tuổi bắt đầu thí nghiệm (đối với khối lượng bắt đầu thí nghiệm) hoặc tuổi kết thúc thí nghiệm (đối với các chỉ tiêu sinh trưởng, thân thịt và chất lượng thịt ngoại trừ khối lượng bắt đầu thí nghiệm).

ei j = sai số ngẫu nhiên.

      1. Kết quả và thảo luận

        1. Khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn đực dòng VCN03

Các tham số thống kê mô tả của các chỉ tiêu trong nội dung nghiên cứu này được trình bày tại bảng 13. Kết qủa cho thấy, có sự chênh lệch lớn giữa giá trị nhỏ nhất và lớn nhất trong từng tính trạng. So sánh giữa các cá thể có giá trị cao nhất và thấp nhất cho thấy: tăng khối lượng trong giai đoạn từ sơ sinh đến kết thúc thí nghiệm gấp 1,5 lần, tăng khối lượng trong giai đoạn từ 60 ngày tuổi đến kết thúc thí nghiệm gấp 1,7 lần, độ dày mỡ lưng gấp 2,4 lần, độ dày cơ thăn gấp 1,8 lần, tỉ lệ nạc gấp 1,2 lần. Kết quả trên cho thấy trong phạm vi từng tính trạng nghiên cứu có sự biến động lớn về giá trị của các cá thể.

Nghiên cứu được tiến hành trên 205 cá thể lợn đực dòng VCN03, khối lượng 60 ngày tuổi trung bình là 22,38 kg/con, khối lượng kết thúc thí nghiệm trung bình là 99,48 kg/con. Các kết quả đạt được: tăng khối lượng bình quân ngày giai đoạn từ sơ sinh đến kết thúc thí nghiệm đạt 621,04 g/ngày, tăng khối lượng bình quân ngày giai đoạn từ 60 ngày tuổi đến kết thúc thí nghiệm đạt 796,18 g/ngày, độ dày mỡ lưng là 9,88 mm, độ dày cơ thăn là 47,71 mm, tỉ lệ nạc đạt 60,37%. Kết quả trên cho thấy lợn đực dòng VCN03 thuộc nhóm “dòng bố” nên có khả năng tăng khối lượng cao, độ dày mỡ lưng thấp và tỉ lệ nạc cao.



Bảng 13: Khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn đực dòng VCN03

Chỉ tiêu

n

Mean

SE

Min

Max

Khối lượng 60 ngày tuổi (kg)

205

22,38

0,13

19,00

28,00

Khối lượng kết thúc (kg)

205

99,48

0,81

77,00

145,00

Tăng khối lượng theo ngày tuổi (g/ngày)

205

621,04

2,79

514,97

766,67

Tăng khối lượng thí nghiệm (g/ngày)

205

796,18

5,42

618,00

1058,00

Độ dày mỡ lưng (mm)

205

9,88

0,11

6,80

16,30

Độ dày cơ thăn (mm)

205

47,71

0,34

37,90

67,20

Tỉ lệ nạc (%)

205

60,37

0,14

55,23

64,71

Khối lượng 60 ngày tuổi của lợn đực dòng VCN03 cao hơn so với lợn đực Pietrain và một số tổ hợp đực lai cuối cùng. Theo Đỗ Đức Lực và cs. (2013) lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC và CT đạt khối lượng lúc 60 ngày tuổi là 17,01 và 14,49 kg/con; các tổ hợp đực lai cuối cùng PiDu với các tỉ lệ máu 25% máu Pi (PiDu25), 50% máu Pi (PiDu50) và 75% máu Pi (PiDu75) đạt khối lượng lúc 60 ngày tuổi lần lượt là 16,05; 16,92 và 18,08 kg/con. Như vậy, trong giai đoạn đầu từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi thì lợn đực dòng VCN03 đã có khả năng sinh trưởng vượt trội hơn so với Pi và các tổ hợp lai PiDu với tỉ lệ máu Pi từ 25% đến 75%.

Khả năng tăng khối lượng trong giai đoạn kiểm tra năng suất của lợn đực dòng VCN03 (796,18 g/ngày) vượt trội so với lợn Duroc. Cụ thể, khả năng tăng khối lượng trong thời gian nuôi kiểm tra năng suất của lợn Duroc thuần là 624,01 g/ngày (Phạm Thị Kim Dung, 2005), là 745,5 g/ngày (Chen Weng Guang và cs., 1997). Khả năng tăng khối lượng của lợn đực dòng VCN03 cao hơn lợn đực Pietrain và các tổ hợp đực lai cuối có tỉ lệ máu Pietrain khác nhau. Theo kết quả nghiên cứu của Đỗ Đức Lực và cs. (2008) lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC và CT giai đoạn từ 2 đến 8,5 tháng tuổi đạt tăng khối lượng tương ứng là 507,00 và 585,97 g/ngày; Zhang và cs. (2011) cho biết lợn Pietrain kết thúc tại thời điểm 100 kg, tăng khối lượng tương ứng là 742,30 g/ngày; Hà Xuân Bộ và cs. (2013a) cũng nghiên cứu trên lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC và CT giai đoạn từ 2 đến 7,5 tháng tuổi cho kết quả tương ứng là 559,57 và 546,31 g/ngày. Khả năng tăng khối lượng giai đoạn từ 60 ngày tuổi đến 7,5 tháng tuổi của lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC và CT, lợn đực PiDu25, PiDu50 và PiDu75 lần lượt là 552,93; 516,00; 624,09; 635,07 và 577,48 g/ngày (Đỗ Đức Lực và cs., 2013). Trịnh Hồng Sơn và cs. (2012) cho biết tổ hợp đực lai PiDu và DuPi có khả năng tăng khối lượng lần lượt là 772 và 764 g/ngày.

Khả năng tăng khối lượng giai đoạn từ sơ sinh đến kết thúc thí nghiệm và tăng khối lượng trong thời gian nuôi thí nghiệm của lợn đực dòng VCN03 cao hơn so với lợn đực Landrace và Yorkshire. Phùng Thị Vân và cs. (2001) công bố lợn Landrace và Yorkshire giai đoạn từ 25 - 90 kg có khả năng tăng khối lượng là 551,40 và 640,30 g/ngày. Phan Xuân Hảo (2002) công bố lợn Landrace và Yorkshire giai đoạn từ 20 - 100 kg có khả năng tăng khối lượng là 646,00 và 619,74 g/ngày. Phạm Thị Kim Dung (2005) cho biết lợn Landrace và Yorkshire giai đoạn từ 20 - 100 kg có khả năng tăng khối lượng là 624,01 và 613,07 g/ngày. Zhang và cs. (2011) cho biết lợn Yorkshire kết thúc tại thời điểm 100 kg, tăng khối lượng tương ứng là 803,60 g/ngày. Như vậy, khả năng tăng khối lượng của lợn đực dòng VCN03 vượt trội so với lợn Duroc, Pietrain, các tổ hợp lai PiDu với tỉ lệ máu Pi từ 25% đến 75% và các giống đa dụng như Landrace, Yorkshire.

Độ dày mỡ lưng của lợn đực dòng VCN03 (9,88 mm) cao hơn so với nghiên cứu lợn đực Pietrain kháng stress (8,00 mm) của Hà Xuân Bộ và cs. (2013b). Đỗ Đức Lực và cs. (2013) cho biết độ dày mỡ lưng của lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC và CT là 8,72 và 8,42 mm; các tổ hợp đực lai cuối PiDu25, PiDu50 và PiDu75 có độ dày mỡ lưng lần lượt là 11,96; 10,79 và 8,96 mm. Trịnh Hồng Sơn và cs. (2012) cho biết độ dày mỡ lưng của tổ hợp đực lai PiDu và DuPi lần lượt là 11,28 và 11,15 mm. Như vậy, lợn đực Pietrain và lợn đực PiDu75 có độ dày mỡ lưng thấp hơn, còn lợn đực PiDu25 và PiDu50 có độ dày mỡ lưng cao hơn lợn đực dòng VCN03.

Độ dày cơ thăn của lợn đực dòng VCN03 (47,71 mm), tương đương với kết quả nghiên cứu của Đỗ Đức Lực và cs. (2011) trên lợn đực Pietrain có độ dày cơ thăn là 46,38 mm. Theo Đỗ Đức Lực và cs. (2013) lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC và CT, lợn đực PiDu25, PiDu50 và PiDu75 có độ dày cơ thăn lần lượt là 57,64; 61,65; 51,46; 57,08 và 57,44 mm; Trịnh Hồng Sơn và cs. (2012) cho biết độ dày cơ thăn của tổ hợp đực lai PiDu và DuPi là 52,67 và 55,17 mm thì lợn đực dòng VCN03 có độ dày cơ thăn nhỏ hơn.

Khi so sánh tỉ lệ nạc của lợn đực dòng VCN03 với tỉ lệ nạc ở lợn Duroc, Pietrain, Landare và Yorkshire theo một số công bố thì như sau: tỉ lệ nạc trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi là 60,37%, cao hơn so với kết quả công bố ở lợn Landrace và Yorkshire có tỉ lệ nạc tương ứng là 56,17 và 53,86 (Phan Xuân Hảo, 2007); ở lợn Pietrain thuần là 58,75% (Nguyễn Văn Đức và cs. 2010); nằm trong khoảng kết quả công bố của Bidanel và cs. (1991) ở lợn Pietrain nuôi tại Pháp là từ 60,7 đến 63,7%; Marinus và cs. (2010) ở lợn Pietrain nuôi tại Hà Lan có tỷ lệ nạc ước tính từ 58,9 đến 65,7% (trung bình 60,2%), tương đương với tỉ lệ nạc của lợn Duroc là 59,40% (Werner và cs. 2013) và thấp hơn kết quả công bố của Werner và cs. (2010) ở lợn Pietrain nuôi tại Đức có tỉ lệ nạc đạt 61,1%; Hà Xuân Bộ và cs. (2013b) cho biết lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC và CT có tỉ lệ nạc tương ứng là 64,05 và 65,22%.



        1. Khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn đực dòng VCN03 qua hai thế hệ

  1. Khả năng sinh trưởng của lợn đực dòng VCN03 qua hai thế hệ

Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh trưởng của lợn đực dòng VCN03 qua 2 thế hệ được trình bày tại bảng 14. Tuổi bắt đầu đưa vào kiểm tra năng suất, tuổi kết thúc kiểm tra năng suất và khối lượng bắt đầu đưa vào kiểm tra năng suất giữa 2 thế hệ không có sự sai khác (P>0,05) nhưng khối lượng kết thúc kiểm tra năng suất ở thế hệ 1 cao hơn 5,75 kg so với thế hệ 0 (P<0,001 và R2 = 76,9%). Thế hệ 1 được chọn lọc có khả năng tăng khối lượng trung bình/ngày nuôi kiểm tra cao hơn (60,09 g/ngày) so với thế hệ 0 chưa được chọn lọc, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,001) và với R2 cao (52,7%). Tăng khối lượng ở thế hệ 1 được cải thiện rõ rệt, theo chúng tôi nguyên nhân chính là do lần đầu tiên giá trị giống ước tính của lợn đực VCN03 được ứng dụng vào chọn lọc và các yếu tố ngoại cảnh như dinh dưỡng, chuồng trại, kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc, … được cải thiện tốt hơn.

Bảng 14: Sinh trưởng của lợn đực dòng VCN03 qua hai thế hệ

Chỉ tiêu

Thế hệ 0

 

Thế hệ 1

 

P



n

LSM

SE

 

n

LSM

SE

 

Tuổi bắt đầu (ngày)

114

62,71

0,35




91

62,15

0,39




0,2882

0,006

Tuổi kết thúc (ngày)

114

159,29

1,76




91

161,95

1,97




0,3168

0,005

Khối lượng bắt đầu (kg)

114

22,48

0,13




91

22,25

0,14




0,2286

0,49

Khối lượng kết thúc (kg)

114

96,93a

0,52




91

102,68b

0,59




<0,0001

0,769

Tăng KL theo ngày tuổi (g/ngày)

114

605,08a

3,19




91

641,05b

3,57




<0,001

0,284

Tăng KLTN (g/ngày)

114

769,51a

5,03

 

91

829,60b

5,63

 

<0,0001

0,527

* Ghi chú : các giá trị trong cùng một hàng, có mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05); KLTN: khối lượng thí nghiệm; KL từ SS: khối lượng từ sơ sinh.

Theo Kazuo Ishii và cs. (2005) thì tăng khối lượng của lợn đực dòng Shimofuri Red (giống Duroc) sau 7 thế hệ chọn lọc, giá trị trung bình được nâng lên 243 g/ngày. Giang Hồng Tuyến (2008) cho biết lợn Móng Cái sau 4 thế hệ chọn lọc khả năng tăng khối lượng đã tăng được 27,95 g/ngày (7,45%).



Hệ số xác định (R²) đối với tính trạng tuổi bắt đầu và tuổi kết thúc thí nghiệm ở mức thấp, các tính trạng khối lượng bắt đầu và khối lượng kết thúc thí nghiệm ở mức cao. Hệ số xác định của tính trạng tăng khối lượng giai đoạn từ 60 ngày tuổi đến kết thúc thí nghiệm cao hơn gấp gần 2 lần so với tính trạng tăng khối lượng giai đoạn từ sơ sinh đến kết thúc thí nghiệm.

  1. Năng suất thân thịt của lợn đực dòng VCN03 qua hai thế hệ

Năng suất thân thịt của lợn đực dòng VCN03 qua hai thế hệ được trình bày ở bảng 15. Khối lượng giết mổ của lợn thịt ở hai thế hệ không có sự sai khác (P>0,05). Tỉ lệ móc hàm và tỉ lệ thịt xẻ giữa hai thế hệ là tương đương nhau (P>0,05). Dài thân thịt sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05). Các chỉ tiêu về khối lượng (giết mổ, móc hàm, thịt xẻ) có hệ số xác định cao (0,58 - 0,67), trong khi đó hệ số xác định ở các chỉ tiêu tỉ lệ móc hàm, tỉ lệ thịt xẻ, dài thân thịt, độ dày mỡ lưng, độ dày cơ thăn và tỉ lệ nạc lại rất thấp (0,01 - 0,14).

Bảng 15: Năng suất thân thịt của lợn đực dòng VCN03 qua hai thế hệ

Chỉ tiêu

Thế hệ 0

 

Thế hệ 1

 

P



n

LSM

SE

 

n

LSM

SE

 

Khối lượng giết thịt (kg)

20

104,27

1,73




20

103,77

1,73




0,849

0,670

Khối lượng móc hàm (kg)

20

84,12

1,58




20

84,30

1,58




0,938

0,590

Tỷ lệ móc hàm (%)

20

80,68

0,63




20

81,26

0,63




0,536

0,030

Khối lượng thịt xẻ (kg)

20

75,09

1,48




20

75,05

1,48




0,989

0,580

Tỷ lệ thịt xẻ (%)

20

72,01

0,63




20

72,30

0,63




0,765

0,010

Dài thân thịt (cm)

20

95,56

1,14

 

20

97,70

1,14

 

0,215

0,140

Độ dày mỡ lưng (mm)

114

10,27a

0,14




91

9,38b

0,16




<0,0001

0,087

Độ dày cơ thăn (mm)

114

46,84a

0,45




91

48,80b

0,50




0,0042

0,050

Tỷ lệ nạc (%)

114

59,74a

0,18

 

91

61,14b

0,20

 

<0,0001

0,132
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương