VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014



tải về 1.15 Mb.
trang5/14
Chuyển đổi dữ liệu06.07.2016
Kích1.15 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

Ghi chú : các giá trị trong cùng một cột, có mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Kết quả ở bảng 6 cho thấy giai đoạn từ năm 2002 - 2006 có số con sơ sinh sống/ổ (8,53 - 8,68 con/ổ) thấp hơn giai đoạn từ năm 2007 - 2012 (9,07 - 9,29 con/ổ), năm 2013 chỉ theo dõi được 23 ổ đẻ nên chưa phản ánh được đúng tiềm năng sinh sản của lợn nái dòng VCN03. Các sai khác về số con sơ sinh sống/ổ qua các năm từ 2002 - 2006 đều không có ý nghĩa thống kê. Tương tự là các sai khác về số con sơ sinh sống/ổ qua các năm 2007 - 2012 cũng đều ở mức P>0,05. Từ năm 2005 đã làm tươi máu đàn lợn bằng sử dụng tinh đông lạnh, đây là nguyên nhân chính về kết quả làm tăng chỉ tiêu số con sơ sinh sống/ổ ở giai đoạn 2007 - 2012. Các sai khác về số con sơ sinh sống/ổ qua các năm ở từng giai đoạn 2002 - 2006 và 2007 - 2012 đều không có ý nghĩa thống kê, điều này hoàn toàn phù hợp với kết quả ở bảng 1 (yếu tố năm không ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con sơ sinh sống/ổ) và sự tăng số con sơ sinh sống/ổ ở giai đoạn 2007 - 2012 là do yếu tố di truyền.





Đồ thị 6: Số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ qua các năm

Số con cai sữa/ổ của từng năm phụ thuộc vào số con sơ sinh sống/ổ và tỉ lệ hao hụt lợn con giai đoạn theo mẹ. Tương tự như chỉ tiêu số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ giai đoạn từ 2002 - 2006 (7,70 - 7,98 con/ổ) thấp hơn so với giai đoạn từ 2007 - 2012 (8,32 - 8,58 con/ổ). Trong giai đoạn từ 2002 - 2006, sự biến động về số con cai sữa/ổ giữa các năm nhìn chung là có sai khác ở mức P<0,05. Kết quả tương tự là giai đoạn 2007 - 2012, sự sai khác về số con cai sữa/ổ qua các năm phần đa là có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Số con cai sữa/ổ của năm 2013 thấp là do thời theo dõi ngắn nên số ổ theo dõi còn ít (21 ổ) nên chưa phản ánh được đúng tiềm năng sinh sản của lợn nái dòng VCN03. Sự biến động về số con cai sữa/ổ ở lợn nái dòng VCN03 qua các năm cùng xu hướng với sự biến động về số con sơ sinh sống/ổ qua các năm. Như vậy, số con cai sữa/ổ phụ thuộc nhiều vào số con sơ sinh sống/ổ trong cùng điều kiện chăn nuôi và khai thác sử dụng.

Các yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến số con cai sữa/ổ. Từ năm 2002 đến năm 2013, trải qua thời gian 12 năm với sự tác động khác nhau của khí hậu thời tiết, điều kiện chăn nuôi, thức ăn chăn nuôi, kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc, ... đã làm ảnh hưởng lợn đến số con cai sữa/ổ.

Khối lượng sơ sinh sống/ổ, khối lượng sơ sinh sống/con, khối lượng cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/con của lợn nái dòng VCN03 được trình bày tại bảng 7.



Bảng 7: Khối lượng sơ sinh sống/ổ, khối lượng sinh sống/con, khối lượng cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/con qua các năm

Năm

Khối lượng sơ sinh sống/ổ (kg)

Khối lượng sơ sinh sống/con (kg)

Khối lượng cai sữa/ổ (kg)

Khối lượng cai sữa/con (kg)

n

LSM

SE

n

LSM

SE

n

LSM

SE

n

LSM

SE

2002

28

13,22

0,63

28

1,57ab

0,03

28

64,53a

2,63

28

6,91adc

0,19

2003

44

15,10

0,48

44

1,64b

0,02

43

55,96b

2,04

43

6,25b

0,15

2004

33

15,14

0,54

33

1,58ab

0,02

32

63,32a

2,30

32

6,79cde

0,17

2005

50

14,71

0,46

50

1,55ab

0,02

50

55,78b

1,94

50

6,57bde

0,14

2006

53

13,58

0,44

53

1,56ab

0,02

54

56,03b

1,82

54

6,74cde

0,13

2007

111

14,48

0,30

111

1,55ab

0,01

119

55,60b

1,22

119

6,46eb

0,09

2008

112

14,08

0,30

112

1,52a

0,01

111

57,81b

1,24

111

6,79cd

0,09

2009

94

14,23

0,32

94

1,54a

0,01

94

62,34a

1,33

94

7,98ac

0,10

2010

61

14,32

0,39

61

1,57ab

0,02

64

57,45b

1,61

64

6,48bde

0,12

2011

83

14,62

0,36

83

1,58ab

0,01

89

59,17b

1,45

89

6,60bde

0,11

2012

94

14,03

0,38

94

1,53a

0,02

93

59,19b

1,57

93

6,67de

0,12

2013

21

13,06

0,69

21

1,56ab

0,03

21

56,30b

2,90

21

7,28a

0,21

Ghi chú : các giá trị trong cùng một cột, có mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Khối lượng sơ sinh sống/ổ thấp nhất ở năm 2002 và 2006, đạt khối lượng cao ở năm 2003 và 2004, tương đối ổn định ở các năm còn lại. Sự biến động về khối lượng sơ sinh sống/ổ qua các năm với các sai khác đều không có ý nghĩa thống kê. Điều đó nói lên rằng chỉ tiêu khối lượng sơ sinh sống/ổ không bị ảnh hưởng bởi yếu tố năm.

Khối lượng cai sữa/ổ cao hơn ở các năm 2002, 2004 và 2009 (64,53; 63,32 và 62,34 kg/ổ), sai khác so với các năm còn lại đều có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Khối lượng cai sữa/ổ ở các năm còn lại dao động trong khoảng từ 55,60 đến 59,19 kg/ổ. Tuy nhiên, phần lớn sai khác giữa các năm này đều không có ý nghĩa thống kê.

Đồ thị 7 cho thấy, khối lượng cai sữa/ổ có biến động nhiều hơn so với sự biến động ở chỉ tiêu khối lượng sơ sinh sống/ổ.





Đồ thị 7: Khối lượng sơ sinh sống/ổ và khối lượng cai sữa/ổ qua các năm

Khối lượng cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/con đều có sự biến động rất lớn qua các năm khác nhau. Vì ngoài ảnh hưởng của yếu tố giống, các yếu tố ngoại cảnh trong thời gian 12 năm cũng có những biến động và thay đổi lớn làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất. Khối lượng sơ sinh sống/con qua các năm dao động từ 1,52 đến 1,64 kg/con, sự khác nhau về chỉ tiêu này qua các năm phần lớn là có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Khối lượng cai sữa/con qua các năm biến động trong khoảng từ 6,25 đến 7,98 kg/con và không theo một quy luật nào, tuy nhiên các sự sai khác đều có ý nghĩa thống kê.





Đồ thị 8: Khối lượng sơ sinh sống/con và khối lượng cai sữa/con

qua các năm

        1. Kết luận và đề nghị

  1. Kết luận

Yếu tố thế hệ không ảnh hưởng tới các chỉ tiêu nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái dòng VCN03. Yếu tố lứa đẻ chỉ ảnh hưởng rõ rệt đến số con sơ sinh sống/ổ và khối lượng cai sữa/con (P<0,01). Yếu tố năm không ảnh hưởng đến số con sơ sinh sống/ổ và khối lượng sơ sinh sống/ổ nhưng lại ảnh hưởng rất rõ rệt đến khối lượng sơ sinh/con, khối lượng cai sữa/con, khối lượng cai sữa/ổ và số con cai sữa/ổ (P<0,001).

Lợn nái dòng VCN03 thuộc nhóm các giống chuyên dụng “dòng bố’’ có năng suất sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng như Landrace và Yorkshire, cụ thể: số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ tương ứng là 8,85 và 8,15 con/ổ.

Tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ của lợn nái dòng VCN03 đều có xu hướng chung là giảm dần từ thế hệ 1 đến thế hệ 4 (P>0,05). Cụ thể: số con sơ sinh sống/ổ từ thế hệ 1 đến thế hệ 4 lần lượt là 9,29; 8,80; 8,69 và 8,66 con/ổ. Số con cai sữa/ổ từ thế hệ 1 đến thế hệ 4 giảm dần và lần lượt là 8,34; 8,14; 8,02 và 7,96 con/ổ.

Khối lượng sơ sinh sống/con và khối lượng cai sữa/con tương đối ổn định qua các thế hệ. Khối lượng cai sữa/ổ ở các thế hệ 2, 3 và 4 có xu hướng được cải thiện so với thế hệ 1, tuy nhiên với P>0,05. Theo chúng tôi nguyên nhân chính có thể là do quần thể tồn tại với số lượng không lớn nên gặp những khó khăn trong công tác chọn lọc.

Số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ và khối lượng sơ sinh sống/ổ đều thấp ở lứa 1, tăng ở lứa 2, từ lứa 3 đến lứa 6 biến động không theo một xu hướng nhất định và từ giảm lứa 7 trở lên. Khối lượng sơ sinh sống/ổ và khối lượng sơ sinh sống/con thấp ở lứa 1. Nhìn chung là tương đối ổn định từ lứa 2 đến lứa 6 (P>0,05). Khối lượng cai sữa/ổ thấp nhất ở lứa 1, tăng dần và đạt cao nhất ở lứa 4 và bắt đầu giảm dần ở lứa 5 trở đi (P>0,05). Khối lượng cai sữa/con thấp ở lứa 1, tăng ở lứa 2, tương đối ổn định qua các lứa đẻ 3, 4 và 5, giảm ở lứa 6, với phần đa P<0,05.

Do tác động của yếu tố di truyền, hai tính trạng số con sơ sinh sống/ổ và số con cai sữa/ổ giai đoạn 2007 - 2012 được cải thiện so với giai đoạn 2002 - 2006 với P<0,05. Các tính trạng gồm: khối lượng sơ sinh sống/ổ, khối lượng sơ sinh sống/con, khối lượng cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/con biến động đáng kể và không theo một xu hướng nhất định với các sai khác phần lớn có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Kết quả này khẳng định thêm rằng các chỉ tiêu đặc trưng cho khả năng sinh sản của lợn nái dòng VCN03 chịu tác động nhiều của yếu tố ngoại cảnh.



  1. Đề nghị

Để nâng cao năng suất sinh sản đàn lợn nái dòng VCN03, cần phải tăng cường công tác chọn lọc, nâng cao kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc và kết hợp với việc định kỳ nhập nguồn gen mới từ nước ngoài có năng suất và chất lượng cao để làm tươi máu đàn lợn.

Việc xác định hệ số di truyền và giá trị giống ước tính của các tính trạng sinh sản để phục vụ cho công tác chọn giống nhằm nâng cao hiệu quả chọn lọc về khả năng sinh sản lợn nái rất cần thiết.



    1. Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03

      1. Đặt vấn đề

Đánh giá số lượng và chất lượng tinh dịch lợn có tầm quan trọng trong việc sử dụng lợn đực giống. Nhiều lợn đực có ngoại hình đẹp nhưng không có khả năng sinh sản hoặc sinh sản kém (vô sinh, tỉ lệ thụ thai thấp). Vì vậy, cần thông qua việc đánh giá chất lượng tinh dịch để có biện pháp can thiệp hoặc xử lý đối với lợn đực, nhất là đối với lợn đực trong thụ tinh nhân tạo để nâng cao hiệu quả sử dụng đực giống. Bản chất các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng tinh dịch có hệ số di truyền ở mức cao nên việc tính toán và áp dụng hệ số di truyền vào việc chọn lọc nâng cao số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống sẽ đem lại hiệu quả cao.

Chọn lọc nâng cao số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống trong quá trình sản xuất luôn được coi là yếu tố quan trọng, then chốt được các nhà nghiên cứu và người chăn nuôi của mọi quốc gia trên thế giới quan tâm. Nghiên cứu chọn lọc nâng cao số lượng và chất lượng tinh dịch, tăng tỉ lệ thụ thai và số con sơ sinh còn sống, từ đó tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái.

Mục tiêu của nội dung nghiên cứu này là xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố như tuổi, thế hệ, cá thể đực, khoảng cách giữa hai lần khai thác, mùa vụ và năm đến số lượng và chất lượng tinh dịch. Đánh giá số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 chung và qua hai thế hệ.


      1. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

        1. Đối tượng nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu là 22 lợn đực dòng VCN03 qua 2 thế hệ (thế hệ 0: 11 con, thế hệ 1: 11 con).

  • Thế hệ 0 là đàn đực giống tại thời điểm năm 2006, thế hệ 1 là thế hệ được chọn lọc từ thế hệ 0.

        1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

  • Địa điểm nghiên cứu: Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp thuộc Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương - Viện Chăn Nuôi.

  • Thời gian nghiên cứu:

+ Số liệu từ năm 2006 đến tháng 6/2010: kế thừa số liệu từ cơ sở.

+ Số liệu từ tháng 7/2010 đến tháng 4/2013: bố trí thí nghiên theo dõi.



        1. Nội dung nghiên cứu

  • Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh dịch lợn đực dòng VCN03

  • Đánh giá số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03

  • Đánh giá số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 qua hai thế hệ

        1. Phương pháp nghiên cứu

  1. Điều kiện nghiên cứu

  • Điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi tối ưu: nhiệt độ 16 - 22 0C; ẩm độ 65 - 75%, tốc độ gió 0,2 - 0,7 mét/giây; thời gian chiếu sáng 12giờ/ngày.

  • Lợn đực có đặc điểm thần kinh luôn hưng phấn do đó chuồng nhốt lợn đực phải đảm bảo chắc chắn.

  • Diện tích chuồng: Tuỳ theo mục đích mà chuồng lợn đực có thể có các kích thước khác nhau. Nếu chuồng chỉ sử dụng để nhốt lợn đực đơn thuần thì kích thước là 2,5 x 2,5 m. Nếu sử dụng chuồng lợn đực làm nơi vừa nhốt lợn đực vừa là nơi phối giống thì kích thước cần thiết tối thiểu là 7 m2.

  • Vách ngăn: Chiều cao vách ngăn cho chuồng lợn đực từ 1,3 - 1,5 m với chấn song bố trí theo chiều dọc và được hàn chắc chắn.

  • Nền chuồng: Có thể là nền bê tông đặc hoặc nền bằng tấm đan bê tông có lỗ, mặt nền phải chắn chắn, tránh trơn trượt vì sẽ ảnh hưởng đến chân, móng của lợn đực. Với sàn bê tông đặc, độ dốc cần thiết là từ 3 - 5%.

  • Vòi uống nước tự động được bố trí cách mặt sàn từ 80 - 90 cm.

  • Chế độ ăn:

    Khối lượng lợn

    Lượng thức ăn

    Loại thức ăn

    Mùa hè

    Mùa đông

    100 - 200 kg

    2,0 - 2,2

    2,2 - 2,5

    Trộn 80% t/ăn lợn chửa và 20% t/ăn lợn sau cai sữa

    200 - 300 kg

    2,2 - 2,5

    2,5 - 2,8

    > 300 kg

    2,5 - 2,7

    2,8 - 3,0

  • Thức ăn cung cấp cho lợn đực làm việc phải đảm bảo đủ nhu cầu cho: duy trì, sinh trưởng và sản xuất.

  • Tuỳ thuộc mùa vụ, thể trạng con vật, giống… mà điều chỉnh lượng thức ăn cho thích hợp.

  1. Phương pháp thu thập số liệu

  • Số liệu về số lượng và chất lượng tinh dịch từ 2006 đến tháng 6/2010 là kế thừa số liệu của Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp, từ tháng 7/2010 đến tháng 10/2013 là số liệu theo dõi.

  • Lợn đực khi đưa vào khai thác phải đảm bảo theo đúng phẩm cấp giống, chỉ sử dụng đực đã qua kiểm tra năng suất đạt yêu cầu. Khai thác tinh khi lợn đực đạt từ 12 tháng tuổi trở lên. Tuổi khai thác của lợn đực từ 12 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi.

  • Khai thác tinh dịch bằng cách cho lợn đực nhẩy giá, dụng cụ lấy tinh được vô trùng trước khi lấy. Tinh dịch được khai thác vào buổi sáng.

  • Các chỉ tiêu theo dõi

  • Thể tích tinh dịch (V) được xác định bằng cốc đong chia vạch và được tính bằng ml/lần khai thác.

  • Hoạt lực tinh trùng (A) được xác định bằng số tinh trùng tiến thẳng so với tổng số tinh trùng quan sát trong vi trường của kính hiển vi với độ phóng đại 100 - 300 lần. Hoạt lực tinh trùng nhỏ nhất bằng 0 và lớn nhất bằng 1 (từ 0% đến 100%).

  • Nồng độ tinh trùng (C) được xác định bằng máy xác định nồng độ tinh trùng (SDM5 của hãng Minitube, Đức), được tính bằng triệu/ml.

  • Tổng số tinh trùng tiến thẳng (VAC) được xác định bằng tích của ba chỉ tiêu V, A và C được tính bằng tỷ/lần khai thác.

  • Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K) được xác định bằng phương pháp nhuộm màu và soi trên kính hiển vi với độ phóng đại 400 - 600 lần, đơn vị tính là phần trăm (%).

  • Giá trị pH tinh dịch được đo bằng máy pH (Metter T oledo MP 220).

  1. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1(2002). Các tham số thống kê mô tả của các chỉ tiêu nghiên cứu gồm: dung lượng mẫu (n), số trung bình (Mean), giá trị lớn nhất (Max), giá trị nhỏ nhất (Min).

Sử dụng GLM SAS 9.1(2002) để ước tính giá trị trung bình bình phương bé nhất (LSM), sai số tiêu chuẩn (SE) và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến chỉ tiêu nghiên cứu với mô hình phân tích sau. So sánh cặp bằng giữa 2 giá trị LSM bằng phép so sánh Tukey:



Yijklmn = μ + THi + Dj + Kk + Ml + Nm+ Tijklmn + εijklmn

Trong đó

Yijklmn: số lượng và chất lượng tinh dịch

μ: trung bình quần thể

THi: Ảnh hưởng của thế hệ (0, 1)

Dj: Ảnh hưởng của cá thể đực giống (1, 2,…, 22)

Kk : Ảnh hưởng khoảng thời gian giữa hai lần khai thác (1, 2, 3, 4, 5, 6 ngày)

Ml : Ảnh hưởng của mùa vụ (Xuân, Hè, Thu, Đông)

Nm : Ảnh hưởng của năm (2006, 2007, ….., 2013)

Tijklmn: Ảnh hưởng (hiệp biến) của tuổi khai thác (tháng)

εijklmn: sai số ngẫu nhiên

      1. Kết quả và thảo luận

        1. Yếu tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh dịch lợn đực dòng VCN03

Việc xác định ảnh hưởng của các yếu tố như tuổi khai thác, thế hệ, cá thể đực, khoảng cách giữa hai lần khai thác, mùa vụ, năm, ... đã được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm. Kết quả các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 được trình bày ở bảng 8.

Bảng 8: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến số lượng và chất lượng tinh dịch lợn đực dòng VCN03

Chỉ tiêu

Tuổi

Thế hệ

Cá thể

Khoảng cách

Mùa vụ

Năm

Thể tích tinh dịch (V)

***

***

***

***

***

***

Hoạt lực tinh trùng (A)

***

***

***

NS

***

***

Nồng độ tinh trùng (C)

***

***

***

NS

NS

***

VAC

***

***

***

**

***

***

Tỉ lệ tinh trùng kỳ hình (K)

***

***

***

NS

***

***

Ghi chú: NS: P>0,05; **: P<0,01; ***: P<0,001

Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi khai thác tinh, thế hệ, cá thể đực giống, mùa vụ và năm đều ảnh hưởng rất rõ rệt đến hầu hết các chỉ tiêu số lượng và chất lượng tinh lợn. Tuy nhiên, hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng, tỉ lệ kỳ hình không bị ảnh hưởng bởi khoảng cách giữa hai lần khai thác và nồng độ tinh trùng cũng không ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ.



Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến chất lượng tinh dịch, một số tác giả đã công bố yếu tố mùa vụ có ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh dịch. Cụ thể: Hà Xuân Bộ và cs. (2013a) nghiên cứu trên lợn đực Pietrain, cho biết yếu tố mùa vụ ảnh hưởng rõ rệt tới thể tích tinh dịch và nồng độ tinh trùng nhưng không ảnh hưởng đến hoạt lực tinh trùng. Wysokinska và cs. (2009), Banaszewska và cs. (2007) kết luận rằng tổng số tinh trùng (VAC) trong một lần khai thác ở các tháng mùa hè thấp hơn so với các tháng mùa thu và mùa đông. Các chỉ tiêu về phẩm chất tinh dịch ở mùa hè thấp nhất và cao nhất ở mùa thu và mùa đông (Smital, 2009). Milewska và cs. (2004) đã tìm thấy ảnh hưởng của mùa vụ đến thể tích tinh dịch, giá trị này cao nhất vào mùa thu và mùa đông. Theo như trên thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi là phù hợp với kết quả công bố trên, theo đó thì số lượng và chất lượng bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ.

        1. Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03

Kết quả bảng 9 cho thấy, sự chênh lệch giữa giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của các chỉ tiêu nghiên cứu là rất lớn. Cụ thể, thể tích tinh dịch cao gấp hơn 4 lần, hoạt lực tinh trùng cao gấp 1,5 lần, nồng độ tinh trùng cao gấp hơn 5 lần, tỉ lệ tinh trùng kỳ hình cao gấp hơn 8 lần, chỉ tiêu tổng hợp đánh giá số lượng và chất lượng tinh dịch VAC chênh lệch nhau đến gần 15 lần. Điều này chứng tỏ số lượng và chất lượng tinh dịch giữa các cá thể đực khác nhau, giữa các lần khai thác và mùa vụ khai thác khác nhau có biến động rất lớn.

Bảng 9: Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03

Chỉ tiêu

n

Mean

Min

Max

Thể tích tinh dịch (ml)

3260

266,49

120,00

510,00

Hoạt lực tinh trùng (%)

3260

84,11

60,00

90,00

Nồng độ tinh trùng (triệu/ml)

3260

282,05

103,70

641,93

Chỉ tiêu tổng hợp VAC (tỉ/lần)

3260

63,72

12,78

192,44

Tỉ lệ kỳ hình (%)

3260

6,28

1,80

15,90

Lợn đực dòng VCN03 với tổng số 3260 lần khai thác trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 2013 các chỉ tiêu khảo sát đạt trung bình như sau: thể tích tinh dịch là 266,49 ml, hoạt lực tinh trùng là 84,11%, nồng độ tinh trùng là 282,05 triệu/ml, tỉ lệ kì hình chiếm 6,28%, chỉ tiêu tổng hợp VAC là 63,72 tỉ/lần khai thác. Kết quả nghiên cứu trên là cao hơn so với kết quả công bố của Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008), lợn đực dòng VCN03 có thể tích tinh dịch là 229,3 ml, hoạt lực tinh trùng đạt 76%, tỉ lệ kì hình chiếm 6,65%, chỉ tiêu tổng hợp VAC đạt 54,09; lợn đực Duroc có thể tích tinh dịch là 220,5 ml, hoạt lực tinh trùng đạt 79%, tỉ lệ kì hình chiếm 6,74%, chỉ tiêu tổng hợp VAC đạt 46,27 tỉ/lần khai thác. Theo Đỗ Đức Lực và cs. (2013) cho biết lợn đực PiDu25, PiDu50, PiDu75 và lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC có thể tích tinh dịch và hoạt lực tinh trùng thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi, cụ thể lần lượt là 217,20; 241,66; 154,11 và 201,10 ml; hoạt lực tinh trùng lần lượt là 78,14; 76,53; 79,20 và 75,19%. Tuy nhiên, tỉ lệ tinh trùng kỳ hình lại thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi và lần lượt là 3,92; 5,60; 1,86 và 6,25.

So với một số công bố dưới đây thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại có phần thấp hơn, cụ thể là: trên lợn đực Pietrain có thể tích tinh dịch là 277,27 ml, nồng độ tinh trùng là 310,49, tỉ lệ kì hình chiếm 5,16% và chỉ số tổng hợp VAC là 68,81 (Hà Xuân Bộ và cs. 2011). Theo Đỗ Đức Lực và cs. 2013, lợn đực Pietrain có kiểu gen Halothane CC với thể tích tinh dịch là 299,46 ml, hoạt lực tinh trùng là 80,49%, nồng độ tinh trùng là 400,33 tỉ/ml, tỉ lệ kì hình chiếm 4,67% và chỉ số tổng hợp VAC là 92,27 tỉ/lần khai thác.

Các chỉ tiêu về số lượng (V, C) và chất lượng (A, VAC) ở lợn đực VCN03 là cao hơn so với ở đực Duroc, Pietrain kiểu gen Halothan CC và nhóm đực đực lai PiDu có các tỉ lệ máu Pietrain 25, 50 và 75% nuôi tại Việt Nam. Tuy nhiên, tỉ lệ kỳ hình có xu hướng cao hơn. So với lợn đực Pietrain nuôi tại Việt Nam (Hà Xuân Bộ và cs., 2011) thì số lượng và chất lượng tinh ở lợn đực dòng VCN03 kém hơn. Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 cao hơn Landrace và Yorkshire nuôi tại Việt Nam (Phan Xuân Hảo, 2002).

Kết quả nghiên cứu này là phù hợp với kết quả công bố về lợn Pietrain của Ciereszko và cs. (2000), thể tích tinh dịch và hoạt lực tinh trùng là tương đương với kết quả nghiên cứu của Smital J. (2009), Wolf và Smital J. (2009), Wysokinska và cs. (2009), tuy nhiên nồng độ tinh trùng lại thấp hơn. So với kết quả công bố của Wierzbicki và cs. (2010) thì hoạt lực tinh trùng ở nghiên cứu của chúng tôi là tương đương, thể tích tinh dịch thấp hơn nhưng nồng độ tinh trùng là cao hơn.

Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực Landrace và Yorkshire cũng biến động rất lớn. Cụ thể: thể tích tinh dịch của lợn đực Landrace và Yorkshire nuôi tại Brazil là 236,90 - 300,40 và 238,10 - 284,10 ml (Castro và cs., 1997), nuôi tại Thụy Điển là 239,80 và 256,40 ml (Kunc và cs., 2001); hoạt lực tinh trùng của lợn đực Landrace và Yorkshire là 0,73 và 0,74 (Phan Xuân Hảo, 2002), là 0,79 - 0,80 và 0,77 - 0,78 (Castro và cs., 1997), là 0,71 - 0,83 và 0,59 - 0,81 (Huang và cs., 2002); Nồng độ tinh trùng của lợn đực Landrace và Yorkshire là 487,4 và 486,89 triệu/ml (Kunc và cs., 2001), là 175 - 245 và 202 - 228 triệu/ml (Huang và cs., 2002); Chỉ tiêu tổng hợp VAC của lợn đực Landrace và Yorkshire là 37,55 - 38,96 và 34,71 - 36,79 tỷ/lần (Phan Xuân Hảo, 2002), là 74,22 và 81,39 tỷ/lần (Kunc và cs., 2001).

Các giá trị đạt được về số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực VCN03 trong nghiên cứu của chúng tôi là ở các mức cao hơn, tương đương hoặc thấp hơn so với các kết quả đã công bố.

Các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực VCN03 nuôi tại Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp đạt tương đối tốt và đều đạt tiêu chuẩn theo Quyết định tạm thời các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đối với giống vật nuôi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 67/2002/QĐ-BNN, số 1712/QĐ-BNN (2008) quy định đối với lợn đực ngoại sử dụng trong thụ tinh nhân tạo và Quyết định 657/QĐ-BNN-CN của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (2014) về việc phê duyệt các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật cho các đàn vật nuôi giống gốc.


        1. Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 qua các mùa

Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 tại các mùa (xuân, hè, thu, đông) được trình bày tại bảng 10. Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với yếu tố mùa vụ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tinh dịch được trình bày ở bảng 8. Bốn chỉ tiêu (thể tích tinh dịch, hoạt lực tinh trùng, chỉ tiêu VAC và tỉ lệ tinh trùng kỳ hình) tại bốn mùa sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05), còn riêng nồng độ tinh trùng tại bốn mùa sai khác không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Thể tích tinh dịch và hoạt lực tinh trùng đạt cao hơn tại mùa Xuân và mùa Hè, thấp hơn tại mùa Thu và mùa Đông. Chỉ tiêu tổng hợp VAC đạt cao hơn tại mùa Xuân và mùa Hè, thấp hơn ở mùa Thu và tiếp theo là mùa Đông. Tỉ lệ tinh trùng kỳ hình thấp nhất tại mùa Xuân và mùa Đông, cao nhất tại mùa Thu và tiếp theo là mùa Hè.



Bảng 10: Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03

qua các mùa

Chỉ tiêu

Mùa xuân

(n = 809)



Mùa hè (n = 788)

Mùa thu (n = 805)

Mùa đông (n = 858)

LSM

SE

LSM

SE

LSM

SE

LSM

SE

Thể tích tinh dịch (ml)

264,82a

7,62

264,99a

5,56

259,70b

3,63

257,60b

2,05

Hoạt lực tinh trùng (%)

85,79a

0,89

85,23a

0,65

83,60b

0,42

84,08b

0,24

Nồng độ tinh trùng (triệu/ml)

273,40

7,10

274,09

5,17

273,14

3,38

275,56

1,91

VAC (tỷ/lần khai thác)

63,39a

2,69

63,37a

1,96

60,39b

1,28

61,34ab

0,73

Tỉ lệ tinh trùng kỳ hình (%)

6,21b

0,20

6,29ab

0,15

6,36a

0,10

6,21b

0,05

* Ghi chú : các giá trị trong cùng một hàng, có mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê P<0,05)

Theo Smital J. (2009), Hà Xuân Bộ và cs. (2011) cho thấy phẩm chất tinh dịch của lợn Pietrain tốt nhất ở mùa Đông và mùa Xuân tiếp đến mùa Thu và thấp nhất mùa Hè. Wierzbicki và cs. (2010) cũng chỉ ra rằng nồng độ tinh trùng, hoạt lực tinh trùng và tổng số tinh trùng tiến thẳng ở mùa Đông (642,02 triệu/lần, 72,68% và 94,14 tỷ/lần) cao hơn so với mùa Hè (590,87 triệu/ml, 72,51% và 92,72 tỷ/lần) và thể tích tinh dịch không có sự khác biệt giữa các tháng trong năm. Hà Xuân Bộ và cs. (2013a) lợn Pietrain kháng stress nuôi tại Trung tâm Giống lợn chất lượng cao đạt tốt ở mùa Xuân và đồng thời có xu hướng giảm ở mùa Hè. Mùa Thu thể tích tinh dịch tăng, nồng độ tinh trùng thấp nên chỉ tiêu tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần khai thác (VAC, tỷ/lần) đạt 47,15 tỷ/lần tương đương với mùa Xuân (45,20 tỷ/lần) và cao hơn so với mùa Hè (36,74 tỷ/lần). Kết quả nghiên cứu của Luc và cs. (2013) cũng cho thấy nồng độ tinh trùng thấp nhất ở tháng 7 (mùa Hè), cao nhất vào tháng 10 và 11 (mùa Đông).



Như vậy, các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 tại bốn mùa (xuân, hè, thu đông) nuôi tại Trạm nghiên cứu và phát triển lợn giống hạt nhân Tam Điệp có xu hướng khác so với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên các giống lợn khác và ở địa điểm nghiên cứu khác. Sự sai khác này một phần là do yếu tố di truyền của giống và các yếu tố ngoại cảnh tác động rất lớn đến số lượng và chất lượng tinh dịch. Điều kiện chăn nuôi chăm sóc ở các cơ sở là khác nhau, khí hậu khác nhau và tiểu khí hậu chuồng nuôi khác nhau, các yếu tố ngoại cảnh xung quanh tác động đến lợn đực cũng khác nhau.

        1. Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 qua các năm.

Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 qua các năm được trình bày tại bảng 11.

Bảng 11: Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03

qua các năm

Chỉ tiêu

Thể tích tinh dịch (ml)

Hoạt lực tinh trùng (%)

Nồng độ tinh trùng (triệu/ml)

VAC (tỷ/lần khai thác)

Tỉ lệ tinh trùng kỳ hình (%)

LSM

SE

LSM

SE

LSM

SE

LSM

SE

LSM

SE

Năm 2006

264,57bc

30,37

91,34a

3,55

247,21b

28,29

63,96ab

10,74

6,09c

0,80

Năm 2007

258,79bc

21,69

90,79a

2,54

294,02a

20,20

70,15a

7,67

6,43ab

0,57

Năm 2008

248,20c

13,14

86,11b

1,54

278,26ab

12,24

60,50b

4,65

6,13c

0,34

Năm 2009

270,65ab

5,23

86,45b

0,61

280,47ab

4,87

67,82a

1,85

6,20bc

0,14

Năm 2010

256,12bc

5,49

81,15c

0,64

264,45ab

5,11

55,68b

1,94

6,26b

0,14

Năm 2011

270,86a

13,63

79,24c

1,59

276,93ab

12,70

59,38b

4,82

6,53a

0,36

Năm 2012

263,24bc

22,20

77,64c

2,60

276,98ab

20,68

57,37b

7,85

6,24b

0,58

Ghi chú: các giá trị trong cùng một cột, có mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 qua các năm có sự biến động lớn, tất cả các chỉ tiêu này qua các năm sai khác đều có ý nghĩa thống kê. Thể tích tinh dịch (ml/1 lần khai thác) đạt cao nhất ở năm 2011 (270,86 ml), tiếp đến là năm 2009 (270,65 ml) và thấp nhất ở năm 2008 (248,20 ml); các năm 2006, 2007, 2010 và 2012 sai khác không có ý nghĩa thống kê. Hoạt lực tinh trùng (%) đạt cao hơn ở năm 2006 và 2007, giảm xuống ở năm 2008 và 2009, đạt thấp hơn ở năm 2010, 2011 và 2012. Nồng độ tinh trùng (triệu/ml) đạt thấp nhất ở năm 2006 (247,24), cao nhất ở năm 2007 (294,02), từ năm 2008 đến năm 2012 tương đối ổn định và sự sai khác không có ý nghĩa thống kê. Chỉ tiêu VAC (tỷ/lần khai thác) đạt cao hơn ở năm 2007, 2009 và tiếp đến là năm 2006; các năm 2008, 2010, 2011 và 2012 đạt thấp hơn. Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (%) cũng có biến động qua các năm. Như vậy, yếu tố năm ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng tinh dịch, sự sai khác có ý nghĩa thống kê.



        1. Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03 qua hai thế hệ

Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống dòng VCN03 qua hai thế hệ (thế hệ 0 là thế hệ xuất phát, thế hệ 1 là thế hệ đã được chọn lọc) được trình bày ở bảng 12.

Bảng 12: Số lượng và chất lượng tinh dịch của lợn đực dòng VCN03

qua hai thế hệ

Chỉ tiêu

Thế hệ 0

(n = 1720)

Thế hệ 1

(n = 1540)

P




LSM

SE

LSM

SE




Thể tích tinh dịch (ml)

256,03a

11,71

267,52b

19,87

<0,0001

Hoạt lực tinh trùng (%)

78,23a

1,37

91,12b

2,32

<0,0001

Nồng độ tinh trùng (triệu/ml)

270,80a

10,91

277,29b

18,51

<0,0001

VAC (tỉ/lần khai thác)

54,98a

4,14

69,26b

7,03

<0,0001

Tỉ lệ kỳ hình (%)

6,51a

0,31

6,03b

0,52

<0,0001
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương