Kinh tế việt nam năM 2014: TỔng quan vĩ MÔ


Tiêu dùng tiếp tục là nhân tố cơ bản duy trì tốc độ tăng trưởng



tải về 3.48 Mb.
trang9/47
Chuyển đổi dữ liệu18.07.2016
Kích3.48 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   47

4.Tiêu dùng tiếp tục là nhân tố cơ bản duy trì tốc độ tăng trưởng

Mặc dù theo đà công nghiệp hóa, tỷ trọng tích luỹ trong tổng cầu (tổng cầu gồm tiêu dùng cuối cùng, tích luỹ tài sản và xuất khẩu) có xu hướng tăng lên nhưng tiêu dùng vẫn luôn luôn là thành phần quan trọng nhất trong tổng cầu vì nó chiếm tỷ trọng cao nhất; đến nay vẫn hơn 70% GDP trong khi tích lũy chỉ chiếm khoảng 28%.

Nhìn lại những năm đầu thế kỷ 21 đến nay, có thể thấy quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tiêu dùng có những biến động khá lớn. Có những giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh hơn tăng trưởng tiêu dùng dẫn tới cung vượt cầu (2000-2001) và đã phải thực hiện chính sách kích cầu (2002-2003). Kích cầu kéo dài lại dẫn tới cầu vượt cung, gây ra lạm phát cao (2004), buộc lại phải áp dụng chính sách hạn chế cầu (2005). Cứ thế chính sách mở rộng - thắt chặt cầu liên tiếp được áp dụng luân phiên với quy mô ngày càng lớn từ năm 2006 đến 2012, làm cho tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và lạm phát đều biến động khá mạnh. Điểm đặc biệt trong suốt thời kỳ này là các chính sách kích cung hầu như không phát huy tác dụng; trong khi chính sách kích cầu có tác dụng ngắn hạn nhưng về trung hạn lại gây khủng hoảng lạm phát, làm tăng chênh lệch giầu nghèo và phát sinh nhiều bức xúc xã hội.

Tuy nhiên từ năm 2013, đặc biệt năm 2014, điều hành chính sách của Chính phủ đã có bước thay đổi ngoạn mục và khá quyết liệt. Nếu như năm 2012 mặc dù chính sách thắt chặt cầu đã được áp dụng rất mạnh nhưng nguy cơ ổn định kinh tế vĩ mô vẫn rất lớn, nên nhiều chuyên gia dự báo sẽ tiếp tục có những thắt chặt tiêu dùng hơn nữa trong năm 2013 thì thực tế đã không phải như vậy. Ngược lại, từ đầu năm 2014, trước tình trạng phá sản, đóng cửa của hàng loạt doanh nghịêp, nhiều chuyên gia dự báo chính phủ sẽ tung ra một số gói kích cầu lớn theo cách làm của Mỹ (và Mỹ đã thành công) thì thực tế ở Việt Nam cũng đã không diễn ra như vậy.

Một chính sách hài hòa tăng trưởng cung – cầu đã được nhất quán áp dụng trong suốt 2 năm 2013-2014. Kết quả là trong năm 2013 tiêu dùng cuối cùng đã tăng 5,36% (theo giá 2010) so với năm 2012, tích lũy tài sản tăng 5,45%. Hai mức tăng này đều tương tự như tốc độ tăng trưởng kinh tế (5,42%), phản ánh một quá trình tăng trưởng cân đối cung – cầu kế thừa từ mức cân đối hợp lý được thiết lập từ cuối năm 2012. Trong quá trình đó, tiêu dùng cuối cùng đóng góp tới 68,6% vào tốc độ tăng trưởng GDP (3,72%/5,42%) trong khi tích lũy chỉ đóng góp 29,9%, tức là tiêu dùng đang trở thành nhân tố cơ bản thúc đẩy tăng trưởng thay cho nhân tố đầu tư. Nếu nhìn lại tốc độ tăng trưởng tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng khoảng 5,6% (đã trừ yếu tố tăng giá) cũng tương tự với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì càng rõ có sự hài hòa về tăng trưởng trong năm 2013.

Việc tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách tăng trưởng cung – cầu hài hòa trong năm 2014 thể hiện rõ qua cân đối sử dụng GDP (và qua cân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng như đã nêu ở trên). Trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt xấp xỉ 6% thì tiêu dùng cuối cùng cũng tăng tương ứng là 6,2% và đóng góp tới 78,9% vào tốc độ tăng trưởng GDP, cao hơn cả mức đóng góp trong năm 2013.



5.Xuất khẩu vẫn giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng trong khi cán cân thương mại bắt đầu thặng dư đáng kể

Cũng như đầu tư, xuất khẩu đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng nhất tạo ra bước phát triển kinh tế nhanh trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, sau khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và tiếp đó trở thành thành viên đầy đủ của WTO, điều kiện trao đổi thương mại, thu hút đầu tư thuận lợi hơn rất nhiều so với trước; tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu đều tăng lên rất mạnh, khoảng 25% mỗi năm. Đến nay kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đã tương đương với 80%GDP toàn nền kinh tế, phản ảnh vị thế rất quan trọng đối với tăng trưởng chung.



Bảng 4: Họat động xuất nhập khẩu hàng hóa (triệu USD)




Xuất khẩu

Nhập khẩu

Cán cân

xuất nhập khẩu

Kim ngạch

Tốc độ (%)

Tỷ trọng so GDP (%)

Kim ngạch

Tốc độ (%)

Tỷ trọng so GDP (%)

2000

14482,7

25,5




15636,5

33,2




-1153,8

2001

15029,2

3,8




16217,9

3,7




-1188,7

2002

16706,1

11,2




19745,6

21,8




-3039,5

2003

20149,3

20,6




25255,8

27,9




-5106,5

2004

26485,0

31,4




31968,8

26,6




-5483,8

2005

32447,1

22,5

56,3

36761,1

15,0

63,8

-4314

2006

39826,2

22,7




44891,1

22,1




-5064,9

2007

48561,4

21,9




62764,7

39,8




-14203,3

2008

62685,1

29,1




80713,8

28,6




-18028,7

2009

57096,3

-8,9

57,2

69948,8

-13,3

70,1

-12852,5

2010

72236,7

26,5

65,3

84838,6

21,3

76,6

-12601,9

2011

96905,7

34,2

72,7

106749,8

25,8

80,1

-9844,1

2012

114529,2

18,2

73,8

113780,4

6,6

73,3

748,8

2013

132032,9

15,3

77,1

132032,6

16,0

77,1

0,3

2014

150042,0

13,6

80,4

148058,0

12,1

79,3

1984

Điểm son đáng chú ý nhất trong 5 năm gần đây là kim ngạch xuất khẩu thường xuyên tăng nhanh hơn kim ngạch nhập khẩu, dẫn tới từ năm 2012 đến nay nền kinh tế luôn trong tình trạng xuất siêu. Đặc biệt năm 2014 đã xuất siêu tới xấp xỉ 2 tỷ USD, một hiện tượng chưa từng có từ trước tới nay. Điều này phản ánh một xu hướng phát triển tích cực, cần tiếp tục phát huy tiến tới liên tục xuất siêu đảm bảo có đủ nguồn thu ngoại tệ trả các khoản nợ nước ngoài vay từ nhiều năm trước.

Tuy nhiên, đã xuất hiện một số vấn đề đáng lưu ý trong họat động xuất khẩu. Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu liên tục giảm dần kể từ năm 2012. Tính chung cả năm 2014, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 150 tỷ USD, tăng 13,6% so với năm 2013 nhưng nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì chỉ tăng 9,1%.

Thứ hai, kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước đạt 48,4 tỷ USD, chỉ tăng 10,4%; trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 101,6 tỷ USD (gồm cả dầu thô), tăng 15,2%, và đạt 94,4 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng tới 16,7%. Như vậy khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn nhiều so với khu vực trong nước; do đó ngày càng nắm vị thế áp đảo so với các doanh nghiệp trong nước. Hơn nữa, các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, hiệu quả kinh tế cao… đều thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, quá trình dịch chuyển cơ cấu xuất khẩu trong năm 2014 tiếp tục thay đổi theo hướng tích cực song vẫn khá chậm. Xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản vẫn rất cao, đạt 66,5 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2013; trong khi nhóm hàng công nghiệp nhẹ mới đạt 57,9 tỷ USD mặc dù tăng tới 15,9%. Nhóm hàng nông sản, lâm sản 17,8 tỷ USD, tăng 11,4%. Nhóm hàng thủy sản đạt 7,9 tỷ USD, tăng 17,6%.

Về nhập khẩu hàng hóa, tổng kim ngạch năm 2014 đạt 148 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 84,5 tỷ USD, tăng 13,6%; khu vực kinh tế trong nước đạt 63,5 tỷ USD, tăng 10,2%. Đáng lưu ý là Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch nhập khẩu đạt 43,7 tỷ USD. Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ thị trường này cũng rất cao, tăng tới 18,2% so với năm 2013. Nhập siêu cả năm từ Trung Quốc ước đạt 28,9 tỷ USD, tăng tới 21,8% so với năm 2013. Đây là những hiện tượng rất không bình thường theo chuẩn mực thương mại song phương quốc tế.

6.Cân đối ngân sách được duy trì hợp lý song nợ tiếp tục tăng có nguy cơ gây bất ổn vĩ mô

Cũng như các năm gần đây, 2014 là một năm đầy thử thách với ngành tài chính. Nhiều nhân tố bất lợi cho công tác thu chi ngân sách tiếp tục kéo dài: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp; tình trạng doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc giảm hoạt động vẫn diễn ra phổ biến khắp nơi; nợ quốc gia, nợ của khu vực doanh nghiệp tăng nhanh; nhiều loại thuế phải giảm theo các cam kết hội nhập kinh tế, hoặc hoãn, miễn, giảm để hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn; giá dầu trên thị trường thế giới giảm mạnh... Khó về thu nhưng nhu cầu chi ngân sách vừa để trả nợ và giải quyết những nhu cầu xã hội cấp bách, vừa để kích cầu khu vực này, kích cung khu vực khác nhằm phục hồi tốc độ tăng trưởng, tạo công ăn việc làm... lại rất lớn.



Bảng 5: Thu chi và cân đối ngân sách nhà nước (tỷ đồng và %)

Năm

Thu ngân sách

Chi ngân sách

Bội chi ngân sách

Tổng thu ngân sách

Tốc độ tăng (%)

Tỷ lệ so GDP (%)

Tổng chi ngân sách

Tốc độ tăng (%)

Tỷ lệ so GDP (%)

Bội chi

Bội chi so GDP (%)

2000

90749




20.55

108961




24.67

18212

4,12

2002

123860




23.12

148208




27.66

24348

4,54

2003

152274

22,94

24.82

181183

22,25

29.54

28909

4,71

2004

190928

25,38

26.69

214176

18,21

29.94

23248

3,25

2005

228287

19,57

24.98

262697

22,65

28.74

34410

3,76

2006

279472

22,42

26.33

308058

17,27

29.02

28586

2,69

2007

315915

13,04

25.34

399402

29,65

32.03

83487

6,70

2008

430549

36,29

26.64

452766

13,36

28.02

22217

1,37

2009

454786

5,63

25.14

561273

23,97

31.02

106487

5,89

2010

588428

29,39

27.27

648833

15,60

30.07

60405

2,80

2011

721804

22,67

25.97

787554

21,38

28.33

65750

2,37

2012

752430

4,24

23.18

926245

17,61

28.54

173815

5,36

2013

824000

9,51

22.99

986200

6,47

27.51

162200

4,53

2014

858000

4,13

21.79

1040000

5,46

26.41

182000

4,62

Điểm sáng của nền tài chính quốc gia trong năm 2014 là vẫn duy trì được những cân đối cần thiết, vừa tiếp tục củng cố ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tiếp tục khai thác tốt hơn các nguồn tài lực để bù đắp vào những nguồn phải cắt giảm theo các cam kết quốc tế. Theo ước tính của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách nhà nước cả năm 2014 đạt khoảng 858 nghìn tỷ đồng; tỷ lệ thu ngân sách trên GDP đạt khoảng 21,8%, giảm so với năm 2013 (23%). Cả 3 lĩnh vực thu nội địa, thu từ dầu thô và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đều vượt dự toán năm.

Tổng chi ngân sách ước đạt 1040 nghìn tỷ đồng, bằng 26,1% GDP. Do vậy, bội chi ngân sách (chưa kể chuyển nguồn) năm 2014 bằng 4,6% GDP, tăng nhẹ so với năm 2013. Đây là những tỷ lệ thu, chi và bội chi ngân sách hợp lý trong giai đoạn kinh tế suy trầm và hiệu quả sử dụng ngân sách chưa cao hiện nay

Đáng lưu ý là các tỷ lệ thu chi ngân sách trên GDP năm 2014 tiếp tục theo xu hướng giảm dần về mức phù hợp với một nền kinh tế thị trường ở một quốc gia có thu nhập trung bình. Nếu như tới đây khu vực kinh tế nhà nước được thu hẹp dần, nhà nước cũng rút dần ra khỏi một số lĩnh vực, trong khi khu vực kinh tế thị trường phát triển mạnh thì hoàn toàn có thể giữ vững tỷ lệ thu đồng thời tiếp tục giảm sâu hơn nữa tỷ lệ chi ngân sách trên GDP để vừa khoan sức dân và hỗ trợ khu vực doanh nghiệp, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.

Trong năm 2014, ngành tài chính đã tập trung tăng cường quản lý chặt chẽ nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia, bảo đảm khả năng trả nợ. Bên cạnh việc bố trí dự toán chi trả nợ đúng hạn theo cam kết, đã tổ chức phát hành thành công một tỷ USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn 10 năm với lãi suất 4,8%/năm, qua đó tiết kiệm được chi phí, giãn áp lực bố trí nguồn trả nợ cho các năm 2016-2020; đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn quốc tế thuận lợi và chi phí thấp hơn.

Tuy nhiên, trong lĩnh vực tài chính vẫn tồn tại nhiều vấn đề đáng lo ngại, trong đó nổi bật là nợ trong và ngoài nước tiếp tục tăng nhanh có nguy cơ gây bất ổn kinh tế vĩ mô trong những năm tới đây. Tính đến hết năm 2014, nợ công tương đương 60,3% GDP (hết năm 2013 là 56,2% GDP), nợ Chính phủ bằng 46,9% GDP (hết năm 2013 là 42,6% GDP) trong khi nợ nước ngoài của quốc gia là 39,9% GDP (hết năm 2013 là 39,5% GDP). Do áp lực của nhu cầu chi ngân sách, khối lượng trái phiếu chính phủ phát ra hàng năm vẫn rất lớn, năm 2014 đã phát hành khoảng 214 nghìn tỷ đồng, dẫn tới giảm nguồn vốn và tăng lãi suất đối với khu vực kinh tế tư nhân.

Hoạt động của thị trường chứng khoán năm 2014 kém khởi sắc; tốc độ tăng trưởng tại hai sàn đều thấp. Đến hết năm 2014, chỉ số VN-Index đạt 545,6 điểm, chỉ tăng 40 điểm và tăng 8,1% so với cuối năm 2013 (năm 2013 hai sàn đều tăng trưởng khoảng 22%); giá trị vốn hoá thị trường chỉ đạt 30,9% GDP giảm nhẹ so với cuối năm 2013. Tổng giá trị huy động vốn ước đạt 237 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng 6% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó phát hành cổ phiếu 23 nghìn tỷ đồng và trái phiếu chính phủ 214 nghìn tỷ đồng. Như vậy, trong năm 2014, thị trường chứng khoán chỉ huy động được 23 nghìn tỷ đồng phục vụ doanh nghiệp, một kết quả quá nhỏ bé so với kênh dẫn vốn ngân hàng. Lưu ý là trong 23 nghìn tỷ đồng trên, không phải tất cả đều là tiền phục vụ doanh nghiệp, mà còn bao gồm phát hành cổ phiếu để chia tách hay để trả cổ tức cho cổ đông.



7. Lạm phát trở về mức an toàn, cần tiếp tục giữ ổn định, từng bước ổn định mặt bằng giá

Trong hai năm gần đây, chính sách tiền tệ ở nước ta đã được nới lỏng khá thận trọng và ổn định để đảm bảo vừa kiểm soát được lạm phát, mục tiêu hàng đầu của ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Tổng phương tiện thanh toán tính đến thời điểm 22/12/2014 tăng 16% so với tháng 12 năm 2013 (cùng kỳ năm 2013 tăng 16,1%); tín dụng cho vay đối với nền kinh tế tăng 12,6% (cùng kỳ năm 2013 tăng 12,5%); nguồn vốn huy động tăng 15,8% (cùng kỳ năm 2013 tăng 17,2%).

Nhìn chung, trong giai đoạn ngắn hạn, tín dụng cho vay đối với nền kinh tế tăng như 2 năm vừa qua là hợp lý, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng phương tiện thanh toán 16% là vẫn khá cao. Mặc dù tỷ lệ lạm phát đã được kiểm soát ở mức chấp nhận được, năm 2014 là 4,1%, thấp nhất trong vòng 10 năm qua, nhưng rất cần theo dõi và đánh giá hiệu quả thường xuyên để kịp thời điều chỉnh khi cần thiết.

Đặc biệt, cần lưu ý tỷ lệ lạm phát thấp năm 2014 có những nguyên nhân quan trọng là giá dầu thô thế giới giảm mạnh; giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới khá ổn định; nguồn cung lương thực, thực phẩm và đa số các loại hàng hóa khác trong nước đều tương đối dồi dào... trong khi sức mua của dân cư đang rất yếu. Một khi những yếu tố này thay đổi thì tỷ lệ lạm phát có thể tăng lên rất nhanh.

Mặt khác, tỷ lệ lạm phát 4,1% năm 2014 trong bối cảnh tăng trưởng yếu vừa qua cũng vẫn là hơi cao đối với một nền kinh tế thị trường như nước ta. Cần khẳng định điều này để khắc phục tâm lý cho rằng ở Việt Nam tỷ lệ lạm phát có thể chấp nhận được lên tới 6-7%. Lạm phát trên 6-7% thường phải đi kèm một tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 8%, tức là trong bối cảnh một nền kinh tế tăng trưởng nóng cần được điều chỉnh hạ nhiệt. Do đó cần tiếp tục duy trì hoặc giảm một chút tỷ lệ lạm phát ở tầm trung hạn.


: Uploads -> Articles04
Uploads -> Kính gửi Qu‎ý doanh nghiệp
Uploads -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Uploads -> Như mọi quốc gia trên thế giới, bhxh việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước
Uploads -> Tác giả phạm hồng thái bài giảng ngôn ngữ LẬp trình c/C++
Uploads -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Uploads -> TRƯỜng đẠi học ngân hàng tp. Hcm markerting cơ BẢn lớP: mk001-1-111-T01
Uploads -> TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 8108 : 2009 iso 11285 : 2004
Uploads -> ĐỀ thi học sinh giỏi tỉnh hải dưƠng môn Toán lớp 9 (2003 2004) (Thời gian : 150 phút) Bài 1
Articles04 -> MỤc lục phầN 1: ĐÁnh giá KẾt quả thực hiệN
Articles04 -> BÁo cáo hsbc kết nối giao thưƠng việt nam


1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương