Kinh tế việt nam năM 2014: TỔng quan vĩ MÔ


Đồ thị 6: Tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân năm 2000-2014 (%)



tải về 3.48 Mb.
trang10/47
Chuyển đổi dữ liệu18.07.2016
Kích3.48 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   47

Đồ thị 6: Tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân năm 2000-2014 (%)

Nhờ thực thi chính sách tài chính lành mạnh, chính sách tiền tệ thận trọng và những thuận lợi trong nước và quốc tế nên trong năm 2014 hệ thống tài chính, tiền tệ, giá cả và tỷ giá đã cơ bản ổn định, tạo nền tảng rất quan trọng để chấm dứt tình trạng "tăng trưởng nhanh - khủng hoảng lớn" luân phiên kéo dài hàng chục năm qua. Tuy nhiên hiện nay hoạt động ngân hàng vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức. Tỷ lệ nợ xấu đang ở mức khá cao; chất lượng tín dụng chưa được cải thiện; nợ xấu chưa được phân loại và đánh giá đầy đủ, chính xác theo chuẩn mực quốc tế. Hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng rất thấp so với các năm trước đây. Chênh lệch thu nhập - chi phí năm 2014 của toàn hệ thống chỉ tăng khoảng 3%, thấp hơn so với năm 2013. Chênh lệch giữa lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào thấp, trong khi chi phí trích lập dự phòng rủi ro tăng mạnh do chất lượng tài sản giảm sút... Đây là những thách thức cần tiếp tục xử lý trong năm 2015.



8. Đánh giá toàn cảnh kinh tế vĩ mô năm 2014

Nhìn bức tranh tổng thể kinh tế vĩ mô năm 2014 nêu trên, có thể khẳng định nền kinh tế tiếp tục có những tiến bộ nhất định và quan trọng hơn, đang đi đúng hướng mặc dù bước đi còn rất chậm và chưa ổn định. Đối với một nền kinh tế mới thoát khỏi ngưỡng nước nghèo chưa lâu, trong điều kiện cơ cấu kinh tế vĩ mô mất cân đối nghiêm trọng kéo dài, đạt được những thành tựu vĩ mô nêu trên là rất đáng khích lệ.

Điểm sáng lớn nhất là các cân đối vĩ mô sau khi chuyển dịch về các “tọa độ” cân bằng trung hạn trong năm 2013 đã tiếp tục được củng cố trong năm 2014; do đó tới đây nếu không có bất ngờ xảy ra thì sẽ bền vững và hiệu quả; trên cơ sở này có thể điều chỉnh lớn về thể chế và cơ cấu kinh tế, từ đó mở ra một giai đoạn tăng trưởng mới với tốc độ và chất lượng cao hơn.

Cần nhắc lại là đối với mỗi nền kinh tế đều có một tốc độ tăng trưởng kinh tế tiềm năng (trung, dài hạn) đi kèm với những cân đối vĩ mô tương ứng. Điều này cũng giống như một tốc độ tăng trưởng kinh tế tiềm năng phải đi kèm với một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên hay một tỷ lệ lạm phát tự nhiên.

Nếu đưa tất cả vào một mô hình tính toán cân đối, hoàn toàn có thể xác định được đi kèm với một tốc độ tăng trưởng kinh tế tiềm năng cân bằng trung hoặc dài hạn, ví dụ 7-7,5% như ở nước ta trong gần hai thập kỷ trước (1990-2007), 5,5-6% trong giai đoạn hiện nay (bằng tốc độ tăng trưởng trung bình của 7 năm 2008-2014) và khoảng 7-7,5% từ năm 2020 trở đi, thì những chỉ tiêu cơ bản liên quan như đầu tư, lao động, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, ngân sách, lạm phát... cần tương ứng là bao nhiêu. Đây chính là bộ các “tọa độ” cân bằng (trung, dài hạn), hay trục, quỹ đạo tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế đang phát triển chệch (tăng trưởng nóng hoặc lạnh) với quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, thông qua các điều chỉnh chính sách, chúng ta có thể đưa nền kinh tế quay trở lại quỹ đạo phát triển tiềm năng. Quá trình này gọi là bước hay quá trình điều chỉnh kinh tế; thời gian cần thiết để quay trở lại được gọi là thời gian hay tốc độ điều chỉnh kinh tế.

Lịch sử phát triển kinh tế gần đây đã chứng minh rất rõ điều đó. Trong giai đoạn trung hạn 2008-2014, nền kinh tế đã tăng trưởng quá nóng vào năm 2010 gây ra những bất ổn rất nghiêm trọng, phải cần đến 3 năm 2011-2013 mới trở về được quỹ đạo cân bằng thấp và thêm 1 năm 2014 để củng cố thế cân bằng bền vững và nâng dần hiệu quả. Trong quá trình đó, đôi khi đã phải trả giá quá nhiều; ví dụ năm 2012 do hạ cánh quá nhanh, thắt chặt tài chính tiền tệ quá mạnh, tỷ lệ lạm phát giảm đột ngột..., hàng trăm nghìn doanh nghiệp đã bị phá sản hoặc đóng cửa dừng hoạt động; đời sống người lao động và dân cư gặp rất nhiều khó khăn. Dự báo còn cần ít nhất 1-2 năm nữa các cân bằng vĩ mô mới trở nên thực sự bền vững và phát huy hiệu quả, tạo điều kiện để nâng dần tốc độ tăng trưởng kinh tế về tốc độ tiềm năng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Nghiêm túc mà nói, đối với nền kinh tế nước ta, đã qua rồi giai đoạn tăng trưởng dễ dàng. Nếu không có những đổi mới mạnh mẽ, kiên quyết thì tốc độ tăng trưởng kinh tế tiềm năng không thể cao bằng giai đoạn trước. Khác với những năm đầu đổi mới – mở cửa, khi đó các nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng còn rất phong phú, nhu cầu của dân cư sau thời kỳ chiến tranh thắt lưng buộc bụng và bao cấp khắc khổ tăng lên rất nhanh đồng thời tốc độ tăng trưởng dân số cũng rất cao, cần một tốc độ tăng trưởng lên tới 7-7,5%/năm để thỏa mãn. Ngày nay, đời sống nhân dân đã thay đổi rõ rệt so với trước trong khi tốc độ tăng trưởng dân số cũng đã chậm lại rất đáng kể (chỉ còn 1%) nên sức ép phải tăng trưởng nhanh thực sự không quá lớn. Vấn đề quan trọng hơn là chất lượng tăng trưởng và chính sách điều tiết, phân chia thu nhập hợp lý; đặc biệt cần kiên quyết chống tham nhũng để những thành tựu về tăng trưởng đến tay người lao động, người nghèo chứ không chỉ lọt vào tay một bộ phận người giầu. Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, một tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 5,5-6% là hoàn toàn phù hợp; tương ứng với nó là tỷ lệ đầu tư trên GDP cũng không nên quá 30%, thu ngân sách không nên vượt quá 22-23% GDP; tỷ lệ lạm phát không nên quá 5-6%... Vì thế mới nói đối chiếu những chỉ tiêu, “tọa độ” này với bức tranh tổng thể kinh tế vĩ mô, có thể tin rằng nền kinh tế đã đi tới đáy vào năm 2013 và đang dần dần lập được trạng thái cân bằng ổn định với năng suất, chất lượng và tốc độ tăng trưởng tăng dần lên kể từ năm 2014.

Khái quát lại, trong năm 2014, nền kinh tế nước ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối hợp lý; các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tỷ lệ lạm phát trở về mức an toàn, lần đầu tiên đạt được kể từ năm 2004... Tăng trưởng kinh tế vẫn phụ thuộc các các nhân tố tăng trưởng của những năm trước là đầu tư, lao động, xuất khẩu và tiêu dùng; tuy nhiên vai trò của chúng đang được điều chỉnh. Trong khi vai trò của vốn đầu tư giảm mạnh, vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu ổn định thì vai trò của năng suất lao động, đã tăng lên rất nhanh. Mặt khác, tiêu dùng đang nổi lên, thay cho vốn đầu tư, trở thành nhân tố cơ bản thúc đẩy tăng trưởng, trong đó tiêu dùng chính phủ đang giữ vị trí rất quan trọng. Điều này phản ánh tác động của các nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng (vốn, lao động) đã chậm lại, trong khi tác động của các nhân tố theo chiều sâu (hiệu quả đồng vốn, năng suất lao động) và thị trường (tiêu dùng) bắt đầu tăng lên. Các hoạt động tài chính, ngân hàng, thương mại, giá cả đều phát triển ổn định hơn dù chưa có những tiến bộ nổi bật.

Tuy nhiên, nhiều khó khăn thách thức vẫn tồn tại, có mặt trở lên gay gắt hơn. Nổi bật là tốc độ đổi mới quá chậm và thiếu kiên quyết; cơ cấu kinh tế vẫn hết sức trì trệ, chưa thấy lối ra, từ cơ cấu vĩ mô xuống cơ cấu ngành, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu địa bàn. Sản xuất kinh doanh vẫn gặp rất nhiều khó khăn; số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động vẫn rất lớn. Bội chi 4,6% vẫn quá cao do nhu cầu chi tiêu chính phủ quá lớn. Nợ xấu, rủi ro vẫn là những nỗi lo, bức xúc thường trực. Thực hiện lộ trình giá thị trường đối với nhiều hàng hóa và dịch vụ thiết yếu chậm. Hoạt động của một số tổ chức tín dụng chưa thực sự an toàn. Thị trường bất động sản trầm lắng; nguy cơ khủng hoảng vẫn lớn, nhất là do tốc độ tăng trưởng cung tiền tệ vẫn khá cao. Hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; hệ số ICOR cao. Các chương trình tái cơ cấu được thực hiện quá chậm. Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chậm lại, giá thành quá cao... có nguy cơ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm tới. Chênh lệch giầu nghèo, bất công đã trở lên quá lớn gây nhiều bức xúc trong xã hội.

Do vậy, mặc dù nền kinh tế có dấu hiệu ấm lên song sự phục hồi còn rất mong manh nên Việt Nam cần kiên trì con đường tăng trưởng thận trọng. Nếu tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng, sẽ buộc phải gia tăng đầu tư công, gia tăng nợ công, nới lỏng thêm chính sách tiền tệ, tăng cường phát hành trái phiếu, làm giảm nguồn vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh... Hậu quả sẽ rất tai hại như những gì đã diễn ra trong khoảng chục năm gần đây.

Bao trùm lên tất cả và là nguy cơ chính gây mất ổn định kinh tế trong thời gian tới là tốc độ cải cách kinh tế, cải cách thể chế, cải cách hành chính đều quá chậm. Quy trình xây dựng, chất lượng và tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách rất yếu. Kỷ luật kỷ cương hành chính chưa nghiêm; tham nhũng lãng phí vẫn tràn lan chưa có cách gì khắc phục; tác dụng của công tác giám sát, thanh tra rất hạn chế. Chất lượng giáo dục đào tạo và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, có mặt giảm sút. Tội phạm và tệ nạn xã hội vẫn diễn ra khắp nơi nhưng không có giải pháp căn cơ xử lý. Nói nhiều, hứa nhiều, làm ít hoặc không làm đang là căn bệnh phổ biến ở mọi cấp lãnh đạo.

Nguyên nhân chủ yếu là lãnh đạo chưa thực sự kiên trì mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 5,5-6%, vẫn muốn tăng trưởng nhanh hơn nên không còn nhiều tâm sức nâng cao chất lượng tăng trưởng, xây dựng thể chế kinh tế thị trường phù hợp với trình độ phát triển, đẩy mạnh tái cơ cấu lại nền sản xuất, mạnh mẽ đấu tranh chống tham nhũng, cải cách bộ máy nhà nước và công tác cán bộ theo hướng tận tâm phục vụ dân... Cũng chưa thực tâm tuân thủ nguyên tắc tối cần thiết đề ra trong suốt năm 2014 là: Kiên định không chạy theo tăng trưởng nhanh; lấy ổn định vĩ mô và phát triển hài hòa làm đại cục, ra sức nâng cao chất lượng tăng trưởng để thay đổi hoàn toàn cục diện "tăng trưởng nhanh - khủng hoảng lớn" luân phiên kéo dài hàng chục năm qua. Khi muốn tiếp tục tăng trưởng kinh tế cao thì sẽ không thể chấp nhận những chi phí phải bỏ ra (kèm theo việc giảm tốc độ tăng trưởng) để thực hiện những cải cách cần thiết.



9. Nhìn về tương lai: Muốn gì và cần làm gì trong năm 2015 và 1-2 năm tiếp theo?

Bối cảnh phát triển kinh tế năm 2015 cũng như mọi năm đều sẽ có những mặt thuận và những mặt không thuận, nhưng dự báo mặt thuận là cơ bản. Kinh tế thế giới phục hồi và hội nhập kinh tế với thế giới, với Cộng đồng kinh tế ASEAN chắc chắn sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nước ta. Tuy nhiên, như dự báo của nhiều tổ chức quốc tế, tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ tăng lên dù không mạnh nhưng vững chắc vì đã có những điều chỉnh thể chế kinh tế tài chính thích hợp, hiệu quả. Tháng 1/2015 Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã điều chỉnh dự báo giảm 0,3% về tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới so với dự báo thực hiện tháng 10/2014. Do vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới sau khi đều đạt 3,3% trong 2 năm 2013-2014 sẽ chỉ tăng lên 3,5% năm 2015 và 3,7% năm 2016. Đáng ngạc nhiên là các nền kinh tế nhóm G7 (trừ Nhật Bản) đều sẽ cải thiện nhanh tốc độ tăng trưởng trong khi những nền kinh tế mới nổi và đã có thời tăng trưởng rất nhanh lại khó có thể nâng cao được tốc độ tăng trưởng vốn đang rất yếu.

Nhờ kinh tế phục hồi, tới đây nhiều nước công nghiệp sẽ cắt giảm chương trình kích cầu. Lãi suất ở Mỹ và châu Âu sẽ tăng; nguồn vốn từ các nước đó chạy vào Việt Nam và các nước đang phát triển khác sẽ chậm lại vì chúng sẽ lưu lại ở Mỹ và các nước công nghiệp phát triển do lãi suất ở đó cao. Điều này sẽ ảnh hưởng tới thu hút đầu tư nước ngoài của nước ta, và do đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng trung hạn và dài hạn. Thực tế này đã xảy ra trong nửa cuối năm 2014 khi kinh tế Mỹ bắt đầu phục hồi và từng bước đang trở lại tốc độ tăng trưởng cao.

Ở tầm trung và dài hạn, có thể thấy rõ kinh tế toàn cầu nói chung và của các nước đang phát triển châu Á nói riêng sẽ khó có thể lập lại những tốc độ tăng trưởng thần kỳ đạt được trong nửa sau thế kỷ 20. Kinh tế Mỹ đã từ hơn chục năm nay chỉ tăng trưởng khoảng 1-3%, giảm mạnh so với 4-5% trong nhiều năm trước đó, trong đó hai năm 2013-2014 chỉ tăng trưởng 2,3%/năm; dự báo năm 2015 sẽ tăng lên 3,6% rồi giảm về 3,3% năm 2016. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước khối EU cũng giảm mạnh tương ứng. Kinh tế Trung Quốc IMF dự báo chỉ tăng trưởng khoảng 6,8% năm 2015 và 6,3% năm 2016 so với xấp xỉ 10%/năm trong suốt 30 năm trước đó.

Dự báo trong 2 năm 2015-2016, tăng trưởng kinh tế của nhóm ASEAN-5 gồm 5 quốc gia Đông Nam Á Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Việt Nam chỉ đạt 5,2%, trong đó, Việt Nam dự báo cũng chỉ đạt mức 5,2%. IMF dự báo năm 2016, tăng trưởng kinh tế của nhóm sẽ phục hồi hơn so với năm 2015 nhưng cũng chỉ đạt mức 5,3%.

Trong năm 2015 khu vực các nước ASEAN sẽ có nhiều chuyển biến lớn với sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm. Đây sẽ là một thị trường duy nhất và một cơ sở sản xuất duy nhất, trong đó hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư và nhân công có trình độ sẽ được tự do lưu thông giữa tất cả các nước. Do vậy, nhiều cơ hội mới sẽ được mở ra. Tự do hoá kinh tế trong nội bộ khối sẽ làm cho nhiều loại chi phí giảm mạnh và các luồng vốn di chuyển giữa các quốc gia ASEAN ngày càng dễ dàng hơn; sự dịch chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia trong khu vực sẽ tăng mạnh, đặc biệt là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Ở trong nước, dự báo tình hình năm 2015 nền kinh tế vẫn tương đối trì trệ, nhưng từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng được tổ chức vào đầu năm 2016, và việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, đất nước và nền kinh tế sẽ phải có nhiều thay đổi to lớn. Về bối cảnh, có thể nói 2015 sẽ là năm bản lề cho tương lai của nền kinh tế Việt Nam, bởi đây sẽ là năm hình thành nhiều khối tự do mậu dịch mà Việt Nam sẽ tham gia, trước hết là ba khối: Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên hiệp châu Âu (Việt Nam – EU AFTA) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Riêng với hợp tác ASEAN, trong năm 2015, Việt Nam sẽ phải đẩy mạnh việc thực hiện những sáng kiến kinh tế hiện có, đặc biệt là: (i) Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN, Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ và Khu vực Đầu tư ASEAN; (ii) thúc đẩy hội nhập khu vực trong các ngành ưu tiên; (iii) tạo thêm nhiều thuận lợi cho việc đi lại của doanh nhân, lao động lành nghề và nhân tài giữa các nước ASEAN...

Những áp lực của hội nhập, cạnh tranh quốc tế và khu vực cùng với những chủ trương chính sách mới được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng đầu năm 2016 chắc chắn sẽ đòi hỏi Chính phủ cũng như từng doanh nghiệp, cá nhân phải hành động quyết liệt hơn. Thuận lợi và khó khăn đan xen nhau; khó khăn cũng có mặt tích cực là tạo sức ép để phải đổi mới, phải hành động. Thực tiễn cho thấy càng bị đẩy vào hoàn cảnh khó khăn, người Việt và doanh nhân Việt càng trở lên mạnh mẽ. Do vậy, nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016-2020 dự báo sẽ cao hơn so với giai đoạn 2011-2015; năng suất, chất lượng, hiệu quả dự báo sẽ có bước cải thiện... nếu như những chính sách phát triển đi đúng hướng.

Giữa lúc nền thế giới đang phục hồi tăng trưởng và sức ép cạnh tranh quốc tế lớn như vậy, thì nền kinh tế nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng vẫn quá yếu ớt, thậm chí chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Do vậy, mục tiêu chủ yếu của chính sách kinh tế năm 2015 và 1-3 năm tiếp theo không phải là tăng trưởng cao mà là tập trung sửa chữa những lỗi hệ thống, nâng cao chất lượng tăng trưởng, làm nền tảng phát triển mạnh mẽ cho những năm sau. Nếu như Việt Nam giữ được tốc độ tăng trưởng khoảng 5,5-6% trong khi chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh tăng vọt, thì sẽ là điều rất đáng mừng.

Để nâng cao chất lượng tăng trưởng, không gì khác hơn là phải đổi mới mô hình tăng trưởng, nhấn mạnh vào sử dụng nguồn vốn con người, phát huy sức mạnh của trí tuệ con người, thay cho nguồn vốn đầu tư cũng như các nhân tố phát triển theo chiều rộng khác. Dứt khoát phải từ bỏ con đường phát triển dựa vào mở rộng bội chi ngân sách, phát hành tiền tệ tín dụng, khai thác tài nguyên và lao động rẻ tiền (thực chất là bóc lột nhân công), bán đất đai và vay nợ nước ngoài như đã làm trong hàng chục năm qua, tập trung tâm trí và sức lực xây dựng (i) một hệ thống pháp luật đầy đủ, khoa học và thực hiện triệt để nguyên tắc thượng tôn pháp luật, (ii) một thể chế kinh tế thị trường thực sự lành mạnh, theo đúng chuẩn mực quốc tế để động viên được sức mạnh của toàn dân, toàn thể cộng đồng doanh nghiệp vào sự nghiệp phát triển đất nước. Đây cũng chính là những vấn đề then chốt phải xử lý để đất nước tăng trưởng nhanh, bền vững và thoát được ra khỏi cái bẫy thu nhập trung bình.

Những vấn đề cụ thể để chất lượng tăng trưởng, đổi mới mô hình tăng trưởng... rất nhiều, không thể bàn tới trong khuôn khổ bài viết này được. Để bắt đầu từ đâu, dựa vào đâu để thóat khỏi tình trạng trì trệ hiện nay, chỉ xin kể ra một vấn đề then chốt, trọng tâm nhất và dễ thấy nhất là công tác cán bộ.

Chất lượng cán bộ quyết định tất cả; cán bộ tốt thì làm ra thể chế tốt, điều hành và giám sát thực hiện thể chế tốt. Đất nước tiến nhanh hay tiến chậm, phát triển hay thụt lùi có liên quan chặt chẽ tới chất lượng hoạt động của bộ máy lãnh đạo đất nước, của hệ thống chính quyền từ trung ương với cơ sở. Để nâng cao chất lượng tăng trưởng, dứt khoát phải nâng cao chất lượng bộ máy giám sát thực hiện đúng pháp luật và nguyên tắc kinh tế thị trường, tức là nâng cao năng lực và phẩm chất đội ngũ cán bộ nhà nước.

Thực ra Việt Nam là nước đi sau nên hoàn toàn có thể sao chép kinh nghiệm, cách làm của các nước đi trước để áp dụng cho mình (như Trung Quốc đã và đang làm rất thành công), mặt khác cán bộ nhà nước đa phần là làm sự vụ hành chính theo quy định của pháp luật. Do đó không nhất thiết phải dồn sức cho việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ mà vấn đề cực kỳ quan trọng hiện nay là nâng cao phẩm chất, đạo đức cán bộ.

Phẩm chất cán bộ thể hiện ở hai tiêu chí: (i) Dám nhìn thẳng vào sự thật, nói ra sự thật, bảo vệ những người nói ra sự thật; (ii) Một lòng một dạ làm việc vì lợi ích của dân; nói ít, làm nhiều; cái gì có lợi cho dân, cho đất nước thì nhất định phải làm; cái gì hại nhất thiết phải bỏ; bảo vệ những người thực sự làm việc vì lợi ích của dân, của nước. Chỉ khi có đủ hai tiêu chí này thì mới chống được tình trạng tham nhũng và quan liêu ức hiếp đang lộng hành trong bộ máy công quyền hiện nay.

Cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo ở mọi cấp, phải thực sự hiểu dân, phải biết thương dân, phải nhìn thấy dân nghèo sống khổ cực như thế nào, doanh nghiệp đang khốn khổ ra sao, bị bộ máy công quyền hạch sách gây khó khăn như thế nào... để tìm cách giúp đỡ.

Luân chuyển cán bộ phải là cơ hội để họ hiểu dân hơn và làm ra nhiều thành tựu cho người dân chứ không phải chỉ để hoàn chỉnh lý lịch cho bước thăng quan tiến chức tiếp theo. Chỉ những cán bộ làm ra được những thành tựu cho địa phương, cho người dân mới được thăng quan tiến chức sau khi hoàn thành tốt nhiệm vụ ở cơ sở.

Mỗi công dân khi đồng ý làm việc trong bộ máy nhà nước nên bắt đầu công tác ở cơ sở, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào khó khăn để vừa rèn luyện, vừa học cách thương yêu và nhận thấy trách nhiệm của mình với cuộc sống của người dân. Nhà nước có chế độ thích hợp về tiền lương, nhà công vụ, thời hạn luân chuyển công tác, cách thức nâng đỡ, bảo vệ người làm việc tốt, làm việc chỉ vì lợi ích đất nước, lợi ích của người dân... để khuyến khích cán bộ công chức trẻ về công tác ở cơ sở.

Nếu như quyết tâm nâng cao phẩm chất cán bộ, trước hết từ cấp cao nhất ở Trung ương, dần dần xuống mọi cấp chính quyền cơ sở, thì nhất định quan điểm, mô hình phát triển sẽ được thay đổi, đất nước sẽ có tương lai tươi đẹp.

Trong khi chưa có những thay đổi mang tính đột phá về công tác cán bộ, không thể hy vọng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà không gây ra những cuộc khủng hoảng mới. Vì vậy ở tầm ngắn hạn, trong điều hành chính sách kinh tế xã hội, cần tiếp tục thực hiện nguyên tắc tối cần thiết là:  Kiên định không chạy theo tăng trưởng nhanh; lấy ổn định vĩ mô và phát triển hài hòa (kinh tế, xã hội, môi trường) làm đại cục, ra sức nâng cao chất lượng tăng trưởng để chấm dứt hoàn toàn cục diện "tăng trưởng nhanh - khủng hoảng lớn" luân phiên kéo dài hàng chục năm qua. Khi đó phải chấp nhận có một giai đoạn điều chỉnh cơ cấu và thể chế kinh tế, kèm theo một tốc độ tăng trưởng thấp.

Đã xác định được mục tiêu (hướng vào chất lượng thay cho số lượng) thì dù khó khăn đến đâu cũng nhất định phải tìm mọi cách để thực hiện. Lãnh đạo phải luôn luôn khảm một câu trong đầu: “Kiên trì, không vội. Kiên trì, chính là thắng lợi!”.

-----------

Lưu ý: Tổng cục Thống kê vừa tính lại số liệu GDP theo giá cố định 2010 cho tất cả các năm từ 2005 đến nay. Tốc độ tăng trưởng hàng năm theo số mới giảm 1-1,3% so với số cũ, tức là rất lớn. Ví dụ năm 2006 số công bố trước tăng trưởng 8,44% thì số mới chỉ là 7,13%... Từ đây các số liệu GDP thành phần (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư, tích lũy, tiêu dùng, xuất nhập khẩu...)  cũng thay đổi.

Thêm nữa, TCTK chỉ mới tính lại đến năm 2005, còn những năm trước 2005 thì coi như không có số liệu. Do đó không thể dùng mô hình toán để phân tích chi tiết hơn được. Một số chỉ tiêu khác liên quan cũng thay đổi... Vì vậy sử dụng thông tin từ những con số ở VN cần thận trọng. Theo dõi xu thế tiến triển đáng tin cậy hơn là theo dõi con số cụ thể.

Đặc biệt, từ nay dường như Tổng cục Thống kê sẽ chính thức dùng "tốc độ tăng giá bình quân năm" làm chỉ tiêu lạm phát năm thay cho "mặt bằng giá tháng 12 năm nay so với mặt bằng giá tháng 12 năm trước"...

Đáng buồn nhất hiện nay là phần lớn các chỉ tiêu thống kê ở nước ta giống của quốc tế về tên gọi, nhưng không giống về bản chất, về nội dung, nên không thể so sánh quốc tế. Thực tế này dẫn tới chúng ta thường xuyên sửa đổi lại các số liệu mỗi khi cải tiến phương pháp thống kê. Thứ hai là phần lớn các số liệu không thật chuẩn xác, thậm chí sai rất lớn so với thực tế; hậu quả là TCTK và nhiều Bộ, ngành thường xuyên tính lại giá trị các chỉ tiêu của những năm cũ rồi âm thầm sử dụng. Nếu số liệu cứ thế này thì chính sách kinh tế không thể đúng được.



Tài liệu tham khảo:

1) “Tình hình kinh tế - xã hội năm 2014”, báo cáo của Tổng cục Thống kê

2) “10 sự kiện nổi bật ngành Tài chính năm 2014”, trang thông tin điện tử Bộ tài chính: http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/cttk?p_itemid=156392020&p_itemtype=2176921

3) Overview of the World Economic Outlook Projections của IMF, tháng 1/2015.

4) “Kinh tế vĩ mô: Những điểm sáng 2013 và định hướng 2014”, Lê Việt Đức, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 2 (429), tháng 2-2014.

5) Nguồn số liệu trong bài chủ yếu từ Niên giám thống kê các năm.



KINH TẾ VIỆT NAM: GIẢI PHÁP “VƯỢT ĐÁY”

VÀ TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG

PGS.TS Nguyễn Chí Hải

Trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐHQG TP.HCM)

Tóm tắt: Nội dung bài viết nhằm nhận diện và đánh căn nguyên suy giảm tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2014. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, bên cạnh những nguyên nhân nội tại của mô hình tăng trưởng, điểm nghẽn hiện tại của nền kinh tế chính là sự lạc hậu về trình độ công nghệ và năng suất thấp. Bài viết cũng khuyến nghị các giải pháp để nền kinh tế Việt Nam “vượt đáy” suy giảm và tăng trưởng bền vững.

Từ khóa: Chu kỳ kinh tế, đáy của chu kỳ kinh tế, năng suất, khoa học công nghệ, phát triển kinh tế bền vững.

1. Giới thiệu

“Kinh tế Việt Nam đã đến đáy? là chủ đề của một cuộc Tọa đàm khoa học được tổ chức tại TPHCM vào cuối tháng 11 năm 2014 với sự góp mặt của một số chuyên gia kinh tế, giảng viên kinh tế ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế Việt Nam hiện nay, để trả lời câu hỏi: Kinh tế Việt Nam đã thoát đáy hay chưa? Cuộc tọa đàm “nóng” lên với câu hỏi tưởng chừng như đơn giản: Chu kỳ kinh tế là gì? Các tiêu chí đánh giá giai đoạn “suy giảm” của chu kỳ kinh tế? Thực ra đây cũng là chủ đề tranh luận giữa các nhà kinh tế theo trường phái nội sinh và ngoại sinh trong việc giải thích nguyên nhân của chu kỳ kinh tế.

Những kết quả khá lạc quan về sự hồi phục và ổn định vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam năm 2014, cùng với những thành công mới trong nhận thức và thực tiễn điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ, cho phép chúng ta nhận diện rõ hơn, có trọng tâm hơn về các điểm nghẽn, bất cập cốt tử trong nền kinh tế, để có những giải pháp phù hợp nhằm đưa nền kinh tế “vượt đáy” và tăng trưởng bền vững. Mục tiêu tổng quát của nền kinh tế Việt Nam năm 2015 đã được Chính phủ xác định là: “Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trường, nâng cao năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn và vững chắc hơn năm 2014” (Nguyễn Tấn Dũng, 2014). Thực hiện mục tiêu tổng quát này, năm 2015 sẽ là năm bản lề để nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu vừa đạt tốc độ tăng trưởng cao, vừa đảm bảo phát triển bền vững. Theo chúng tôi, mục tiêu tổng quát trên hoàn toàn có thể khả thi và nền kinh tế Việt Nam có cơ hội tạo ra bước đột phá mới trong năm 2015 và các năm tiếp theo, nếu nhận diện đúng căn nguyên của tình trạng suy giảm tăng trưởng kinh tế và có những giải pháp phù hợp.

Bài viết này, tác giả muốn thông qua việc trả lời câu hỏi trên, để đưa ra một cách tiếp cận về phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay, đó là phải coi yếu tố năng suất (Productivity) là yếu tố có vai trò quyết định đối với năng lực cạnh tranh (NLCT) và tăng trưởng bền vững. Phát triển khoa học công nghệ (KHCN) chính chìa khóa để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, hướng đến mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới.



: Uploads -> Articles04
Uploads -> Kính gửi Qu‎ý doanh nghiệp
Uploads -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Uploads -> Như mọi quốc gia trên thế giới, bhxh việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước
Uploads -> Tác giả phạm hồng thái bài giảng ngôn ngữ LẬp trình c/C++
Uploads -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Uploads -> TRƯỜng đẠi học ngân hàng tp. Hcm markerting cơ BẢn lớP: mk001-1-111-T01
Uploads -> TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 8108 : 2009 iso 11285 : 2004
Uploads -> ĐỀ thi học sinh giỏi tỉnh hải dưƠng môn Toán lớp 9 (2003 2004) (Thời gian : 150 phút) Bài 1
Articles04 -> MỤc lục phầN 1: ĐÁnh giá KẾt quả thực hiệN
Articles04 -> BÁo cáo hsbc kết nối giao thưƠng việt nam


1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương