Kinh tế việt nam năM 2014: TỔng quan vĩ MÔ



tải về 3.48 Mb.
trang13/47
Chuyển đổi dữ liệu18.07.2016
Kích3.48 Mb.
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   47



Nguồn: TCTK và tính toán của UBGSTCQG

- Khu vực công nghiệp và xây dựng đã hồi phục hơn so với 2013, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2014 tăng 7,6%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khoảng 8,7%, cao hơn mức tăng của năm 2013 (lần lượt là 5,9% và 7,3%). Tham khảo các chỉ số khác như PMI27, lượng điện tiêu thụ năm 2014 cho thấy xu hướng hồi phục sản xuất năm 201428 là khá rõ nét .

- Xuất khẩu tăng trưởng khá. Tổng kim ngạch xuất khẩu 2014 đạt trên 150 tỉ USD, tăng 13,6% so với năm 2013. Trong đó, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 13% (2013 tăng 3,5%). Đặc biệt, xuất khẩu năm 2014 đánh dấu sự phục hồi của nhóm hàng nông sản với tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 30,8 tỉ USD, tăng 11,2% (2013 tăng 0,7%).29 Theo tính toán, phần tăng thêm về lượng của 8 mặt hàng nông sản xuất khẩu30 đóng góp khoảng 56% phần tăng thêm trong tổng kim ngạch xuất khẩu31.

- Cân đối ngân sách được cải thiện nhờ tăng thu, nhất là thu nội địa và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu32. Năm 2014, tổng thu NSNN đạt 104% so với dự toán, tăng 11% so với năm 2013.

Bên cạnh những thành công trên, nền tảng vĩ mô tiếp tục được thiết lập vững chắc là một trong những thành tựu quan trọng đáng ghi nhận năm 2014. Theo đó, lạm phát 1,84%, kiểm soát ở mức thấp nhất trong vòng hơn 10 năm trở lại đây (4,09% nếu tính bình quân 12 tháng và lạm phát cơ bản33 ở mức 3%) 34; Cán cân thanh toán tiếp tục thặng dư, thị trường ngoại hối khá ổn định. Tỉ giá USD/VND tăng 1%, khoảng cách giữa lãi suất đồng ngoại tệ và nội tệ được duy trì khá rộng tạo tính hấp dẫn của tiền gửi nội tệ.



- Thị trường tài chính có nhiều chuyển biến tích cực:

+ Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn, hệ thống TCTD giảm bớt rủi ro35. Biểu hiện: (i) Thanh khoản hệ thống dồi dào, tiền gửi của khu vực dân cư và TCKT tăng mạnh dù lãi suất huy động giảm (hệ số LDR giảm36), mặt bằng lãi suất huy động, cho vay và cả liên ngân hàng giảm mạnh xuống mức thấp tương đương với thời điểm năm 2005-2006; (ii) Đường cong lãi suất hợp lý hơn; (iii) Chất lượng tài sản của hệ thống TCTD cải thiện đáng kể, các TCTD tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý nợ xấu; (iv) Áp lực suy giảm năng lực tài chính của các TCTD giảm bớt: Chênh lệch lãi suất cho vay – huy động (NIM) đã ổn định sau khi giảm mạnh trong giai đoạn 2011-2013. NIM giảm từ 3,5% (năm 2011) xuống 3,2% (năm 2012) và 2,8% (năm 2013) và được duy trì ổn định trong năm 2014.

+ Thị trường chứng khoán tăng khá. Vốn hóa thị trường năm 2014 tương đương 31,5% GDP. Huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu và cổ phần hóa đạt 25.100 tỉ đồng, tăng 22% so với năm 2013. Tổng tài sản hệ thống Công ty Chứng khoán lần đầu tiên tăng trở lại kể từ năm 2011, đạt khoảng 75.500 tỉ đồng, tăng 20% so với cuối năm 2013. Tỉ lệ an toàn vốn khả dụng toàn hệ thống đạt 350% (cao hơn chuẩn an toàn 180%). Chất lượng tài sản của các công ty chứng khoán, công ty quản lí quỹ cải thiện đáng kể, một phần do các công ty chủ động cơ cấu danh mục đầu tư, một phần do giá chứng khoán tăng (chỉ số VN index tăng 8,13% trong năm 2014).

Tóm lại, nền kinh tế Việt Nam năm 2014 đã thoát đáy và có sự phục hồi nhất định trên nhiều lĩnh vực. Cùng với đó, chúng ta đã thành công trong việc duy trì nền tảng vĩ mô ổn định hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn một số vấn đề cần lưu ý: số doanh nghiệp ngừng hoạt động vẫn ở mức cao, tiến trình thực hiện tái cơ cấu kinh tế còn chậm, nợ công ở mức khá cao và cơ cấu chưa hợp lý…\

  1. Chính sách tiền tệ năm 2014

  1. Diễn biến chính sách tiền tệ năm 2014

Quán triệt chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 2/1/2014, mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) đã được chuyển từ “linh hoạt, thận trọng, hiệu quả” sang “linh hoạt, hiệu quả” với mục tiêu là tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. Điều này được cụ thể hóa qua Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/01/2014 của ngành ngân hàng, trong đó nêu rõ, mục tiêu của CSTT là: (i) Phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, bảo đảm thanh khoản của các TCTD và nền kinh tế. (ii) Điều hành lãi suất, tỉ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, thị trường tiền tệ, bảo đảm giá trị đồng Việt nam, tăng dự trữ ngoại hối, cải thiện cán cân thanh toán. Đặc biệt là quản lý hiệu quả thị trường ngoại hối, thị trường vàng, kiên quyết chống đô la hóa và tiếp tục củng cố kết quả chống vàng hóa. (iii) Thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng gắn liên với kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, cơ cấu lại nợ, hạn chế nợ xấu gia tăng, tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra và công khai, minh bạch hoạt động của các TCTD. Về cơ bản, mục tiêu của CSTT trong năm 2014 không thay đổi nhiều so với 2013, ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát tiếp tục là mục tiêu hàng đầu.

Diễn biến thực tế của chính sách tiền tệ trong năm 2014 đã thể hiện rõ sự chuyển đổi này và bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực. Cụ thể:



  1. Lãi suất được điều chỉnh theo xu hướng giảm dần:

Năm 2014, có thể nói việc điều hành lãi suất đã tương đối thành công. Lãi suất được điều hành một cách linh hoạt không những tạo điều kiện kéo mặt bằng lãi suất về bằng giai đoạn 2005 – 2006, đẩy mạnh sản xuất mà còn được sử dụng linh hoạt để duy trì tỉ giá và ổn định thị trường nội tệ.

Tiếp nối năm 2013, mặt bằng lãi suất duy trì xu hướng giảm trong năm 2014 (mức giảm từ 0,8 – 1,5% so với cuối năm 2013). Chủ trương hạ lãi suất thể hiện chủ trương tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, theo đó chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt hơn để đáp ứng nhu cầu tăng cường tín dụng cho khu vực sản xuất và của nền kinh tế.

Tín hiệu giảm lãi suất được phát đi từ đầu năm ngay khi lãi suất điều hành (lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu, tái cấp vốn...) được chủ động hạ thấp. Cụ thể, ngày 18/3/2014, lãi suất tái cấp vốn được hạ từ 7% xuống 6,5%/năm, lãi suất cho vay qua đêm giảm từ 8% xuống 7,5%/năm lãi suất tái chiết khấu giảm từ 5% xuống 4,5%/năm. Lãi suất huy động VND kỳ hạn dưới 6 tháng giảm từ 7% xuống 6% (tháng 3/2014) và xuống 5,5% (tháng 10/2014), lãi suất tối đa cho tiền gửi USD giảm từ 1% xuống 0,75%/năm.

Biểu đồ 8: Lãi suất điều hành NHNN giai đoạn 2011 – 2014

Nguồn: NHNN

Trong năm 2014, lãi suất được giảm 2 lần với những mục đích khác nhau. Đợt điều chỉnh lần đầu diễn ra vào tháng 3/2014. Đây là đợt giảm lãi suất để phát tín hiệu giảm lãi suất cho vay, kích thích tăng trưởng và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất. Đợt điều chỉnh thứ 2 diễn ra vào tháng 10 /2014 dựa trên cơ sở tín hiệu tích cực về diễn biến CPI giảm liên tục trong năm và lạm phát kỳ vọng năm 2014 (ở dưới mức 5%), thanh khoản toàn hệ thống khá tốt. Có thể nói, các đợt điều chỉnh lãi suất trên là hợp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu của nền kinh tế nên đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.



Biểu đồ 9: Lãi suất huy động và cho vay phổ biến37

Biểu đồ 10: CPI so với cùng kỳ năm trước





Nguồn: UBGSTCQG


Đối với lãi suất huy động, đến cuối năm 2014, lãi suất huy động các kỳ hạn dưới 6 tháng dao động trong khoảng 4 -4,5%, kỳ hạn 6 tháng trở lên là 5,3 – 7,5%. Mặt bằng lãi suất giảm nhưng tiền gửi vẫn tăng mạnh (+19,3%). Trên thực tế, nhiều TCTD đã chủ động giảm lãi suất thấp hơn so với trần lãi suất quy định. Việc giảm lãi suất huy động có tác dụng giảm dần lãi suất cho vay.

Việc tập trung điều chỉnh lãi suất huy động ngắn hạn và cho phép các TCTD tự thỏa thuận lãi suất huy động dài hạn đã khuyến khích người dân gửi vào kỳ hạn trên 12 tháng. Cơ cấu nguồn vốn chuyển dịch tích cực. Đến cuối năm 2014, tỉ trọng vốn huy động ngắn hạn so với tổng nguồn vốn huy động là khoảng 77% (năm 2011, tỷ lệ này là 90%). Đường cong lãi suất trở lại đúng quy luật từ đó giảm bớt rủi ro kỳ hạn và giúp TCTD chủ động phân bổ vốn tốt hơn.



Về lãi suất cho vay, với việc lãi suất cho vay ngắn hạn được điều chỉnh giảm 2%/năm đối với các lĩnh vực ưu tiên, phù hợp với xu hướng giảm trần lãi suất huy động bằng VND và thấp hơn khoảng 2% so với mặt bằng lãi suất cho vay chung của thị trường đã có tác dụng hỗ trợ doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực này giảm chi phí vay vốn theo chủ trương của Chính phủ.

Trên cơ sở yêu cầu đẩy mạnh dư nợ cho vay vào các lĩnh vực ưu tiên, các TCTD đã đồng loạt giảm lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên về mức 7%/năm theo quy định. Một số NHTM Nhà nước đã áp dụng lãi suất cho vay trung và dài hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên về mức tối đa 10%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 7%/năm, lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 7- 9%/năm đối với ngắn hạn; 9,5-11%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất của các khoản vay cũ tiếp tục giảm: Tỉ trọng dư nợ cho vay VND lãi suất trên 15% giảm từ 6,3% (năm 2013) xuống còn 3,9% (năm 2014), tỉ trọng các khoản cho vay lãi suất trên 13% giảm 19,72% (năm 2013) xuống còn 10,65% (năm 2014).

Thanh khoản trên thị trường 1 ổn định, mặt bằng lãi suất huy động – cho vay giảm, kéo lãi suất thị trường liên ngân hàng giảm, khối lượng giao dịch khá ổn định. Lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức thấp, và thấp hơn so với lãi suất OMO, tái cấp vốn và tái chiết khấu, là lợi thế giúp lãi suất cho vay bình quân giảm và tỉ giá ổn định.

Biểu đồ 11: Lãi suất liên ngân hàng (O/N), 2011-2014



Nguồn: UBGSTCQG


  1. Dư nợ tín dụng và lượng tiền lưu thông tăng:

Trong năm 2014, mức tăng trưởng tín dụng là 14,28% và đạt kế hoạch đề ra. Trong đó phải kể đến tăng trưởng tín dụng đã được tập trung nhiều vào một số lĩnh vực ưu tiên, như: (i) Tín dụng cho nông nghiệp nông thôn tăng khoảng 12,8%; (ii) Tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng khoảng 14%; (iii) Tín dụng cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp nông thôn theo đề án tái cơ cấu của Bộ Nông nghiệp &Phát triển nông thôn tăng trên 16%.

Bên cạnh đó, trong năm, một lượng lớn tiền đã được bơm hút đều đặn qua nhiều kênh khác nhau nhưng vẫn đảm bảo thanh khoản và hài hòa với mối quan hệ với tỉ giá. Cụ thể (Biểu đồ 12 và 13):



  • Đến 31/12/2014, tăng trưởng M2 đạt 17,69%, hoàn thành mục tiêu 2014. M2 nhìn chung được điều chỉnh nhịp nhàng, hài hòa với tình hình kinh tế vĩ mô. Cung tiền và tín dụng tăng đều hơn theo tháng, tăng trưởng tín dụng bớt dồn ép vào những tháng cuối năm như trước đây. Tín dụng đã dần đi vào khu vực sản xuất kinh doanh, số lượng doanh nghiệp hấp thụ được tín dụng đã cải thiện hơn.

  • Song song với việc tăng dự trữ ngoại hối, NHNN tăng phát hành tín phiếu để trung hòa lượng tiền bỏ ra để mua USD. Xu hướng chung trên thị trường mở 2014 là hút ròng khi NHNN liên tục có các đợt phát hành tín phiếu mới. Năm 2014, tổng khối lượng hút ròng của NHNN trên thị trường mở là 131.695 tỉ đồng. Tín phiếu là công cụ được NHNN sử dụng hiệu quả để điều hòa được lượng tiền trong lưu thông, các NHTM cũng có xu hướng tích trữ tín phiếu NHNN như một tài sản an toàn, thanh khoản cao, mà vẫn tìm kiếm được lợi nhuận.

Biểu đồ 12: Khối lượng giao dịch OMO năm 2014 (đơn vị: tỉ đồng)



Nguồn: UBGSTCQG tổng hợp

Biểu đồ 13: Diễn biến tăng trưởng M2 và tín dụng theo tháng năm 2014



Nguồn: NHNN

  1. Về cơ bản, tỉ giá và thị trường vàng ổn định:

  • Trong cả năm 2014, về cơ bản, tỷ giá được giữ ổn định (với mức tăng chỉ 1%). Nửa đầu năm 2014, tỉ giá bình quân liên ngân hàng ổn định ở mức 21.036 VND/USD. Đến tháng 6/2014, trong điều kiện lạm phát giảm nhanh, tỉ giá USD/VND điều chỉnh lên mức 21.246 VND/USD để can thiệp thị trường ngoại hối sau sự kiện Biển Đông.

Cụ thể diễn biến trong năm đã có 2 lần can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối. Lần thứ nhất diễn ra vào ngày 18/6, tỉ giá đã được quyết định tăng lên 1% thành 21.246 VND/USD để bám sát hơn với cung cầu thực tế đồng thời giúp ổn định tỉ giá. Do ngay từ đầu năm, đã có kế hoạch điều chỉnh tỉ giá không quá 2% trong năm 2014 cùng với tình hình lạm phát thấp, dự trữ ngoại hối cao nên việc điều chỉnh này đã không gây xáo động trên thị trường, thị trường ngay sau đó đã ổn định hơn.

Lần can thiệp thứ 2 vào nửa cuối năm 2014, tỉ giá tăng mạnh bắt đầu từ ngày 12/11 một phần do kỳ vọng của thị trường là tỉ giá sẽ được điều chỉnh lần thứ hai, phần khác là do yếu tố mùa vụ khi cầu ngoại tệ tăng cao để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa phục vụ tiêu dùng dịp lễ, Tết và khi các khoản vay ngoại tệ đáo hạn. Khi đó, việc can thiệp đã được thực hiện trực tiếp bằng cách bán một lượng lớn ngoại tệ (từ giữa tháng 11 cho đến hết tháng 12). Đồng thời , trên thị trưởng mở, một lượng tiền khoảng 46 nghìn tỉ đồng đã được bơm ròng để đảm bảo thanh khoản. Nhờ vậy, đã đảm bảo sự ổn định của thị trường ngoại hối đồng thời đảm bảo thanh khoản cho toàn thị trường.



  • Cùng với việc duy trì tỉ giá ổn định, giữ chênh lệch lãi suất tiền gửi VND và USD (4-5%) với hướng có lợi hơn cho việc nắm giữ VND đã làm tăng tính hấp dẫn của tiền đồng, khuyến khích doanh nghiệp bán USD cho ngân hàng, làm tăng cung ngoại tệ, góp phần khắc phục tình trạng đô la hóa, ổn định thị trường ngoại hối trong năm 2014 (tỉ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm 13% tổng tiền gửi). Nhờ đó, dự trữ ngoại hối đã đạt 35 tỉ USD (quý II/2014), tương đương 14 tuần nhập khẩu.

  • Bên cạnh đó, với việc chủ động công bố thông tin định hướng điều hành tỉ giá, nâng cao vai trò là người mua/bán ngoại tệ cuối cùng trên toàn hệ thống đã giúp cho công tác điều hành chính sách tỉ giá thời gian qua được chủ động hơn, không bị động trước những áp lực của thị trường.

Biểu đồ 14: Diễn biến tỉ giá 2014 và đầu năm 2015



Nguồn: UBGSTCQG tổng hợp

Biểu đồ 15: Xuất nhập khẩu và tỉ giá USD/VND 2014



Nguồn: VCB& TCTK

Biểu đồ 16: Diễn biến giá vàng trong nước và thế giới (triệu đồng/lượng)



Nguồn: Gold.vn & Bloomberg

  • Ngoài ra, thị trường vàng 2014 diễn biến tương đối ổn định mặc dù chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới vẫn ở mức khá cao (4-5 triệu đồng/lượng). Tuy nhiên, việc NHNN không phải tổ chức đấu thầu vàng miếng để ổn định thị trường cho thấy tình hình cung cầu thị trường được kiểm soát. Diễn biến ổn định thị trường vàng đã góp phần không nhỏ cho việc ổn định thị trường ngoại hối trong nước.

  1. Một số nhận xét:

  1. Những mặt tích cực:

Nhìn chung, công tác điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2014 đã đạt được một số mặt tích cực sau:

  • Thứ nhất là, xét về tổng quát, chính sách đã được thực hiện một cách chủ động, đồng bộ và nhất quán, trong đó có sự phối hợp khá chặt chẽ với những chính sách khác để đạt được những mục tiêu cơ bản là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, giữ ổn định giá trị đồng nội tệ, giảm dần hiện tượng vàng hóa, đô la hóa, đảm bảo thanh khoản của hệ thống các TCTD, thúc đẩy phát triển kinh tế….

  • Thứ hai là, hệ thống lãi suất được điều hành theo xu hướng giảm dần tương ứng với xu hướng giảm giá (CPI), tỷ lệ nghịch với tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự hình thành đường cong lãi suất theo quy luật thị trường đã chứng tỏ hệ thống lãi suất đã góp phần tích cực hỗ trợ cho nền kinh tế nói chung và một số lĩnh vực ưu tiên phát triển. Bên cạnh đó, lãi suất VND được duy trì cao hơn lãi suất USD cũng đã góp phần ổn định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại tệ và giảm hiện tượng đô-la hóa trong nền kinh tế.



  • Thứ ba là, lượng tiền cung ứng và mức độ tín dụng đã được tăng trưởng một cách có kiểm soát và phù hợp với nhu cầu và tốc độ phát triển kinh tế trong cả năm. Bên cạnh đó, cơ cấu vốn huy động cũng đang được thay đổi theo hướng tích cực hơn với việc tỷ lệ vốn huy động dài hạn tăng và ngắn hạn giảm giúp ổn định thị trường tiền tệ.

- Thứ tư là, lãi suất ổn định theo xu hướng giảm dần, thanh khoản được đảm bảo trên thị trường tiền tệ cùng với tỉ giá ổn định đã giúp cho thị trường ngoại hối hoạt động ổn định, giá trị đồng nội tệ được duy trì, hỗ trợ xuất khẩu và tăng trưởng GDP. Kết quả rõ nét nhất là cán cân tài chính chuyển từ thâm hụt (năm 2013) sang thặng dư hơn 5 tỷ USD (năm 2014) và cán cân thanh toán ước thặng dư 10 tỷ USD.

b. Một số vấn đề cần được lưu ý

- Xử lý nợ xấu và tái cơ cấu các TCTD được quan tâm nhưng tốc độ còn chậm

Sau ba năm thực hiện tái cơ cấu, hệ thống TCTD đã có những dấu hiệu tích cực: (i) Thanh khoản ngân hàng ổn định (ii) Lãi suất có xu hướng giảm; (iii) Tỉ giá tiếp tục được duy trì ổn định; (iv) Tín dụng cho nền kinh tế tăng trưởng khá trở lại; (iv) Nợ xấu từng bước được xử lý qua nhiều hình thức như: Sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ cho VAMC, phát mại tài sản bảo đảm,... theo đó chất lượng tài sản đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, tỉ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao hơn so với mục tiêu 3% của đề án tái cơ cấu. Các TCTD yếu kém tuy đã được khu biệt và xử lý nhưng tiến độ vẫn chậm. Để hoàn thành kết quả Đề án tái cơ cấu hệ thống TCTD, đưa tỉ lệ nợ xấu toàn hệ thống TCTD xuống dưới 3% thì cả hệ thống cần phải nỗ lực hơn nữa.



- Tỉ giá năm 2015 chịu nhiều áp lực hơn năm 2014

Mặc dù đã được điều chỉnh thêm 1% vào đầu năm 2015 và cam kết không điều chỉnh quá 2% trong năm nhưng tỉ giá vẫn chịu nhiều áp lực do: (i) Đồng USD đang tăng giá nhiều so với các ngoại tệ khác. (ii) Lãi suất Đôla Mỹ được kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ cho tăng sớm vào tháng 6/2015 làm cho Chỉ số Dollar Index38 đạt mức cao nhất 12 năm. (iii) Dư địa điều chỉnh tỷ giá không còn nhiều sau khi tỷ giá đã được điều chỉnh 1% vào đầu tháng 1/2015...



  1. Một số gợi ý chính sách năm 2015

  1. Bối cảnh kinh tế thế giới

  1. Tình hình kinh tế thế giới Quý I/ 2105

- Tăng trưởng của nhóm các nước phát triển có dấu hiệu tích cực trong khi các nước BRICS39 chậm lại, cụ thể:

- Mỹ đón nhận nhiều dấu hiệu tích cực trong 2 tháng đầu năm 2015: chỉ số PMI tháng 2015 của Mỹ đạt 55,1 điểm40, tăng nhẹ so với mức 53,9 điểm của tháng 1. Tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 5,5% (mức thấp nhất trong vòng 7 năm qua). Dù vậy FED vẫn có ý định giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục trong thời gian dài hơn khi lạm phát âm trong tháng 1 làm dấy lên lo ngại về tăng trưởng của Mỹ trong năm nay.



- Eurozone rơi vào giảm phát từ tháng 12/2014 khi CPI của khu vực này bất ngờ giảm xuống mức -0,2%, CPI tháng 2/2015 tiếp tục giảm 0,3% so với cùng kỳ năm ngoái, sau khi giảm 0,6% vào tháng 1. Để thúc đẩy lạm phát và tăng trưởng kinh tế, ECB sẽ bắt đầu chương trình QE từ 3/2015 đến tháng 9/2016 với kỳ vọng sẽ có 1,1 nghìn tỷ euro được bơm vào nền kinh tế khu vực.

- Nhật Bản đang phải đối mặt với 2 thách thức lớn là vực nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái và ngăn chặn nguy cơ giảm phát. Khu vực sản xuất có dấu hiệu tốt nhưng nền kinh tế này vẫn còn nhiều bất định với một loạt các chỉ số kinh tế tiêu cực trong tháng 1: doanh số bán lẻ giảm 2% so với cùng kỳ năm trước (đợt giảm đầu tiên trong vòng 7 tháng qua), chi tiêu tiêu dùng các hộ gia đình giảm mạnh (-5,1%), chỉ số CPI chỉ tăng 0,2%, thấp hơn mức tăng 0,5% của tháng trước đó, tỉ lệ thất nghiệp tăng từ mức 3,4% (tháng 12/2014) lên 3,6%.

- Trung Quốc hạ dự báo tăng trưởng kinh tế nhằm giảm bớt áp lực trong việc nới lỏng chính sách để kích thích tăng trưởng. Tháng 2/2015, chỉ số PMI sản xuất của Trung Quốc đã tiếp tục tăng nhẹ tháng thứ 2 liên tiếp để đạt mức 52,3 điểm. Tuy nhiên, chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 2 lại giảm mạnh 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái sau khi giảm 4,3% trong tháng 1 (chỉ số PPI giảm do giá hàng hóa lao dốc). Trước tình hình đó, Trung Quốc hạ mục tiêu tăng trưởng xuống 7% trong năm 2015, thấp hơn mức 7,4% của năm 2014.

- Nhiều quốc gia vẫn duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ và tài khóa41 do tăng trưởng còn nhiều bất trắc và giá hàng hóa thế giới tiếp tục xu hướng giảm. Tính đến tháng 2/2015 hầu hết giá hàng hóa trên thế giới đều giảm so với đầu năm. Trong đó: dầu thô giảm 14,7%, cafe giảm 9,3%, gạo Việt Nam 5% giảm 7,6%.42 Theo dự báo của World Bank,43 trong năm 2015 giá năng lượng giảm 40,5%, giá lương thực giảm 4,8%, giá nguyên liệu thô giảm 6%.

- Nhiều ngân hàng trung ương tiếp tục CSTT nới lỏng bằng việc duy trì lãi suất thấp, thậm chí cắt giảm thêm lãi suất (EU bắt đầu chương trình mua trái phiếu, Fed chưa tăng lãi suất đồng USD). Cùng với xu hướng cắt giảm lãi suất, nhiều đồng tiền cũng giảm giá so với USD. Trong nửa năm qua (từ tháng 10/2014 đến tháng 3/2015), đồng tiền của Trung Quốc, Hàn Quốc, In-đô-nê-xia, Singapore, Ma-lai-xia mất giá lần lượt 2,8%, 4,2%, 7,1%, 6,8% và 11% so với USD44.

- Chính phủ nhiều nước cũng tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng, tăng ngân sách cho các khoản chi tiêu. Chính phủ Mỹ cũng đề xuất kế hoạch ngân sách cho năm 2016 trị giá 4.000 tỉ USD với nhiều nội dung tăng chi tiêu và cải cách thuế. Trung Quốc cũng tuyên bố cắt giảm 1/5 thuế thu nhập đối với những doanh nghiệp có mức thu nhập hàng năm phải chịu thuế ở 200.000 Nhân dân tệ và có kế hoạch đầu tư hơn 260 tỉ USD vào cơ sở hạ tầng trong nước. Nhật Bản thông qua gói ngân sách kỷ lục cho năm tài khóa 2015 với 2 mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế và củng cố tài khóa. Ngân sách được thông qua là 96.342 tỉ Yên (793 tỉ USD), tăng gần 0,5% so với gói ngân sách năm trước.

b. Dự báo kinh tế thế giới năm 2015

- Khủng hoảng địa chính trị sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đặc biệt là đối với Nga và khu vực Châu Âu. Kinh tế Mỹ dự báo sẽ tăng trưởng khá hơn, nhưng các nền kinh tế chủ chốt khác như Nhật Bản, EU dự báo chưa thể có sự hồi phục mạnh mẽ trong năm 2015. Kinh tế Trung Quốc giảm tốc. Bên cạnh đó, giá dầu dự báo ở mức thấp sẽ ảnh hưởng phần nào đến kinh tế thế giới. Theo dự báo của IMF 19/01/2015, các nền kinh tế đầu tầu thế giới như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc sẽ có mức tăng trưởng lần lượt đạt 3,6%; 1,2%; 0,6% và 6,8%. ASEAN-5 (Thailand, Philippines, Malaysia, Indonesia, Singapore) sẽ có mức tăng trưởng 5,2% trong năm 2015, giảm 0,2 điểm % so với dự báo trước đó (năm 2014 ước tính tăng trưởng GDP nhóm ASEAN-5 là 4,6%).



: Uploads -> Articles04
Uploads -> Kính gửi Qu‎ý doanh nghiệp
Uploads -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Uploads -> Như mọi quốc gia trên thế giới, bhxh việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước
Uploads -> Tác giả phạm hồng thái bài giảng ngôn ngữ LẬp trình c/C++
Uploads -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Uploads -> TRƯỜng đẠi học ngân hàng tp. Hcm markerting cơ BẢn lớP: mk001-1-111-T01
Uploads -> TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 8108 : 2009 iso 11285 : 2004
Uploads -> ĐỀ thi học sinh giỏi tỉnh hải dưƠng môn Toán lớp 9 (2003 2004) (Thời gian : 150 phút) Bài 1
Articles04 -> MỤc lục phầN 1: ĐÁnh giá KẾt quả thực hiệN
Articles04 -> BÁo cáo hsbc kết nối giao thưƠng việt nam


1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương