Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp



tải về 0.56 Mb.
trang6/8
Chuyển đổi dữ liệu21.08.2016
Kích0.56 Mb.
#25200
1   2   3   4   5   6   7   8

Ngành hàng Rau quả Miền Nam

7.1. Tình hình sản xuất rau quả Phía Nam 2006

  • Diện tích – Năng suất – Sản lượng 2006 :

Theo Hiệp hội trái cây Việt Nam, năm 2006 cả nước hiện có trên 747 ngàn ha cây ăn trái, cho sản lượng 6,2 triệu tấn/năm, trong đó Nam bộ đạt gần 400 ngàn ha, sản lượng 3,2 triệu tấn/năm, chiếm 53,5% diện tích và 51,6% sản lượng cây ăn trái cả nước .

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mục tiêu đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả của nước ta sẽ lên đến 600 triệu USD. Còn theo dự thảo Đề án chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 của Bộ Thương mại, triển vọng xuất khẩu mặt hàng rau quả sẽ đạt 700 triệu USD, đạt tốc độ tăng 24,5%/năm, các tỉnh Phía Nam sẽ nằm trong trào lưu phát trểin chung này.



  • SX rau quả các tỉnh PN phát triển theo hướng đa dạng về chủng loại , thỏa mãn được nhu cầu thị trường :

Sản xuất rau quả Nam bộ (bao gồm khu vực Đồng bằng Sông Cứu long và Đông Nam bộ) vẫn duy trì tốc độ phát triển tốt, chiếm trên 50% sản lượng rau quả cung ứng cho thị trường cả nước, đặc biệt là trái cây. Do tính nhạy bén với thị trường của nông dân Nam bộ luôn bắt kịp với thị hiếu người tiêu dùng, nhìn thấy lợi ích kinh tế cao nếu có sản phẩm trái vụ nên nhiều loại trái cây trái vụ hoặc kéo dài vụ đã được nhà vườn học hỏi, mạnh dạn áp dụng các TBKT về xử lý trái vụ, rải vụ nên năm 2006 rất nhiều loại rau quả nghịch vụ đã được sản xuất với số lượng lớn, đặc biệt là những loại trái cây đặc sản, có giá trị kinh tế cao như Sầu riêng, Chôm chôm, Thanh long, Măng cụt, Xòai v.v.

  • Lượng rau quả từ vùng sản xuất chuyên canh tăng :

Khác với những năm trước, một sản lượng đáng kể Rau quả Nam bộ đang cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu từ một số vùng trồng tập trung như :

  • Thanh long ở Hàm Thuận Nam ( Bình Thuận)-trên 3000ha , Chợ gạo (Tiền Giang) trên 2000ha. Long An. Thanh long trồng chuyên canh ở Bình thuận, được thâm canh và áp dụng KHKT cao, theo tiêu chuẩn GAP, bước đầu đã tham gia tốt vào thị trường xuất khẩu, đặc biệt các thị trường khó tính như EU

  • Dứa trồng tập trung với qui mô lớn ở Tân Phước tỉnh Tiền Giang Năm 2006 vùng dứa chuyên canh Tân phước đã đạt diện tích trên 10.000 ha, trong đó có 9.000 ha đang cho trái

  • Rau an tòan ở Củ chi ( TPHCM), Mỹ Tho (Tiền Giang), TP Biên hòa ( Đồng nai) ; Đà lạt ( Lâm đồng), TP Long xuyên ( An giang) v.v. : Tính đến cuối 2006, thành phố HCM có 1.663 ha sản xuất rau an toàn với sản lượng đạt khoảng 30.000 tấn/năm. Hiện nay thành phố đang xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao trên 100 ha tại huyện Củ Chi, áp dụng công nghệ trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng và canh tác trên giá thể không đất, nuôi cấy mô cho rau, hoa, cây cảnh, cây ăn trái… ứng dụng chất điều hoà sinh trưởng thực vật, công nghệ gen, sản xuất nấm và các chế phẩm vi sinh. Hay như vùng chuyên canh sản xuất rau ôn đới tỉnh Lâm Đồng có diện tích rau an toàn trên 600 ha theo công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lưới không sử dụng phân bón, nông dược vô cơ và cách ly trong nhà lưới có sử dụng giới hạn nông dược vô cơ. Tiền giang có 100 ha RAT tại 2 xã Tân Mỹ Chánhvà Mỹ Phong, TP Mỹ tho ;

  • Vùng SX rau hoa ôn đới ở Lâm đồng tập trung hơn 90% trên địa bàn TP Đà lạt và các huyện Đơn dương, Đức trọng, Lạc dương. Đây là vùng chuyên canh rau hoa lớn nhất và nổi tiếng trên phạm vi cả nước. Mặc dù diện tích chỉ khỏang 10.000 ha canh tác nhưng giá trị SX rau hoa hiện đứng thứ 2 sau SX cà phê của tỉnh.

  • Vùng chuyên canh cây có múi (Bưởi, Cam, Qúyt...) 7.400 ha ở Vĩnh Long; 7.600 ha ở Tiền giang ; 6.400 ha ở Cần thơ, cung cấp trên 260.000tấn /năm ( chiếm tới 48% sản lược cây có múi của cả nước

  • Vú sữa Lò rèn (Tiền giang) nằm trên 13 xã phía Nam Quốc Lộ 1 (huyện Châu Thành) có khoảng 2.230 ha, năng suất bình quân đạt từ 13 đến 15 tấn/ ha....v.v.

Đó là tín hiệu tốt của phương thức sản xuất hàng hóa đang phát triển mạnh ở Nam bộ. Tuy nhiên nhìn trên diện rộng thì số lượng những vùng sản xúât tập trung còn quá ít so với nhu cầu. Ví dụ tại TPHCM tuy diện tích RAT đã lên tới trên 1600ha nhưng so với nhu cầu RAT là khỏang 2.300- 2.500 tấn/ngày thì cụng mới chỉ đáp ứng được 1/5 nhu cầu. sản xuất rau quả ở Nam bộ vẫn còn có những bất cập về qui hoạch, ít có vùng trồng chuyên canh hàng hoá lớn, tạp giống, độ đồng đều thấp ...ảnh hưởng đến chất lượng cung cấp cho thị trường.

7.2.Tình hình xuất nhập khẩu

Số lượng thị trường có mặt sản phẩm rau quả Việt nam tăng trong năm 2006 trong đó có sự đóng góp lớn của rau quả các tỉnh phía Nam . Không có số liệu cho vùng Phía Nam nhưng số liệu chung cả nước cho thấy tính đến hết năm 2006, xuất khẩu hàng rau quả của nước ta đã vươn tới 55 thị trường, và có xu hướng tăng dần trong năm. Ví dụ thị trường xuất khẩu tháng 11 tăng 6 thị trường so với tháng 10/2006 và tăng thêm 12 thị trường so với tháng 9/2006. Năm 2006, bên cạnh các thị trường ổn định và quen thuộc, rau quả của nước ta còn được mở rộng sang một số thị trường mới như Achentina, Li Băng, Qata, Áo, Estônia, Bêlarút, Angieri, Xu đăng, Rumani, Libêria …Đáng chú ý, mặt hàng cơm dừa, một sản phẩm nổi tiếng của Nam bộ rất được ưa chuộng tại các thị trường mới này, đặc biệt là ở Achentina, Áo và Li Băng.

Tuy số lượng thị trường tăng nhưng theo số liệu thống kê của Bộ Thương mại, kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng chậm, đặc biệt là các tháng đầu năm, lượng rau quả xuất sang hầu hết các thị trường này đều giảm so với các tháng trước đó. Trong đó giảm mạnh nhất là Xu Đăng, với kim ngạch xuất trong tháng 11/2006 đạt 40 nghìn USD, giảm 31% so với tháng 8/2006, chủng loại rau quả xuất khẩu chính sang thị trường này là mứt trái cây. Ngoài ra, xuất khẩu rau quả sang Angiêri cuối tháng 12 cũng chỉ đạt 60 nghìn USD, giảm 15% so với tháng 8 năm 2006.. Nguyên nhân do rau quả vào thị trường EU ( thế mạnh lớn của trái cây Nam bộ ) bị cạnh tranh quyết liệt.Ví dụ , thanh long là lợi thế xuấtkhẩu của trái cây Nam bộ nhưng năm 2006 thị phần mặt hàng thanh long Việt nam tại EU giảm từ 90% xuống còn 50% bởi sự cạnh tranh của thanh long vỏ đỏ, ruột đỏ của Israel, Malaysia, thanh long vỏ đỏ ruột tím của Guatamala, Nicaragua, Ecuador, thanh long vỏ vàng ruột trắng của Đài loan.

Tuy nhiên năm 2006 còn là năm chứng kiến rau quả của nước ngoài, với mẫu mã, chất lượng và bảo quản tốt đang tràn ngập vào Việt Nam ngay khi nước ta chuẩn bị gia nhập WTO. Chúng ta đang phải đối mặt với cuộc cạnh tranh về rau quả với Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… ngay trên vựa hoa quả ĐBSCL, đặc biệt là tại thị trường TP.HCM là nơi tập trung tiêu thụ nguồn hàng rau quả từ khắp các tỉnh - thành trên cả nước. Theo Ban Quản lý tại các chợ đầu mối nông sản thực phẩm tại TP.HCM, từ 2005, rau củ quả có xuất xứ từ các nước ngoài xuất hiện ngày càng tăng về số lượng. Tại các chợ đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức, lượng rau củ quả về chợ trung bình hàng đêm khoảng 1.500-2.000 tấn. Trong đó, hàng nông sản nhập về từ các nước lân cận như Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines…chiếm 30% tổng lượng hàng trong đó nhiều nhất vẫn là rau quả của Trung Quốc. Trái cây Trung Quốc được bán với số lượng không nhỏ tại khắp các chợ của các tỉnh nằm trong vùng cây ăn trái của cả nước như Tiền giang, Vĩnh long, Cần thơ, Bến tre v.v.với đa dạng các chủng loại và phẩm cấp như táo, lê, hồng, nho, lựu, cam từ loại cao cấp đến bình dân. Về rau củ, Trung Quốc xuất sang nước ta mạnh nhất là bông cải trắng, củ cải đỏ, khoai môn sáp, khoai tây, tỏi, hành. Nhưng một thực tế đáng buồn là hầu hết các mặt hàng rau quả từ các nước nhập về TP đều là những mặt hàng Việt Nam sản xuất được. Do năng lực cạnh tranh kém, cả về thời điểm giao hàng, chất lượng và giá cả nên hàng rau quả của Việt Nam đang có nguy cơ bị lấn át ngay trên vựa rau quả của nước ta. Một điều đáng lo nữa là ngay khi vụ mùa rau quả của Việt nam vừa ngưng thì hàng các nước đáp ứng thị trường nội địa một cách tức thời, nhanh chóng, do đó nguy cơ mất thị phần là hoàn toàn có thể xảy ra.

Những loại quả có hương vị truyền thống, đặc trưng của Nam bộ cũng bị cạnh tranh dữ dội từ Thái lan như Sầu riêng, Măng cụt, Xoài, Bòn bon v.v. Đơn cử như tại khu vực cửa khẩu Xà Xía ( Hà tiên-Kiên giang) sầu riêng gần như được nhập vào các tỉnh Phía Nam quanh năm. Mỗi ngày trung bình có khỏang 2-3 tấn Sầu riêng chuyển từ Thái lan về VN theo đường tiểu ngạch, giá sầu riêng Thái lan chỉ 13.000-14.000đ, mua sỉ 13.000đ, bằng với giá sầu riêng Monthoong bán tại Tiền giang , Bến tre .

Do qui mô sản xuất nhỏ, chi phí, giá thành sản xuất cao; khâu giống và kỹ thuật chăm sóc, xử lý sau thu họach, bảo quản chế biến yếu nên nhìn chung sức cạnh tranh của ngành rau quả Nam bộ đang ngày càng đi xuống

Tuy nhiên cũng có một số chủng loại trái cây sản xuất ở Phía Nam đã tăng được sản lượng xuất khẩu trong năm 2006, điển hình là dừa, thanh long. Dừa xuất phát từ Nam bộ là một trong hai chủng loại trái cây có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của nước ta trong tháng 11 năm 2006, với kim ngạch đạt trên 2 triệu USD, tăng 26% so với tháng 10/2006. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu dừa chủ yếu của nước ta với kim ngạch đạt 1,7 triệu USD.

Đột phá nhất về tăng sản lượng xuất khẩu trên thị trường trong năm 2006 là thanh long từ các tỉnh Phía Nam. Xuất khẩu thanh long trong năm 2006 bắt đầu chủ yếu từ tháng 4 ( xem bảng 1 dưới). Thời gian đầu chỉ có khỏang 15 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu nhưng cao điểm nhất trong tháng 11 đã có tới 25 doanh nghiệp xuất khẩu được thanh long khiến sản lượng xuất tăng từ 16.635 tính từ tháng 4 đến tháng 9 nhưng sau 3 tháng ( 10,11,12) , lượng xuất đã lên tới 29.438, tăng 12.803 tấn mà chủ yếu là cho thị trường Đài loan, Thai lan, Trung quốc.



Bảng 1 : Danh sách một số doanh nghiệp Phía Nam xuất khẩu Thanh long trong năm 2006

Tên doanh nghiệp

Sản lượng xuất khẩu qua các tháng ( tấn)

Từ T4- T9

Từ T4- T 10

Từ T4-T 11

Từ T4- T 12

Ngoc Quang

1.171

1.509

1.569

1.863

Văn Bình

-

463

559

705

Hòang hậu

181

357

436

672

Phương giảng

138

267

289

-

Vinh phong hoa

-

111

164

243

Sadaco

-

85

-

102

Vinashingon

12

107

144

363

Nhung MN

69

115

-

-

Saigonlogistic

-

57

145

183

CT Thái lan

100

102

-

102

Minh thái

76

-

-

-

PAC

89

126

184

314

Rau quả B.Thuận

24

50

80

128

Vegetexco HCM

31

47

-

-

Kiều nga

18

-

74

226

( Nguồn : Tổng hợp từ số liệu của Vụ Kế họach – Bộ NN-PTNT)

7.3. Tình hình doanh nghiệp, HTX, Hiệp hội họat động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngành hàng rau quả

Trong năm 2006, số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu mặt hàng rau củ có chiều hướng giảm, ví dụ tháng 12 giảm 20 doanh nghiệp so với cùng kỳ tháng 11/2006, xuống còn 136 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu cao, trên 200 nghìn USD /tháng cũng rất ít. Ví dụ trong tháng 12/ 2006 chỉ có 2 doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu rau củ trên 200 nghìn USD (trong đó có 1 doanh nghiệp đạt trên 300 nghìn USD). Đa số các doanh nghiệp kinh doanh rau quả ở Phía Nam còn là doanh nghiệp nhỏ, thu mua, chế biến phục vụ việc phân phối sỉ trong nước hoặc xuất khẩu tiểu ngạch qua Trung quốc. Một số doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu mạnh, xuất được xa như Mỹ, Canada v.v. như Công ty TNHH thực phẩm Dân Ôn với kim ngạch đạt xấp xỉ 300.000 USD/ tháng, nhưng số này không nhiều va phải xuất các sản phẩm rau quả đã qua chế biến như bột cà ri, hương thảo, ớt, nghệ … hoặc công ty XNK và Đầu tư xuất chủ yếu là hành củ và tỏi sang thị trường Campuchia và Lào. Trong tháng 12/2006, công ty này đã đạt kim ngạch xuất khẩu rau củ lớn nhất của nước ta ( 294 nghìn USD đạt trên 1.925 tấn.hành hóa).



Bảng 2: Các doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu rau quả cao trong năm /2006

Tên doanh nghiệp

Sản phẩm


Cty TNHH Thực phẩm Dân Ôn

Rau quả các loại

Cty XNK và Đầu tư

Rau các loại

Cty TNHH Thực phẩm Đà lạt - Nhật Bản

Rau các loại

XN Chế biến Nấm XK Tư Thao Sóc Trăng

Nấm rơm

Cty TNHH Chế biến nông, thủy - hải sản Long An

Nấm rơm, các loại quả

Cty Cổ phần Nông sản Thực phẩm Lâm Đồng

Rau các loại

Cty TNHH Thực phẩm Asuzac

Cà chua, bí đỏ, bó xôi

Cty TNHH Mhy Việt Nam

Rau các loại

Cty TNHH Quốc Thảo

Rau quả các loại, nấm rơm

Cty TNHH SX và Xuất khẩu Nam Tiến

Các loại trái cây tươi và chế biến

Cty TNHH Rau Nhà xanh

Rau các loại

Cty Cổ phần Chế biến Thực phẩm XK Miền Tây

Dừa, trái cây, rau các loại

Tổng Cty Rau quả Nông sản

Rau các lọai, xòai , nhãn, thanh long

Cty TNHH Hatchando Việt Nam

Cà tím

Cty TNHH Vạn Đạt

Củ cải, dưa chuột, măng

DNTN Chế biến Nông sản XK Trần Minh

Nấm rơm

Cty DV Kỹ thuật Nông nghiệp An Giang

Nấm rơm, ngô rau, chôm chôm, khóm

Cty Thanh Sơn

Bó xôi, bí đỏ, cà chua, súp lơ
 khoai tây, khoai lang

Cty TNHH Giống Cây Trồng Á Châu

Rau cải

Cty TNHH Thực phẩm Phú Quí

Nấm rơm

Cty Phát triển Kinh tế Duyên hảI

Cà tím, rau Bina

Cty TNHH Pacific

Dưa chuột, gừng

Cty TNHH Lusun Việt Nam

Rau quả các loại

Cty TNHH Chế biến Thực phẩm D&N

Nấm rơm, thực phẩm các loại

Cty TNHH Dua - Dua

Dưa chuột

Cty Châu á- Thái Bình Dương

Dưa chuột

Cty TNHH Thương mại Hoàng Hà

Rau quả các loại

Cty TNHH Hồng Ngọc

Bí đỏ

Cty TNHH Thực Phẩm Asuzac Đà Lạt

Cà chua

Cty TNHH Hội Vũ

Dưa chuột

Cty TNHH Thương mại DV Việt Tân

Củ ấu , rau các loại

Cty TNHH Thương mại Sơn Hà

Tỏi

Cty TNHH Thương mại Chế biến Thực phẩm Tân Tân

Đậu cô ve, đậu phộng, rau quả
các loại

Cty TNHH AGRI DEVELOPMENT

Đậu cô ve, bí đỏ, củ dền, hành,
 khoai

DNTN Rau quả Bình Thuận

Khoai các loại

Cty Cổ phần Nông súc sản Đồng Nai

Nấm rơm

Cty Công nghiệp Thực phẩm CHIA MEEI Việt Nam

Chuối, lô hội, mãng cầu, thạch dừa

( Nguồn : Tổng hợp)

7.4. Tình hình thiên tai, dịch bệnh và các thông tin nổi bật (theo tháng, năm, mùa vụ)

  • Bão gây thiệt hại năng ở một số tỉnh ĐBSCL và Đông Nam bộ

Một số tỉnh ĐBSCL và Đông Nam bộ chịu một số cơn bão trong tháng 10,11, gây thiệt hại nặng cho một số vùng chuyên canh rau ở nhiều tỉnh ĐBSCL và Đông Nam bộ. Bão cũng gây thiệt hại nặng nề cho nhiều vườn cây ăn qủa ỡ ĐBSCL. Tại Bến tre, nơi bão tàn phá nặng, hàng trăm hécta măng cụt bị bật gốc chết.

  • Thời gian theo âm lịch năm 2006 có hai tháng 7, ảnh hưởng tới thời vụ một số loại rau quả Nam bộ.

Do lịch thời gian có thêm một tháng nhuận nên nhiều loại rau quả tuy đã hết vụ nhưng sản lượng cung cấp cho thị trường vẫn dồi dào.

  • Bệnh sưng rễ bắp cải ( nông dân gọi là «  bệnh lạ » ) gây thiệt hại năng

Trong suốt 8 tháng đầu năm 2006 ở các vườn trồng chuyên canh bắp cải ở Đà lạt ( Lâm đồng ) bị hiện tượng cây bắp cải bị bệnh còi cọc, không phát triển được, lá có màu xanh nhợt nhạt, héo vào ban trưa, còn rễ sưng phình to như củ cải. Bệnh khiến một số hộ bị mất trắng sản lượng . Bệnh đã xuất hiện rải rác từ 2003, 2004, 2005 nhưng sang 2006, bệnh bùng phát, gây hại trên 400 ha tại thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương; gây hại nặng cục bộ ở các xã Hiệp An, Hiệp Thạnh, Liên Nghĩa (Đức Trọng) và lây sang cả Đơn Dương và gây hại tại 30 ha vùng chuyên canh rau mới tại Đức Trọng.

    • Đầu năm 2006, tại Vĩnh long có hiện tượng một số cây không ra hoa

Tại tỉnh Vĩnh long , vùng nổi tiếng trồng các loại cây có múi ( cam, bưởi) có hiện tượng cây không ra hoa ( hiện tượng này xuất hiện cục bộ tại một vài xã, trên cả những cây trồng khác) , mặc dù cây sum suê, xanh tốt và thậm chí còn được phun thuốc kích thích đậu hoa.

    • Ruồi đục quả liên tục gây hại cục bộ tên một số cây ăn trái ở ĐBSCL rải rác suốt các tháng trong năm 2006

Các vườn vú sữa hay sapoche (hồng xiêm) ở Châu Thành, Tiền Giang, thanh long ( Tiền giang, Long an ) thường bị thiệt hại nặng trước sự tấn công của ruồi đục quả từ những năm trước ( theo Viện NC CĂQ, có thời điểm dịch hại gây thất thu 100%) . Tuy nhiên, sang 2006 do diện tích cây ăn trái tăng nhanh càng khiến ruồi đục quả có điều kiện sinh thái thuận lợi phát triển .

    • Bệnh do nấm gây hại trên quả hồng trồng tại Lâm đồng

Tháng 8-9, do thời tiết mưa nhiều ở Nam bộ đã khiến cây hồng ( một loại trái cây ôn đới, đặc sản của Lâm đồng ) xuất hiện những đốm bệnh màu nâu làm cho lá bị vàng và rụng; tai quả hồng bị khô teo, quả nhỏ, méo mó và bị rụng; Nếu bệnh hại muộn trên quả hồng già đến chín thì làm quả bị nứt đáy, phẩm chất quả giảm nghiêm trọng , thậm chí không tiêu thụ được.

    • Bệnh xỉ mủ trên trái măng cụt lan rộng :

Măng cụt là loại trái cây đặc sản, luôn có giá cao trên thị trường nhưng đầu tư phát triển thường lâu cho kết quả nên diện tích măng cụt ở các tỉnh Phía Nam mới chỉ hạn chế vài ngàn hecta. Vụ măng cụt ( từ tháng 4 đến tháng 8) năm 2006, vấn đề bệnh xỉ mủ sượng trái trên trái măng cụt lại phát triển mạnh mà chưa có biện pháp khắc phục càng khiến nhà vườn trồng măng cụt thất thu. Cũng chính vì hiện tượng này nên măng cụt Nam bộ đang mất dần lợi thế cạnh tranh ngay trên vùng sản xuất khi mà măng cụt Thailan chất lượng ngon hơn, giá rẻ hơn, ít bị hỏng hơn đang tràn ngập thị trường trái cây các tỉnh Phía Nam.

  1. Ngành hàng Chăn nuôi

    1. Thị trường trong nước

      1. Diễn biến giá thịt thị trường trong nước

Thị trường thịt trong năm 2006 diễn biến bất thường, nhìn chung giá thịt có xu hướng giảm so với năm 2005 và đã gây không ít khó khăn với người chăn nuôi nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung.

Quý 1: Những ngày cuối tháng 1/2006 (23/1 trở đi) do sức mua xã hội tăng mạnh , giá cả hầu hết các mặt hàng phục vụ nhu cầu Tết và các hoạt động dịch vụ đều tăng. So với tháng 12 năm 2005 thì chỉ số giá thịt gia súc, gia cầm tăng 0,1 – 0,8%. Giá thịt lợn tại Hà Nội ở mức khá cao, thịt nạc vai giá 43.000 – 46.000 Đ/kg, chân giò: 37.000 – 45.000 Đ/kg. Tháng 2, giá thịt lợn sau khi tăng cao trong những ngày giáp Tết giảm dần, với mức giảm 3.000 - 7.000 Đ/kg (có nơi giảm nhiều hơn). Các tỉnh giá phổ biến ở mức: lợn hơi: 14.000 - 15.500 Đ/kg (phía Bắc) và 18.000 - 21.000 Đ/kg (phía Nam); thịt lợn mông sấn 28.000 - 35.000 Đ/kg (phía Bắc) và 35.000 - 38.000 Đ/kg (phía Nam). Giá thịt bò giảm 10.000 - 30.000 Đ/kg, thịt bò loại 1 phổ biến ở mức 70.000 - 90.000 Đ/kg.

Quý 2: Trong suốt quý 2, giá thịt lợn cũng như các loại thịt khác nhìn chung diễn biến theo chiều hướng đi xuống do tâm lý lo ngại về dịch lở mồm long móng trên đàn gia súc. Tại các thị trường, giá thịt hơi và các loại thịt lợn mổ sẵn đồng loạt giảm mạnh kể từ giữa tháng 5, song không đủ khuyến khích nhu cầu mua. Tính đến thời điểm đầu tháng 6, tại An Giang không còn dịch bệnh lở mồm long móng, nhưng giá lợn hơi bán cho thương lái vẫn tiếp tục giảm khoảng 100.000 Đồng/tạ so với giữa tháng 5, chỉ còn 1,4 triệu Đồng/tạ, và giảm 500.000 Đồng/tạ so với trước khi dịch xảy ra trong cả nước.

Cuối tháng 5, tại các tỉnh bùng phát dịch lở mồm long móng, giá các loại thịt lợn cũng liên tục giảm mạnh. Trong đó, tại Gia Lai, giá thịt lợn loại ngon giảm từ 50.000 Đồng/kg xuống còn 35.000 Đồng/kg. Lượng thịt bán ra cũng chỉ bằng 1/3 so với thời điểm trước, mặc dù thịt bày bán ở các quầy đều có dấu đóng kiểm tra của thú y. Một số tỉnh thành mặc dù không xảy ra dịch bệnh, song thị trường thịt và gia súc cũng bị ảnh hưởng rất nhiều, khiến giá và lượng tiêu thụ đều sụt giảm mạnh. Tại Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, tình trạng giảm giá cũng xảy ra tương tự. Đặc biệt, tình trạng thương lái lợi dụng thông tin về dịch bệnh lở mồm long móng để ép giá mua lợn hơi cũng xảy ra khá phổ biến ngay tại các khu vực không bị ảnh hưởng như Cần Thơ. Điều này đã khiến khá nhiều hộ chăn nuôi lợn theo quy mô lớn và trang trại tại Đồng Nai - tỉnh có đàn lợn thịt đứng đầu cả nước với khoảng 1 triệu con, đang tìm cách hạn chế số lượng đàn, ngừng thả thêm đàn mới. Các lò mổ nhập lợn thịt chỉ bằng khoảng 60 - 70 % so với trước đây và họ cũng không dám dự trữ lợn sống do mức tiêu thụ thịt lợn của thị trường giảm. Với mức giá như thế này, người nuôi hoàn toàn không còn lãi mà còn có nguy cơ bị phá sản.

Dịch lở mồm long móng lây lan mạnh trên diện rộng đã phần nào hạn chế tốc độ tăng trưởng của đàn gia súc. Trong 6 tháng đầu năm 2006, sau khi dịch cúm gia cầm được khống chế thành công, đàn gia cầm đã được khôi phục và bắt đầu phát triển chủ yếu ở cấp hộ có quy mô chăn nuôi nhỏ, ước tăng 6,5% so cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, ước tính hơn 80.000 con trâu bò, 35.000 con lợn bị mắc bệnh lở mồm long móng ở trên 39 tỉnh, thành phố trong cả nước, hàng ngàn con trâu bò và hàng vạn con lợn mắc bệnh bị chết hoặc phải tiêu huỷ. Đến cuối quý 2, dịch lở mồm long móng ở gia súc đã bước đầu được khống chế ở các địa phương, công tác tiêm phòng cho gia súc đang được đẩy mạnh. Tuy nhiên công tác kiểm dịch, kiểm soát lưu thông gia súc nhiễm bệnh còn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là ở các tỉnh ở biên giới, nguy cơ lây nhiễm bệnh rất cao.

Quý 3: Đến quý III thị trường thịt vẫn tiếp tục giảm, cả miền Nam và miền Bắc giá lợn hơi siêu nạc thương phẩm loại 90-100 kg chỉ còn 13.000-14.500 Đồng/kg. So với năm 2005, ở phía Nam giá lợn hơi đã giảm 25-35%, và ở phía Bắc 10-15%. Còn tại miền Trung, giữa quý III, giá thịt lợn hơi đã giảm xuống còn 9.000-10.000 Đồng/kg từ 13.000-14.000 Đồng/kg trước đó, mức giá này thấp nhất trong vòng gần chục năm qua. Loại heo siêu nạc cũng chỉ còn 14.000-15.000 Đồng/kg thay vì 19.000 Đồng/kg như ở quý II. Bên cạnh đó giá lợn giống cũng tụt thảm hại, xuống mức 22.000 Đồng/kg so với 36.000 Đồng/kg hồi đầu năm.

Tại Gia Lai, giá bò lai cũng giảm mạnh, cuối tháng 8, giá bò cái lai giống 1 năm tuổi có trọng lượng 1,3- 1,5 tạ/con bán ra thị trường khoảng 6 triệu đồng so với thời giá lúa cao điểm là 14- 15 triệu đồng giá bò cái lai đến tuổi sinh sản cũng chỉ bằng một nửa so với trước đây. Theo phân tích của các nhà kinh tế, giá bò lai ở thời điểm này mới là "thực" và chắc chắn không thể trở lại "sốt ảo" như trước. Bởi giá trị con bò lai (sống) so với lượng thịt thực có không tương xứng với mặt bằng thị trường và sở dĩ bò lai từng có giá cao "vượt khung" là do người chăn nuôi chưa nghĩ đến mục đích cuối cùng là trọng lượng thịt mà chỉ nghĩ đến con giống tạo đàn.

Từ đầu tháng 7-2006, giá thị trường thịt gà bất ngờ "hạ nhiệt", thịt gà Mỹ giá chỉ 32.000-34.000 Đồng/kg. Thịt gà Mỹ hiện nay đang dần chiếm thị trường Việt Nam, tính riêng thị trường TP.HCM thịt gà Mỹ cũng chiếm khoảng 30-40%. Tại thời điểm này, TP.HCM có 5-6 đơn vị nhập khẩu và kinh doanh sản phẩm gà Mỹ với số lượng lớn. Ngoài ra còn có một số công ty và siêu thị cũng nhập nhưng với số lượng ít hơn. Các doanh nghiệp ở Hà Nội và Hải Phòng cũng đang chuẩn bị nhập khẩu gà với số lượng lớn.

Giá một số sản phẩm chăn nuôi tại thị trường Việt Nam ngày 15 tháng 8 năm 2006:




Giá tại các tỉnh phía Bắc

Giá tại các tỉnh phía Nam

Thịt lợn hơi (Đ/kg)

13.000 – 14.500

17.000 – 21.500

Thịt gà ta hơi (Đ/kg)

3.000 – 33.000

40.000 – 42.000

Thịt gà ta (Đ/kg)

60.000 – 65.000

65.000 – 70.000

Thịt bò (Đ/kg)

70.000 – 85.000

75.000 – 80.000

Trứng gà (Đ/10 quả)

14.000 – 15.000

15.000 – 16.000

Trứng vịt (Đ/10 quả)

12.000 – 13.000

13.000 – 14.000

Đầu tháng 9, giá thịt lợn tiếp tục giảm 500 - 1.500 Đồng/kg tại một số tỉnh (chủ yếu ở phía Nam), các tỉnh phổ biến: lợn hơi: 12.500 - 14.000 Đồng/kg (phía Bắc) và 15.000 - 20.000 Đồng/kg (phía Nam); thịt lợn mông sấn: 26.000 - 32.000 Đồng/kg (phía Bắc) và 28.000 - 34.000 Đồng/kg (phía Nam). Giá thịt bò tăng từ 1.000 đến 3.000 Đồng/kg tại một số thị trường tiêu thụ lớn trong những ngày lễ, phổ biến ở mức giá 65.000 - 85.000 Đồng/kg (thịt bò thăn). Đến cuối tháng 9, thịt gia súc có xu hướng tăng nhẹ, tại Lào Cai giá thịt bò tăng từ 65.000 Đồng/kg lên 70.000 Đồng/kg. Thịt gà công nghiệp tăng 3.000- 5.000 Đồng/kg, lên mức 35.000 Đồng/kg, thịt gà ta giữ ở mức 47.000 Đồng/kg.

Theo nhận định của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn An Giang, sở dĩ giá heo hơi và bò hơi ở khu vực ĐBSCL xuống quá thấp là do vào mùa lũ. Ở khu vực đồng bằng, phần lớn diện tích bị ngập trong nước lũ như các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, nên hầu hết diện tích đất đã bị ngập không còn nơi nuôi giữ, bắt buộc bà con phải bán. Hai là bị ảnh hưởng bởi dịch lở mồm long móng. Ba là vào mùa lũ, bà con trong vùng lũ đánh bắt được nhiều cá tôm, làm cho thị trường thực phẩm trở nên phong phú. Hầu hết người tiêu dùng lại thích các loại thực phẩm đánh bắt trong tự nhiên, đã quay lưng với thịt heo, bò. Ngoài ra, thức ăn chăn nuôi lên giá cũng là nguyên nhân khiến cho người chăn nuôi không còn muốn nuôi tiếp.



Trái lại với giá thịt, trong suốt 6 tháng đầu năm giá thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt, lợn nái, lợn con không hề giảm. Từ giữa quý 3, giá một số nguyên liệu lại đột ngột tăng giá. Đầu quý III, giá ngô đang ở mức 2.500-2.700 Đồng/kg đã tăng lên 2.850-3.100 Đồng/kg (tăng 15%) vào giữa quý 3. Cũng tương tự giá khô dầu tăng 10-15%; giá bột cá trong nước loại trên 60% đạm, bột cá Pêru tăng 15-25% (tùy loại) so với 6 tháng đầu năm.Các tháng cuối năm ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi còn gặp khó khăn hơn khi nguyên liệu chế biến trong và ngoài nước đều lên giá. Nguyên nhân các nước xuất khẩu ngô và đậu tương như Nam Mỹ, Canada, châu Âu bị hạn hán, đồng thời Mỹ và một số nước đang có "mốt" chế biến ngô thành cồn để thay xăng. Ngoài ra việc tăng giá xăng dầu cũng ảnh hưởng lớn đến giá thức ăn chăn nuôi do phí vận chuyển tăng cao. Theo Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam thì rất khó hạ được giá thành thức ăn chăn nuôi khi ngành này phải phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu nhập khẩu.

Quý 4: Giá thịt, trứng ở quý 4 cũng không ổn định. Tại Gia Lai, riêng trong tháng 11 ở tuần 2 giá các loại thịt lợn giảm từ 1.000 đến 2.000 Đồng/kg so với tuần 1. Tương tự, giá thịt gà ta sạch cũng có chiều hướng giảm nhẹ ở tuần 2 (giảm khoảng 500-1.000 Đồng/kg), ở mức 44.000 Đồng/kg. Ổn định ở tuần 3, nhưng đến tuần 4 thì giá thịt lợn và trứng lại tăng từ 1.200 đến 2.200 Đồng/kg. Giá thịt bò trong tháng 11 nhìn chung ổn định ở mức giá 79.200 Đồng/kg.

Giá thịt, trứng tại Gia Lai ngày 15/11/2006:

Mặt hàng

Đơn vị tính

Giá

Thịt heo đùi

Đồng/kg

29.700

Thịt ba chỉ

"

13.200

Thịt vai

"

24.200

Thịt chân giò trước

"

17.600

Thịt bò loại 1

"

79.200

Gà ta sạch

"

44.000

Trứng gà

10quả/hộp

14.300

Trứng vịt

"

15.500

Còn tại thị trường Thái Nguyên thời điểm giữa quý 4 thì giá thịt lợn lại đang giảm so thời điểm đầu quý 4 từ 500- 1.000 đồng/kg.

Giá thịt lợn tại Thái Nguyên ngày 14/11/2006:

Mặt hàng

Đơn vị tính

Giá

Thịt lợn hơi

Đồng/kg

14.000

Thịt lợi thăn

"

33.000

Thịt mông sấn loại 1

"

27.000

Thịt vai

"

25.000

Thịt ba chỉ

"

20.000

Tại TP.HCM giai đoạn giữa tháng 11 thì giá trứng gà đã tăng mạnh trở lại, lên mức 1.600 Đồng- 1.800 Đồng/trứng (giá bán lẻ), tăng khoảng 400 Đồng. Theo giới kinh doanh trứng gia cầm tại TP.HCM, nguyên nhân tăng giá là do nguồn cung cấp trứng hiện nay còn hạn chế, trong khi sức tiêu thụ đang tăng trở lại. Một nguyên nhân khác là do các cơ sở sản xuất bánh đang vào mùa sản xuất bánh phục vụ dịp lễ Noel và tết dương lịch sắp đến. Tương tự, giá thịt gà, vịt hiện cũng tăng từ 2.000 Đồng – 4.000 Đồng/kg so với những ngày đầu trong tháng. Giá bán lẻ thịt gà công nghiệp từ 31.000 Đồng- 32.000 Đồng/kg, gà thả vườn từ 42.000 Đồng- 46.000 Đồng/kg, vịt từ 32.000 Đồng- 34.000 Đồng/kg.

Gần cuối tháng 11, trứng gà Trung Quốc đã đổ về các chợ ở Đồng Nai, Bình Dương rồi chuyển vào TP.HCM tiêu thụ với số lượng lớn - Giá trứng trên thị trường giảm mạnh. Giá trứng tại TP.HCM tiếp tục giảm mạnh, từ 1.800 Đồng/trứng xuống còn 1.500 Đồng/trứng và có nơi chỉ còn 1.200 Đồng/trứng. Trứng gà Trung Quốc luôn rẻ hơn hàng trong nước khoảng 200 Đồng/trứng. Được biết, giá trứng gà bên Trung Quốc chỉ khoảng 600 Đồng/trứng. Dự báo giá sẽ còn giảm mạnh nếu không có sự can thiệp của các cấp chính quyền ngăn chặn việc nhập lậu này.

Do nhu cầu chuẩn bị nguồn hàng phục vụ Tết của các thành phần kinh tế tăng cùng với tác động của các yếu tố: giá lương thực, thức ăn chăn nuôi tăng, ảnh hưởng của bão số 9, việc dự kiến điều chỉnh tăng giá một số mặt hàng quan trọng vào đầu năm 2007… nên giá nhiều mặt hàng thực phẩm có chiều hướng tăng dần. Từ tháng 12, giá thịt lợn tiếp tục tăng, với mức tăng 500-1.500 Đồng/kg, các tỉnh phổ biến ở mức 14.000-15.000 Đồng/kg (phía Bắc) và 15.000-21.000 Đồng/kg (phía Nam). Thịt gia cầm tăng 2.000-3.000 Đồng/kg ở nhiều nơi, giá gà ta 40.000-55.000 Đồng/kg. Tại thị trường Hà Nội thì giá thịt lợn tăng từ 12-14%, thịt bò tăng 7-8%, thịt gà ta mổ sẵn tăng 10-12%. Và những mặt hàng này hiện vẫn đang có biểu hiện tiếp tục tăng thêm.

Cũng vào thời gian đầu tháng 12, sau khi nhiều báo đài đưa tin các công ty thức ăn chăn nuôi, trại heo sử dụng hormon tăng trưởng trong chăn nuôi, giá thịt lợn tại một số tỉnh phía Nam (điển hình là tỉnh Đồng Nai) xuống rất mạnh. Trong những ngày đầu tháng giá heo hơi xuống chỉ còn 15.000-16.500 Đồng/kg. Đây là lần thứ ba trong năm heo thịt tiếp tục mất giá thảm hại. Trong quý 3, khi dịch lở mồm long móng bùng phát trên nhiều tỉnh, thành, người tiêu dùng không mặn mà với thịt heo nên giá xuống chỉ còn 13.000-14.000 Đồng/kg. Nhiều người chăn nuôi tính toán, giá thành một ký thịt heo hơi cũng phải từ 19.000-20.000 Đồng, thế nhưng nay người chăn nuôi chỉ bán được giá trên dưới 16.500 Đồng/kg. Vậy là người chăn nuôi phải chịu lỗ từ 300.000- 400.000 Đồng/tạ heo khi xuất chuồng. Nếu tính toàn Đồng Nai hiện có khoảng 1 triệu heo thịt, mỗi tháng xuất ra thị trường hơn 100.000 con thì giới chăn nuôi heo của tỉnh cũng lỗ hơn 30 tỷ Đồng/tháng.



      1. Каталог: images -> 2007
        2007 -> Hồ sơ ngành hàng rau quả
        2007 -> Căn cứ Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998
        2007 -> Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp
        2007 -> QuyếT ĐỊnh số 46/2007/QĐ-bnn, ngày 28 tháng 5 năm 2007 Ban hành Quy định về việc xác định rừng trồng, rừng khoanh nuôi thành rừng
        2007 -> Trung tâm phát triển nông thôN
        2007 -> §å hép rau qu¶ Ph­¬ng ph¸p x¸c ®Þnh hµm l­îng vitamin c (axit ascobic) tcvn 4715 89
        2007 -> Tiªu chuÈn ViÖt nam §å hép rau qu¶ Ph­¬ng ph¸p thö tcvn 4712-89
        2007 -> Iso 9000: 2000 Thuật ngữ và định nghĩa hệ thống quản lý chất lượng Thuật ngữ liên quan đến chất lượng
        2007 -> Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp

        tải về 0.56 Mb.

        Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương