Kinh tế việt nam năM 2014: TỔng quan vĩ MÔ



tải về 3.48 Mb.
trang16/47
Chuyển đổi dữ liệu18.07.2016
Kích3.48 Mb.
1   ...   12   13   14   15   16   17   18   19   ...   47

Nguồn: TCTK http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=388&idmid=3&ItemID=15421http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=392&idmid=3&ItemID=15463

  1. Cấu trúc “vốn đầu tư” trong các loại hình doanh nghiệp

Theo số liệu từ TCTK tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất và nếu so năm 2013 với năm 1995 thì chỉ giảm 1,6 điểm phần trăm (từ 42% xuống 40,4%); một điều đặc biệt là kể từ khi hội nhập WTO năm 2007 đến nay vốn đầu tư cho khu vực kinh tế Nhà nước lại có xu hướng tăng lên, trong khi đó khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI lại có xu hướng giảm xuống.

Bảng 2. Cấu trúc “vốn đầu tư” theo loại hình doanh nghiệp

 

Cơ cấu (%)

 

 

DN NN 

DN NNN 

DN FDI 

1995

100.0

42.0

27.6

30.4

1996

100.0

49.1

24.9

26.0

1997

100.0

49.4

22.6

28.0

1998

100.0

55.5

23.7

20.8

1999

100.0

58.7

24.0

17.3

2000

100.0

59.1

22.9

18.0

2001

100.0

59.8

22.6

17.6

2002

100.0

57.3

25.3

17.4

2003

100.0

52.9

31.1

16.0

2004

100.0

48.1

37.7

14.2

2005

100.0

47.1

38.0

14.9

2006

100.0

45.7

38.1

16.2

2007

100.0

37.2

38.5

24.3

2008

100.0

33.9

35.2

30.9

2009

100.0

40.5

33.9

25.6

2010

100.0

38.1

36.1

25.8

2011

100.0

37.0

38.5

24.5

2012

100.0

40.3

38.1

21.6

Sơ bộ 2013

100.0

40.4

37.6

22.0



  1. Đóng góp của các loại hình doanh nghiệp vào GDP

Hiện nay, Việt Nam đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện. Nếu giai đoạn 2000-2005 tỷ lệ chi phí trung gian trên giá trị sản xuất là 53%, giai đoạn 2006-2010 tỷ lệ này là 63%, thì giai đoạn 2011-2015 tỷ lệ này đã là 72%. Tuy GDP có tăng trưởng (dù thực chất nền kinh tế là rất khó khăn) nhưng tỷ lệ tổng thu nhập quốc gia (GNI) trên GDP ngày càng doãng ra và lượng tiền từ chi trả sở hữu thuần (net, property income) chảy ra nước ngoài ngày càng tăng. Tỷ lệ này tăng khoảng 26 lần vào năm 2012 so với năm 2000, lượng tiền từ chi trả sở hữu thuần chảy ra nước ngoài chủ yếu do các doanh nghiệp FDI chuyển về quốc gia của công ty mẹ. Trong khi đó, khu vực kinh tế Nhà nước hoạt động không hiệu quả, nợ nần lớn, việc chú trọng phát triển khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, đứng về mặt kinh tế, là khẩn thiết để nâng cao sức mạnh nội tại của nền kinh tế. Việc này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam sắp gia nhập TPP và đang tái cơ cấu hoạt động ngoại thương theo hướng tránh phụ thuộc quá mức vào nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào từ nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc. Đồng thời, Việt Nam đang cần phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, nhiệm vụ và cơ hội này hoàn toàn phụ thuộc vào khu vực kinh tế ngoài Nhà nước có phát triển hay không. Thực ra, từ trước đến nay, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước là khu vực có tỉ trọng đóng góp cao nhất trong GDP. Số liệu thống kê (Bảng 1) cho thấy, tỉ trọng đóng góp GDP của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng từ 47% năm 2005 lên 49% năm 2012. Trong khu vực này, khu vực kinh tế cá thể đóng góp tỷ trọng cao nhất trong GDP (33%), cao hơn khu vực kinh tế Nhà nước và cao hơn hẳn khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (18%). Từ trước đến nay, khi nói đến khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, hầu hết các chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách thường xem đó là khu vực kinh tế tư nhân mà hoàn toàn bỏ qua khu vực kinh tế cá thể, hầu như chưa có cuộc điều tra hoặc nghiên cứu nghiêm túc nào về khu vực kinh tế cá thể. Tuy tỷ trọng đầu tư của khu vực doanh nghiệp Nhà Nước trên 40% tổng số vốn đầu tư nhưng tỷ trong của khu vực này trong GDP chỉ 32% trong khi khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tuy tỷ trọng vốn đầu tư chỉ khoảng 38% GDP nhưng tỷ trọng giá trị gia tăng trong GDP của khu vực này chiếm đến 49% GDP; trong đó, tỷ trọng đóng góp GDP của khu vực kinh tế cá thể chiếm đến 33% một lần nữa khẳng định nền kinh tế Việt Nam không chỉ là nền kinh tế gia công mà còn rất manh mún; không một nước nào có thể phát triển nếu nền kinh tế dựa vào sản xuất gia công và cá thể nhỏ lẻ. Thật đáng tiếc là từ năm 2005 đến nay, tỷ trọng này không những không giảm mà còn có xu hướng tăng lên, từ 32,1% năm 2005 tỷ lên 33,2% năm 2012.

Bảng 3. Tỷ trọng đóng góp GDP của các thành phần kinh tế (đơn vị: %)




2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

Sơ bộ

2012

TỔNG SỐ

100

100

100

100

100

100

100

100

Phân theo thành phần kinh tế

 

 

 

 

 

 

 

 

Kinh tế Nhà nước

37,6

36,7

35,3

35,1

34,7

33,5

32,7

32,6

Kinh tế ngoài Nhà nước

47,2

47,2

47,7

47,5

48,0

48,8

49,3

49,3

Kinh tế tập thể

6,6

6,3

6,1

5,9

5,8

5,3

5,2

5,0

Kinh tế tư nhân

8,5

9,0

9,7

10,2

10,5

10,7

10,9

11,1

Kinh tế cá thể

32,1

31,9

31,9

31,4

31,7

32,8

33,2

33,2

Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

15,2

16,1

17,0

17,4

17,3

17,7

18,0

18,1

Nguồn: Niên giám Thống kê Http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=388&idmid=3&ItemID=14481

Bảng 4. Sử dụng nguồn lực và đóng góp của ba khu vực kinh tế (đơn vị: %)




DN nhà nước




DN dân doanh




DN FDI



2001-05

2006-10




2001-05

2006-10




2001-05

2006-10

Sử dụng nguồn lực

























Vốn đầu tư

56,6

44,7




26,4

27,5




17,0

27,8

Tín dụng

36,6

30,9




-

-




-

-

Đóng góp cho nền kinh tế

























GDP

30,0

27,8




46,7

46,1




14,6

17,9

Tăng trưởng GDP

32,9

19,0




44,6

54,2




14,5

17,4

Ngân sách (ngoài dầu thô)

19,6

17,6




6,7

10,3




6,6

10,5

Việc làm

43,5

23,1




40,1

54,8




16,3

22,0

Việc làm mới

-4,1

-13,1




74,1

84,8




30,0

28,3

GTSXCN

28,9

25,5




28,3

34,3




42,7

40,1

Tăng trưởng GTSXCN

28,5

11,6




34,0

42,9




37,4

45,5

Nguồn: Tính toán của Vũ Thành Tự Anh từ số liệu của Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, và Quỹ Tiền tệ Quốc tế

Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước có tỷ trọng đầu tư trong 10 năm (2001-2010) hầu như thay đổi rất ít, không những không được ưu đãi gì về vốn mà còn phải vay ngân hàng với lãi suất cao, nhất là trong giai đoạn 2010–2012, có những lúc chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay lên đến hơn 10 điểm phần trăm, nhưng khu vực này có tỉ trọng đóng góp vào GDP nhiều nhất, có tốc độ tăng trưởng cao nhất và quan trọng hơn cả là tạo ra nhiều việc làm nhất. Khu vực kinh tế Nhà nước tuy có tỷ trọng đầu tư rất cao (56,6% và 44,7% trong 2 giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010, bảng 2) nhưng tạo việc làm mới thậm chí âm. Nhìn vào tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng của giá trị gia tăng có thể thấy hàm lượng giá trị gia tăng của khu vực FDI và khu vực kinh tế Nhà nước thấp hơn khu vực kinh tế ngoài Nhà nước khá nhiều, mặc dù 2 khu vực này được đủ mọi loại ưu đãi của chính sách.



  1. Hiệu quả của các loại hình doanh nghiệp

Tính toán hiệu quả đầu tư từ hệ số ICOR (bảng 3) cũng cho thấy khu vực kinh tế ngoài Nhà nước là khu vực có hiệu quả đầu tư cao nhất nhưng thật trớ trêu khu vực này lại là khu vực kinh tế khó tiếp cận nguồn vớn nhất. Xu hướng chung cho thấy hiêu quả đầu tư của tất cả các thành phần sở hữu đều giảm sút, giảm sút mạnh nhất về hiệu quả đầu tư là khu vực kinh tế đầu tư trực tiếp nước ngoài, việc giảm sút này nguyên nhân chính do báo cáo lỗ giả nhưng lãi thật (chuyển giá) và phần giá trị gia tăng của khu vực này cơ bản là gia công nên hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp. Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước có hiệu quả đầu tư cao, hệ số ICOR tương đương các nước trong khu vực.

Bảng 5. Hệ số ICOR theo thành phần kinh tế

Giai đoạn

Tổng chung

Khu vực kinh tế Nhà nước

Khu vực kinh tế ngoài
Nhà nước


Khu vực FDI

2000-2006

4,92

7,17

3,01

4,95

2007-2013

7,09

9,30

3,89

14,42

2000-2013

6,12

8,20

3,54

10,10

Nguồn: tính toán của tác giả dựa vào số liệu của Tổng cục Thống kê

Ngoài ra, thông qua chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (TFP - Total factor productivity) cho thấy khu vực kinh tế Nhà nước là khu vực có chuyển giao công nghệ nhiều nhất trong 3 khu vực sở hữu, giai đoan 2000-2006 đóng góp của TFP vào tăng trưởng chung của cả nước 22,6% thì trong đó đóng góp của khu vực kinh tế Nhà nước cao hơn mức bình quân chung (23,7%), trong khi khu vực ngoài Nhà nước khoảng 18% và khu vực FDI đóng góp vào tăng trưởng thậm chí âm. Giai đoạn 2007-2012, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng cả nền kinh tế tuy giảm sút nhanh chóng xuống còn 6,4%, nhưng TFP của khu vực Nhà nước đóng góp vào tăng trưởng của khối này vẫn cao nhất (17,4%), khu vực ngoài Nhà nước và khu vực FDI thậm chí âm. Như vậy, có thể thấy về thực chất cho đến nay khu vực ngoài Nhà nước làm ăn manh mún, chậm thay đổi và khu vực FDI về bản chất không đưa công nghệ mới hoặc chỉ đưa công nghệ cũ vào sản xuất, về cơ bản khu vực FDI đang lợi dụng các ưu đãi của Việt Nam về chính sách thuế, đất đai và lợi dụng nhân công giá rẻ và gian lận về thuế (khai lợi nhuận nhỏ đi do chuyển giá...làm tăng chi phí đầu vào)



  1. Nợ của các loại hình doanh nghiệp:

Thời gian qua các đại biểu Quốc hội và các chuyên gia cũng như người dân có nhiều lo lắng về vấn đề nợ công của đất nước, tuy nhiên nợ công theo khái niệm của Việt Nam là một khái niệm còn nhiều tranh cãi; đặc biệt tiêu chí nợ công trên GDP bao nhiêu là hợp lý? Trong bài này tôi nói đến vấn đề nợ của doanh nghiệp Nhà nước, tuy nhiên hiên nay không cơ quan nào công bố cơ cấu của cục nợ; bao nhiêu là nợ trong nước? bao nhiêu là nợ nước ngoài? Lãi suất phải trả của mỗi khoản nợ ra sao? Theo công bố của Tổng cục Thống kê trong “Sự phát triển của Doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2011” và số liệu cập nhật cho năm 2012 cho thấy nợ của khối doanh nghiệp Nhà nước đến năm 2012 vào khoảng 192 tỷ USD chiếm khoảng 124% GDP tăng 8,7% GDP; nếu loại trừ yếu tố giá bằng chỉ số giảm phát GDP thì lượng nợ năm 2012 giảm -2% so với năm 2011. Nếu tính cả doanh nghiệp ngoài Nhà nước thì tổng nợ phải trả của khối doanh nghiệp nội đến năm 2012 khoảng 415 tỷ USD khoảng 269%GDP và nếu lãi suất bình quân khoảng từ 3-4% thì khối doanh nghiệp nội phải trả lãi hàng năm từ 12-16 tỷ USD. Tỷ lệ giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu giai đoạn 2006-2011 của khối doanh nghiệp Nhà nước là 3,3, của khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước là 3; Tuy nhiên tỷ lệ này của doanh nghiệp Nhà nước đến năm 2013 giảm chỉ còn 2,18 tuy nhiên tỷ lệ nợ phải trả so với nguồn vốn chủ sở hữu của khu vực ngoài Nhà nước lại tăng lên nhanh chóng. Bangr dưới cũng cho thấy tỷ lệ nợ phải tra so với nguồn vốn chủ sở hữu và so với GDP của khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm đi nhanh chóng, đây là một tín hiệu đáng mừng nếu đà giảm này vẫn tiếp tục như hiện nay

: Uploads -> Articles04
Uploads -> Kính gửi Qu‎ý doanh nghiệp
Uploads -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Uploads -> Như mọi quốc gia trên thế giới, bhxh việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước
Uploads -> Tác giả phạm hồng thái bài giảng ngôn ngữ LẬp trình c/C++
Uploads -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Uploads -> TRƯỜng đẠi học ngân hàng tp. Hcm markerting cơ BẢn lớP: mk001-1-111-T01
Uploads -> TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 8108 : 2009 iso 11285 : 2004
Uploads -> ĐỀ thi học sinh giỏi tỉnh hải dưƠng môn Toán lớp 9 (2003 2004) (Thời gian : 150 phút) Bài 1
Articles04 -> MỤc lục phầN 1: ĐÁnh giá KẾt quả thực hiệN
Articles04 -> BÁo cáo hsbc kết nối giao thưƠng việt nam


1   ...   12   13   14   15   16   17   18   19   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương