* howard b. Wilder robert p. Ludlum harriett mc. Cune brown


PHẦN MỘT TẠI SAO MƯỜI BA THUỘC ĐỊA ĐÃ



tải về 2.16 Mb.
trang13/33
Chuyển đổi dữ liệu29.07.2016
Kích2.16 Mb.
#9902
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   33

PHẦN MỘT

TẠI SAO MƯỜI BA THUỘC ĐỊA ĐÃ

TUYÊN BỐ GIÀNH ĐỘC LẬP?

MÂU THUẪN GIỮA ANH QUỐC VÀ CÁC THUỘC ĐỊA CÀNG TRỞ NÊN TRẦM TRỌNG, TRONG KHI ĐÓ, SÚNG VẪN TIẾP TỤC NỔ

Tin tức về cuộc chiến ở Lexington và ở Concord lan truyền mau lẹ trong khắp các thuộc địa. Trong khi quân đội Anh của tướng Thomas Gage vẫn còn ở Boston thì các nhà ái quốc (Mỹ châu) tuyển mộ thêm quân sĩ tập trung ở các tỉnh bao vây thành phố Boston. Họ là những người mang súng nhưng không có đồng phục. Họ được huấn luyện rất ít nhưng có đủ can đảm để đương đầu với quân đội của nhà vua.

- Dân thuộc địa chiến đấu anh dũng trong trận đánh trên đồi Bunker Hill

Đêm 16 tháng 6 năm 1775, một lực lượng gồm 1200 người Mỹ trèo lên đồi Bunker và đồi Breed’s nhìn xuống thành phố Boston (xem bảng đồ trang 173b). Nếu các nhà ái quốc (quân đội lục địa) giữ được các ngọn đồi này thì họ có thể buộc quân Anh rút khỏi Boston. Sáng hôm sau, quân Anh hoảng hốt thấy rằng quân Mỹ đã chiếm đóng các vị trí trên đồi Breed’s.

Tướng Thomas Gage gửi một toán quân (quân Anh mặc đồng phục đỏ nên còn gọi là quân áo đỏ) đi đánh đuổi hay bắt sống toán quân Mỹ can đảm này. Trong khi quân Anh chỉnh tề trong hàng ngũ tiến về ngọn đồi Breed’s thì dân chúng Boston trèo lên nóc nhà đứng xem. Hai lần quân Anh tiến tới gần ngọn đồi đều bị quân Mỹ đẩy lui. Người chết và hấp hối nằm kín sườn đồi. Nhưng khi quân Anh tấn công lần thứ ba thì quân Mỹ buộc phải rút lui khỏi ngọn đồi. Người Anh khoe khoang rằng quân đội chính quy của họ là đạo quân giỏi nhất thế giới… Dù sao thì trận đánh tại đồi Bunker cũng cho ta thấy rằng các thanh niên nông dân yêu nước đã đứng lên chống lại quân đội chính quy Anh quốc, và đã gây cho đối phương tổn thất nặng nề gấp hai lần chính họ bị thiệt hại.(1)




- Quân đội lục địa buộc người Anh phải bỏ Boston

Nhiều tháng sau đó, quân Mỹ bao vây Boston nhưng không thể đẩy lùi quân Anh ra khỏi thành phố được. Đầu năm 1776, quân Mỹ đem đại bác từ đồn Ticonderoga ở vùng Đông Bắc Nữu Ước tới. Quân Mỹ dự định đặt đại bác này ở trên đồi Dorchester Heights trông xuống thành phố Boston và hải cảng. Vào một đêm đầu tháng 3, 1776, quân Mỹ thành công chiếm được đồi Dorchester Heights. Vị chỉ huy mới của quân đội Anh là tướng Howe quyết định là không thể giữ Boston được nữa. Ngày 17 tháng 3 năm 1776, quân Anh lên tàu rút ra Halifax, ở Nova Scotia. Quân Mỹ tiến vào Boston chiếm luôn thành phố này từ đó. Và cũng từ đó cho đến hết chiến tranh cách mạng vùng Tân Anh không còn xảy ra trận đánh lớn nào.



- Đánh nhau ở nhiều nơi khác

Trong thời gian từ khi xảy ra trận đánh ở Lexington (tháng 4 năm 1775) cho đến trận tấn chiếm Boston (tháng 3 năm 1776) quân Mỹ tấn công nhiều nơi khác. Ethan Allen chỉ huy một toán quân tấn chiếm đồn Ticonderoga (súng đại pháo chiếm được ở đây mang tới Boston) và đồn Crown Point, cũng ở Đông Bắc Nữu Ước. Hăng say bởi chiến thắng này, đạo quân thứ hai của Mỹ tràn sang Gia Nã Đại. Quân Mỹ chiếm được Montreal nhưng không chiếm được Quebec. Sau cùng cả hai đạo quân đều phải rút về. Xa về phía Nam, ở Bắc và Nam Carolina, có đụng độ ở nhiều nơi. Tại Moor’s Creek, Bắc Carolina, quân Mỹ đánh bại toán quân thuộc địa trung thành với Anh quốc. Quân Anh cũng tấn công ở Charleston, Nam Carolina, nhưng bị đẩy lui. Bản đồ trang 173b chỉ rõ các trận đánh này.

CÁC THUỘC ĐỊA TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP

- Chính phủ Anh tỏ thái độ cứng rắn và nghiêm khắc hơn

Như chúng ta đã biết, trong thời gian từ mùa xuân 1775 đến mùa xuân 1776, dân thuộc địa đã võ trang chống lại Anh quốc. Dù vậy đi nữa, cũng vẫn có nhiều người còn hy vọng là có thể tiếp tục trung thành với Anh quốc. Họ tin rằng Anh hoàng George III và các vị Bộ trưởng của nhà vua hẳn phải nhận thức được việc nhân dân thuộc địa sẵn sàng hy sinh xương máu cho tự do đã nói lên được sự cương quyết của họ chống lại việc mẫu quốc kiểm soát gắt gao công việc trong thuộc địa của họ. Như vậy là dân thuộc địa (và nhiều người ở chính quốc Anh nữa) vẫn còn hy vọng chính phủ Anh sẽ thay đổi thái độ. Nhưng tiếc thay, thay vì thi hành một chính sách mềm mỏng hơn thì nhà vua lại quyết định dùng biện pháp mạnh. Anh hoàng đồng ý với vị tướng Anh chỉ huy tại Boston cho rằng: “Dân thuộc địa sẽ là những con sư tử trong khi chúng ta chỉ là những con cừu, nhưng nếu chúng ta cương quyết cứng rắn thì chúng (dân thuộc địa) chắc chắn sẽ tỏ ra ngoan ngoãn mềm mỏng”.

Chính phủ Anh cho ban hành những đạo luật khắt khe hơn khiến cho nền kỹ nghệ và thương mại thuộc địa bị thiệt hại rất nhiều. Anh hoàng từ chối không chịu lắng tai nghe những tiếng nói phiền muộn của nhân dân thuộc địa tại Mỹ châu, mà trái lại ông còn tuyên bố rằng họ là những người phản loạn. Đi xa hơn nữa, nhà vua tuyển mộ quân sĩ người Đức (gọi là Hessians) vào trong đạo quân phục vụ tại Mỹ châu. Hành động này khiến cho nhân dân thuộc địa vô cùng căm giận. Tệ hơn nữa, quân sĩ áo đỏ (quân Anh mặc đồng phục màu đỏ) nghênh ngang ở khắp các đường phố. Và còn tệ hơn nữa, quân sĩ nói tiếng ngoại quốc chiếm đóng nhiều địa điểm làm cho dân chúng Mỹ càng bất bình. Cho nên nhiều người Mỹ cho rằng rất có ít hy vọng được mẫu quốc đối xử tốt đẹp.

- Các lãnh tụ thuộc địa kêu gọi độc lập

Các thuộc địa có nên đạp đổ ách thống trị của người Anh để giành quyền độc lập hay không? Một số lãnh tụ đã nghĩ và nói như vậy. Một trong các vị lãnh tụ này là Samuel Adams. Trong nhiều năm, Samuel Adams đã chống lại luật con niêm (Stamp Acts), luật Townshend và luật Intolerable. Ông tin rằng các thuộc địa phải ly khai và tách rời khỏi Anh quốc. Quan điểm này của ông khiến cho nhiều đồng bào của ông không thích ông, và khiến người Anh coi ông là một người nguy hiểm. Tuy nhiên, ông vẫn cổ võ phải hành động mạnh. Khi hay tin người Anh đang tiến vào Lexington, ông cũng không buồn phiền lo ngại. Thật ra, ông còn vui mừng: “Buổi sáng nay quả là vinh dự”. Ngay cả sau khi xảy vụ kịch chiến ở Lexington và ở Concord, nhiều người Mỹ vẫn còn cố gắng làm cách nào để hàn gắn hay giải quyết những khác biệt với mẫu quốc thì Adams lại càng hăng say cổ võ việc giành độc lập cho các thuộc địa.

Thomas Paine đã viết những bài thuyết luận cổ võ hăng say nhất cho việc giành độc lập cho các thuộc địa. Thomas Paine là người mới từ Anh đến định cư ở Mỹ châu. Ông viết tờ truyền đơn gọi là “Common Sense” (công lý), trong đó ông kêu gọi người Mỹ nên ly khai với Anh quốc. Ông viết: “Đó là điều hợp lý phải làm. Tại sao một lục địa vĩ đại lại bị ràng buộc bởi một hòn đảo nhỏ bé ở cách xa hàng ngàn dặm? Tại sao dân thuộc địa lại phải cuối đầu tuân theo luật lệ làm tổn thương đến nền kỹ nghệ và thương mại của chính mình? Tại sao dân thuộc địa Mỹ châu lại còn tiếp tục thề trung thành với một ông vua không cần gì đến họ mà còn gửi quân đội đến đàn áp?” Paine còn tuyên bố: “Những điều trên đây có phải là hợp lý không? Hãy cổ võ cho việc ly khai”. Ông viết tiếp:

“Mặt trời không bao giờ soi sáng lên chính nghĩa của giá trị lớn hơn. Đây không phải là công việc của một thành phố, của một tỉnh hay của một vương quốc, mà là công việc của cả một lục địa, của ít nhất là một phần tám địa cầu có dân cư sinh sống. Đây không phải là liên hệ tới một ngày, một năm, một đời, mà là có liên hệ tới mãi mãi về sau, tới tận cùng của kỷ nguyên….”

Tờ truyền đơn của Paine xuất hiện vào đầu năm 1776, bán chạy như tôm tươi. Khắp trong các thuộc địa người người ngồi trong quán rượu hay bên các lò sưởi, không ngớt bàn tán về lời lẽ mạnh bạo và lôi cuốn của Paine. Nhiều người trước kia đã chống lại việc các thuộc địa đòi độc lập hay là còn lưỡng lự thì giờ đây họ đổi ý kiến và mong muốn các thuộc địa được độc lập.

- Đệ Nhị Hội Nghị Lục Địa hành động mạnh để tiến tới độc lập

Như chúng ta đã đọc trong chương 8, thấy rằng Đệ Nhất Hội Nghị Lục Địa đã xếp đặt một hội nghị khác sẽ nhóm họp nếu tình trạng căng thẳng giữa các thuộc địa và Anh quốc còn kéo dài. Năm 1775, ngay sau khi xảy ra trận đánh ở Lexington và ở Concord, Đệ Nhị Hội Nghị Lục Địa đã bắt đầu nhóm họp ở Philadelphia. Hầu hết những người tham dự là những nhà lãnh đạo quan trọng của các thuộc địa. Lúc đầu, đa số các đại biểu trong Hội nghị còn hy vọng là còn có thể đạt được một thỏa hiệp với Anh hoàng George III và chính phủ của nhà vua. Tuy nhiên, vài tháng sau đó, cơ hội đi đến một thỏa hiệp hòa bình càng trở nên mong manh. Càng ngày càng có thêm nhiều người Mỹ tin rằng chỉ còn cách là các thuộc địa phải giành độc lập. Sau cùng Hội nghị đã đáp ứng theo khát vọng ngày càng trở nên mạnh mẽ, đó là đòi độc lập. Đầu tháng 6 năm 1776, Richard Henry Lee, đại biểu của Virginia, đứng lên nói: “Thuộc địa của ông gửi ông đến đây để trình bày một đề nghị”, ngay khi đó, các đại biểu lắng tai nghe. Ông nói: “Quyết định rằng các thuộc địa hợp nhất có quyền, và phải có quyền là những tiểu bang độc lập và tự do”. Bạn có thể tưởng tượng sự sôi nổi của hội trường trong những ngày kế tiếp. Các đại biểu tụ tập thành từng nhóm nhỏ để bàn cãi, thảo luận về độc lập, về đề nghị trọng đại của Richard Henry Lee. Trong khi đó, một ủy ban được thiết lập để soạn thảo bản tuyên ngôn độc lập. Người có công nhiều nhất trong việc viết bản tuyên ngôn độc lập là ông Thomas Jefferson. Thomas Jefferson là người của thuộc địa Virginia. Dáng người cao lớn, mới 33 tuổi, ông là một thiên tài biết diễn đạt tư tưởng rõ ràng và sử dụng những ngôn ngữ gợi cảm. Trong một thời gian ngắn, ông đã soạn xong bản Tuyên Ngôn Độc Lập đưa ra hội nghị nghiên cứu.



- Hội nghị chấp nhận bản Tuyên Ngôn Độc Lập

Bản tuyên ngôn độc lập của Thomas Jefferson gồm hai điểm quan trọng:

1. Điểm thứ nhất nói lên một ý tưởng mới táo bạo về quyền lợi của nhân dân. Trước kia hầu hết người ta quan niệm rằng người dân chỉ được hưởng những quyền tự do do chính phủ hiện hành ban bố cho thôi. Nhưng Jefferson lại cho rằng mọi người sinh ra đời là có một số quyền lợi mà không một chính quyền nào có thể tước đoạt được. Trong bản tuyên ngôn độc lập, ông đã viết quan niệm này bằng những lời lẽ rất kêu như sau:

“Chúng tôi nghĩ rằng sự thật tự nó đã quá rõ ràng, rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, thượng đế đã phú cho con người một số quyền bất khả nhượng. Đó là quyền sống, quyền tự do và quyền theo đuổi hạnh phúc”.

Jefferson viết tiếp rằng mục đích của chính phủ là “bảo đảm những quyền này” và “chính phủ phải có sự ưng thuận của người dân bị trị (dân chúng)”. Một khi mà chính phủ không bảo vệ được những quyền này cho dân chúng hay là không có sự ưng thuận của dân chúng thì dân chúng có quyền thay đổi hay xóa bỏ cái chánh phủ đó đi để thiết lập một chính phủ khác có thể mang lại an ninh và hạnh phúc cho dân chúng”.

2. Điểm thứ hai là bản tuyên ngôn độc lập nói lên sự cắt đứt mối liên hệ với Anh quốc. Jefferson viết rằng dưới chế độ luật lệ khắt khe của Anh quốc, các thuộc địa đã phải kiên nhẫn chịu đựng đau khổ. Giờ đây “đã đến lúc vì quyền lợi và bổn phận mà các thuộc địa phải đạp đổ chính quyền….Cho nên, chúng tôi, những người đại diện của Hiệp Chủng Quốc trong Đại hội, nhóm họp…long trọng tuyên bố rằng những thuộc địa hợp nhất này phải là, và vì quyền lợi phải là các xứ độc lập”. Jefferson chấm dứt bản tuyên ngôn với những lời lẽ hết sức long trọng:

“Và để nâng cao sự ủng hộ bản Tuyên ngôn này, với sự vững tin vào sự che chở của Thượng đế, chúng tôi thề hứa với tất cả đời sống, tài sản và danh dự thiêng liêng của chúng tôi”.

Bản tuyên ngôn độc lập là một tài liệu nổi tiếng mà mọi người dân Hoa Kỳ cần phải đọc.



- Một tân quốc gia được thành lập

Sau ít ngày bãn cãi, Hội nghị chấp nhận bản tuyên ngôn độc lập vào ngày mồng 4 tháng 7 năm 1776. Sau những tháng ngày phập phồng dè dặt, Hội nghị đã tiến một bước lịch sử quyết định. Các vị tiền bối của chúng ta không còn phải là những thần dân Anh quốc chiến đấu để bảo vệ quyền lợi của người dân trong đế quốc Anh nữa. Giờ đây họ là những người sáng lập ra một tân quốc gia. Họ không còn nói đến “Liên hiệp thuộc địa” nữa. Và bây giờ họ hãnh diện nói đến Hiệp Chủng Quốc! Ngày mùng 4 tháng 7 năm 1776 là một trong những ngày có ý nghĩa quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

*

* *
PHẦN HAI



ƯU THẾ VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA NGƯỜI HOA KỲ TRONG

CUỘC CHIẾN CÁCH MẠNG
Ngay khi đó, dân chúng trong các tiểu bang đón nhận tin tức về bản tuyên ngôn độc lập với những cảm tình trộn lộn. Mặc dù họ sung sướng nhưng họ cũng tự hỏi những gì sẽ xảy ra? Hoa Kỳ làm thế nào có thể tiếp tục chống lại sức mạnh của Anh quốc? Đó là điều mà Hội nghị đã tuyên bố Hoa Kỳ là một quốc gia độc lập và tự do. Còn một điều nữa là phải giành được độc lập. Có thể nào mà 13 tiểu quốc chống lại được quân đội và hải quân của một quốc gia hùng mạnh nhất thế giới?

NHỮNG NHƯỢC ĐIỂM CỦA HOA KỲ



- Quân đội thiếu huấn luyện và thiếu tổ chức

So với quân đội chính quy điêu luyện của Anh quốc, quân đội Hoa Kỳ (còn gọi là lục địa) quả là không thể nào sánh được. Điển hình nhất là quân đội của thuộc địa có rất ít kinh nghiệm về chiến thuật quân sự cũng như về chiến đấu. Việc huấn luyện của quân đội thuộc địa là chỉ để nhằm đáp ứng cho cuộc chiến ở vùng biên cương chống lại người da đỏ và người Pháp. So với các sĩ quan Anh, thì sĩ quan trong hàng ngũ quân đội thuộc địa có rất ít kinh nghiệm. Hơn nữa, tổ chức quân đội lại lỏng lẻo. Các quân sĩ trong quân đội không bị bắt buộc phải gia nhập mà trái lại đều do họ tình nguyện nhập ngũ. Những quân sĩ tình nguyện như vậy họ luôn luôn nghĩ rằng họ sẽ được trở về nhà ngay khi thời gian phục vụ ngắn hạn của họ chấm dứt. Hậu quả là những người lãnh đạo trong quân đội hàng ngày không thể nào biết chắc là có bao nhiêu quân sĩ ở dưới quyền chỉ huy của mình. Các thuộc địa cũng chẳng có một lực lượng hải quân thực sự. Người Mỹ không thể nào đem tàu chiến hạng nhất của mình để chống lại với một lực lượng hải quân mạnh nhất thế giới.



- Các thuộc địa thiếu các đồ trang bị và tiền bạc

Theo đuổi một cuộc chiến, các thuộc địa cần phải có các đồ trang bị và tiếp liệu như súng trường, đại pháo, đạn dược, thuốc súng, quân trang và lương thực. Đệ Nhị Hội nghị Lục địa (chính phủ các lục địa) có rất ít tiền để mua sắm các đồ quân trang, quân cụ và các đồ lương thực. Hội nghị cũng không có quyền đánh thuế dân chúng. Hội nghị chỉ có quyền yêu cầu các tiểu bang (thuộc địa) đóng góp, và số tiền nhận được thật là thất vọng. Hội nghị phải in thật nhiều tiền giấy để mua sắm các đồ quân trang quân cụ và lương thực. Nhưng dân chúng không chịu bán hàng hóa để lấy tiền giấy. Tiền giấy không có giá trị nhiều trừ khi có thể đổi tiền giấy lấy vàng hay bạc, hoặc là trừ khi chính phủ phát hành một loại tiền giấy có giá trị cao. Đệ Nhị Hội Nghị Lục Địa là một chính phủ mới ra đời và có rất ít quyền hành, vả lại không có nhiều vàng bạc. Chiến tranh càng kéo dài, tiền của chính phủ lục địa càng mất giá. Câu “không đáng giá bằng đồng tiền lục địa” đã trở thành câu châm ngôn để chỉ những gì vô giá trị.



- Dân trung thành với Anh quốc chống lại chính quyền và quân đội thuộc địa

Các vị tiền bối của chúng ta trong cuộc cách mạng không những phải chiến đấu chống lại quân lực của Anh hoàng, mà còn phải chiến đấu chống lại kẻ nội thù ở ngay trong làng xóm, đô thị. Sau khi bản tuyên ngôn độc lập được soạn thảo và ký kết xong, vẫn còn một số lớn dân chúng, có lẽ tới một phần ba dân chúng vẫn còn trung thành với nhà vua. Những người này gọi là những người trung thành (loyalists) hay bảo thủ (tories). Một số những người trung thành từ chối không chịu tham dự vào cuộc chiến bên phía các nhà ái quốc. Nhiều người trung thành khác lại tiếp tế lương thực và cung cấp nơi ăn chốn ở cho quân đội của nhà vua. Nhiều người khác còn gia nhập vào quân đội Anh nữa. Dù những người trung thành nghĩ rằng họ đã hành động đúng, nhưng các nhà ái quốc đã coi họ như là những quân phản bội (Mỹ gian). Đôi khi những người trung thành bị bắt rồi đem sơn hắc ín và cắm lông lên người, hay là họ bị xua đuổi ra khỏi đô thị. Nhiều dân thuộc địa ái quốc tiến đến đập phá nhà cửa hay chiếm giữ tài sản của họ.

NHỮNG LỢI ĐIỂM CỦA HOA KỲ

Mặc dù phải đương đầu với những trở ngại khó khăn, các nhà ái quốc vẫn cố gắng tiếp tục theo đuổi cuộc chiến và cuối cùng đã đánh bại được quân Anh. Làm thế nào mà các nhà ái quốc đã hoàn thành được sứ mạng lớn lao này?



- Các nhà ái quốc tin tưởng là chiến đấu cho chính nghĩa

Mặc dù quân sĩ lục địa thiếu huấn luyện và thiếu các đồ tiếp liệu quân nhu, quân cụ cũng như thực phẩm, nhưng ít nhất là họ chiến đấu ngay tại quê hương đất nước họ. Họ đã từng là những người quen sống cực nhọc, dầm mưa giãi nắng ở nơi đồng ruộng nên họ có thể chịu đựng được gian khổ khó khăn. Họ biết sử dụng súng trường và sản xuất được phần lớn các đồ tiếp liệu khan hiếm. Nhiều sĩ quan và quân sĩ thuộc địa đã từng tham dự cuộc chiến chống lại người Pháp và người da đỏ, cho nên họ đã rút kinh nghiệm chiến đấu và họ đã học và hiểu về giá trị của cảnh giác và tự tin. Họ đang chiến đấu cho một chính nghĩa cao cả- cho tự do và an ninh, cho gia đình và quê hương của họ- Mặt khác, quân đội Anh gồm toàn những quân sĩ bị cưỡng bách phục vụ. Quê hương và gia đình ở tận mãi bên kia bờ đại dương, dĩ nhiên là binh lính Anh và binh lính Đức không thể nào có tinh thần chiến đấu cao như quân sĩ Mỹ được.



- Các nhà ái quốc lợi dụng những lầm lẫn của người Anh

Những lầm lẫn của các tướng lãnh Anh đã tạo lợi thế cho đại cuộc của các nhà ái quốc. Nhiều vị tướng lãnh được bổ nhậm chỉ vì họ là bạn bè của những người giàu có và thế lực ở trong chính phủ Anh quốc. Các vị tướng lãnh này khinh thường quân sĩ thiếu huấn luyện của các thuộc địa và cho rằng quân sĩ của thuộc địa sẽ không thể nào chiến đấu gian khổ trường kỳ được. Giống như đoàn viên của một đoàn lực sĩ quá tự tin, các vị chỉ huy của quân đội Anh trở nên cẩu thả, buông lỏng. Thay vì tấn công như vũ bão chớp nhoáng vào quân đội lục địa, các vị tướng lãnh Anh theo đuổi chính sách buông lỏng. Họ phạm phải những lỗi lầm trầm trọng và đã để cho chiến thắng vượt khỏi tầm tay.



- Các nhà ái quốc nhận ngoại viện

Nhiều người yêu chuộng tự do từ Âu châu tình nguyện sang Châu Mỹ gia nhập quân đội thuộc địa. Một trong những người Âu châu chí nguyện này là hầu tước De Lafayette. Nhà quý tộc dũng cảm trẻ tuổi người Pháp này đã bất chấp lệnh của Pháp hoàng để đi Mỹ châu chiến đấu cho tự do. Cùng đi với De Lafayette có Nam tước De Kalb, người đã hy sinh đời mình cho cuộc chiến giành độc lập của Hoa Kỳ. Nhiều quân nhân ngoại quốc nổi tiếng cũng gia nhập quân đội thuộc địa. Trong đó có Nam tước Von Steuben, người đã từng chiến đấu dưới sự chỉ huy của một nhà đại lãnh đạo quân sự, tức là Hoàng đế Frederick của nước Phổ, và hai vị sĩ quan người Ba Lan là Pulaski và Kosciusko. Nhân dân Hoa Kỳ ghi nhớ công ơn đối với sự trợ giúp của những người Âu châu yêu chuộng tự do này. q

Quan trọng hơn cả là Hoa Kỳ nhận được sự trợ giúp của các chính phủ ngoại quốc. Ngay khi khởi đầu cuộc chiến, Hoa Kỳ cũng đã gửi đại diện đi Pháp quốc để cầu viện. Chính phủ Hội nghị lý luận rằng vì Pháp vốn là cựu thù của Anh quốc, nên rất có thể chính phủ Pháp sẽ nắm lấy cơ hội để hạ thủ Anh quốc bằng cách trợ giúp cho Mỹ châu. Benjamin Franklin, một chính khách tài ba khôn khéo của Mỹ châu, nhẫn nại cố gắng thuyết phục được Pháp quốc viện trợ cho Hoa Kỳ. Khi thời cơ cho thấy là Hoa Kỳ sẽ có nhiều cơ hội để đánh bại được Anh quốc thì Pháp hoàng trợ giúp cho Hoa Kỳ. Pháp quốc và Hoa Kỳ cùng ký một thỏa hiệp theo đó thì Pháp sẽ là đồng minh quân sự của Hoa Kỳ. Pháp quốc gửi tiền bạc cùng các đồ tiếp liệu và quân sĩ cùng tàu thuyền sang trợ giúp Hoa Kỳ để chiến đấu.

Khi Pháp quốc trở thành đồng minh quân sự của Hoa Kỳ thì Anh quốc tuyên chiến với Pháp. Các quốc gia khác cũng bị lôi cuốn vào vòng chiến. Pháp quốc thuyết phục đồng minh của Pháp là Tây Ban Nha cũng nhảy vào vòng chiến chống lại Anh quốc. Trong những năm sau cùng của cuộc chiến, chiến tàu của Tây Ban Nha và của Pháp đã làm cho hải quân Anh vô cùng bận rộn. Anh quốc cũng tuyên chiến với Hòa Lan vì các nhà ngân hàng của người Hòa Lan cho các tiểu bang Hoa Kỳ vay nhiều món tiền lớn.



- Tướng George Washington đã tỏ cho thấy ông là một vị lãnh tụ tuyệt vời

Một trong những lý do quan trọng đưa Hoa Kỳ đến chiến thắng là nhờ sự lãnh đạo của George Washington. Mùa xuân năm 1775 Đệ Nhị Hội nghị lục địa bổ nhậm Washington làm Tổng Tư Lệnh quân đội lục địa. Hội nghị khó có thể có một sự chọn lựa nào khác. Chào đời vào ngày 22 tháng 2 năm 1732, và là con một nhà điền chủ giàu có, Washington sớm có nhiều kinh nghiệm về quân sự. Như chúng ta đã đọc trong chương VI, Washington đã từng chỉ huy một toán quân đi tấn kích quân Pháp và quân da đỏ. Ông cũng có kinh nghiệm trong các công việc chính phủ, và ông cũng đã từng là nhân viên của Đệ Nhất Hội Nghị Lục Địa.

Dáng người cao, vai rộng, cử chỉ nghiêm trang đàng hoàng, Washington là một nhà lãnh tụ tài ba. Lòng can đảm và thái độ bình tĩnh của ông là tấm gương sáng cho các sĩ quan và binh sĩ noi theo. Đứng trước cảnh quân số giảm sụt, thiếu tiền bạc, thiếu cả đồ quân nhu, quân cụ và thực phẩm, và đứng trước cảnh dư luận chỉ trích quá mức, ông cũng vẫn không bỏ cuộc. Suốt trong thời kỳ đen tối của chiến tranh cách mạng, Washington vẫn cương quyết chiến đấu mà không hề nao núng. Sự kiên gan và bền chí của một vị Tư Lệnh như ông đã khiến cho biết bao nhiêu người nhát gan trở nên hăng hái và can đảm.

*

* *



Nhờ sự dũng cảm của quân sĩ lục địa, nhờ sự lãnh đạo của Washington và nhờ ngoại viện của nhiều nước, Hoa Kỳ đã đoạt được toàn thắng trong cuộc chiến tranh cách mạng. Nhưng công cuộc chiến đấu không phải dễ dàng và cũng không chắc đã thành công vào một lúc nào được. Liên tiếp trong nhiều tháng trời, quân đội lục địa đã gặp phải bao nhiêu là thất vọng, chịu đựng biết bao nhiêu là gian khổ và chiến đấu trong tuyệt vọng. Đó cũng là điều mà Thomas Paine đã viết: “Những lần thử thách tinh thần con người”. Tuy nhiên, ngay cả khi triển vọng hình như đen tối nhất, các vị tiền bối của chúng ta nhất định quyết không chấp nhận thất bại.

*

* *


PHẦN BA

MƯỜI BA THUỘC ĐỊA ĐÃ GIÀNH ĐƯỢC ĐỘC LẬP

NHƯ THẾ NÀO?
Các bạn đã đọc các tài liệu về chiến tranh cách mạng, hẳn các bạn còn nhớ những người đã chiến đấu và bỏ mình nơi chiến địa chỉ là những người thường dân từ bỏ công việc thường nhật mà lên đường vác súng đương đầu đối diện với đạo quân tinh luyện của người Anh. Tại nơi gia đình của họ ở đô thị hay nông trại, đồn điền, hoặc ở trong các căn nhà gỗ thô sơ ở vùng biên cương, thân nhân của họ từng giờ và từng giờ ngóng tin xem những gì đã và đang xảy ra. Vào thời kỳ đó không có máy vô tuyến truyền thanh hay vô tuyến truyền hình để truyền đi những bản báo cáo tin giờ chót. Phải mất nhiều ngày, có khi phải nhiều tuần lễ, những tin tức từ mặt trận mới đưa về đến gia đình được. Những bản báo cáo về cuộc chiến lại phải tùy thuộc vào sự di chuyển của các quân nhân, khách bộ hành, hoặc là tùy thuộc vào một lá thư hay một tờ báo cũ. Những mẫu tin tức nhỏ cũng đủ làm cho các người lân bang lối xóm vội vã chia nhau đọc. Theo sau những ngày đen tối tưởng chừng như nhân dân lục địa đã bị đại bại trong cuộc chiến cách mạng, nói sao hết được nỗi niềm hân hoan để chào mừng chiến thắng cuối cùng.

CÁC TIỂU BANG MIỀN TRUNG TRỞ THÀNH BÃI CHIẾN TRƯỜNG

Như chúng ta đã biết, cuộc chiến lúc ban đầu bùng nổ ở quanh vùng Boston. Sau này Nữu Ước trở thành trung tâm chiến địa. Sở dĩ như vậy là vì hai lý do chính:

1. Dọc theo vùng bờ biển, thành phố Nữu Ước là một hải cảng tốt nhất. Người Anh cần phải chiếm giữ hải cảng này để phân phối đồ tiếp liệu cho quân đội.

2. Giữ được chiến tuyến dọc theo sông Hudson và hồ Champlain ngược lên phía Bắc, người Anh tách rời được vùng Tân Anh ra khỏi các thuộc địa khác. Tách biệt rời các thuộc địa rồi thì người Anh sẽ dễ dàng lần lượt chinh phục được từng thuộc địa một.

- Người Anh tấn chiếm Nữu Ước

Hy vọng ngăn chặn không để cho quân Anh chiếm được Nữu Ước, tướng Washington đem lực lượng từ Boston đến đảo Long Island. Tới đây quân đội lục địa bị quân Anh dưới quyền chỉ huy của tướng Howe đánh cho thảm bại vào cuối mùa hè năm 1776. Tuy nhiên, nhờ trời tối và sương mù, quân Mỹ đã trốn thoát được về vùng phía Bắc thành phố Nữu Ước. Quân Anh chiếm thành phố và những người trung thành với người Anh ở đây hân hoan chào mừng đón tiếp quân Anh. Thành phố Nữu Ước từ đấy nằm trong vòng kiểm soát của người Anh cho đến khi cuộc chiến chấm dứt.




tải về 2.16 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   33




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2024
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương