Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, nâng lên tầm cao mới tư tưởng độc lập tự chủ, hòa bình và hội nhập thế giới một truyền thống lâu đời của chính trị Việt Nam



tải về 391.02 Kb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu15.08.2016
Kích391.02 Kb.
1   2   3

Nguyễn Ðức Hà

Ban Tổ chức TW

tapchicongsan.org.vn/



Năm 2013: Kinh tế vĩ mô nước ta cơ bản giữ ổn định

25/12/2013



Trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và thế giới còn nhiều khó khăn, thách thức, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương thực hiện tích cực và đồng bộ các giải pháp ổn định và phát triển kinh tế. Kết quả đạt được trong năm 2013 thể hiện sự nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị, của toàn quân và toàn dân ta.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%; quý IV tăng 6,04%. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín hiệu phục hồi. Trong bối cảnh kinh tế thế giới những năm qua có nhiều bất ổn, sản xuất trong nước gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, thực hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nên đây là mức tăng hợp lý, khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành.

Trong mức tăng 5,42% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75% của năm trước, đóng góp 2,09 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,56%, cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2012, đóng góp 2,85 điểm phần trăm. 

Như vậy mức tăng trưởng năm nay chủ yếu do đóng góp của khu vực dịch vụ, trong đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng khá là: Bán buôn và bán lẻ tăng 6,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,91%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,89%...

Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế cả năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,3% và khu vực dịch vụ chiếm 43,3% (Năm 2012 các tỷ trọng tương ứng là: 19,7%; 38,6% và 41,7%).

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2013 bị ảnh hưởng lớn của thời tiết, bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong và ngoài nước bị thu hẹp; giá bán nhiều sản phẩm, nhất là sản phẩm chăn nuôi, thủy sản ở mức thấp trong khi giá vật tư, nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao... Do đó, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng thấp hơn năm trước. 

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 801,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,95% so với năm 2012, bao gồm: Nông nghiệp đạt 602,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,47%; lâm nghiệp đạt 22,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,04%; thuỷ sản đạt 176,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,22%.

Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp năm 2013 có dấu hiệu phục hồi, nhất là ngành công nghiệp chế biến chế tạo với tỷ trọng lớn trong toàn ngành công nghiệp đã có sự chuyển biến rõ nét qua các quý. Chỉ số tồn kho, chỉ số tiêu thụ diễn biến theo xu hướng tích cực. Tính chung cả năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tăng 5,9% so với năm trước, cao hơn mức tăng năm 2012, trong đó quí I tăng 5%; quí II tăng 5,5%; quí III tăng 5,4% và quí IV tăng 8%. Nếu loại trừ tháng Một (IIP tăng 27,5%) và tháng Hai (IIP giảm 15,1%) do ảnh hưởng của yếu tố thời vụ là Tết Nguyên đán thì từ tháng Ba, IIP đạt mức 5 - 6%. 

Trong mức tăng chung của toàn ngành năm nay, ngành chế biến, chế tạo đóng góp 5,3 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai thác làm giảm 0,1 điểm phần trăm.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01-12-2013 toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2% so với cùng thời điểm năm 2012 (cùng kỳ năm 2011 là 23%; năm 2012 là 20,1%). Mặc dù mức tồn kho giảm chưa nhiều nhưng đây là tín hiệu tốt đối với sản xuất công nghiệp trong thời gian tới. Nguyên nhân chủ yếu do tác dụng thực hiện các giải pháp của Chính phủ trong tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, từng bước ổn định sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giảm hàng tồn kho hiệu quả. Mặt khác do kinh tế thế giới và đặc biệt là khu vực châu Âu bắt đầu phục hồi đã tác động tích cực đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. 



Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 

Ước tính năm 2013, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 76.955 doanh nghiệp, tăng 10,1% so với năm 2012 với tổng vốn đăng ký là 398,7 nghìn tỷ đồng, giảm 14,7%. Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động năm nay là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước, trong đó số doanh nghiệp đã giải thể là 9.818 doanh nghiệp, tăng 4,9%; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 10.803 doanh nghiệp, tăng 35,7%; số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 40.116 doanh nghiệp, tăng 8,6%. 

Về hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, theo kết quả điều tra tại thời điểm 01-01-2013 cả nước có 3.135 doanh nghiệp nhà nước, bao gồm: 405 doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 12,9%; 1.401 doanh nghiệp công nghiệp và xây dựng, chiếm 44,7% và 1.329 doanh nghiệp dịch vụ, chiếm 42,4%. Kết quả điều tra có 2.893 doanh nghiệp trả lời, trong đó 2.854 doanh nghiệp thực tế đang hoạt động, chiếm 98,7%; 39 doanh nghiệp ngừng hoạt động, chiếm 1,3%, bao gồm 24 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước và 15 doanh nghiệp vốn nhà nước trên 50%. 

So với năm 2000, số doanh nghiệp nhà nước tại thời điểm 01-01-2013 bằng 54,4%, giảm 2.624 doanh nghiệp; tổng doanh thu năm 2012 gấp 6,9 lần năm 2000; tổng lợi nhuận trước thuế gấp 9,4 lần; tổng nộp ngân sách nhà nước gấp 8,1 lần.



Hoạt động dịch vụ

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 ước tính đạt 2.618 nghìn tỷ đồng, tăng 12,6% so với năm 2012 và là mức tăng thấp nhất trong vòng bốn năm trở lại đây, loại trừ yếu tố giá năm 2013 tăng 5,6%; năm 2012 tăng 6,5%; năm 2011 tăng 4,4%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 của khu vực kinh tế nhà nước đạt 258,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,9% và giảm 8,6% so với năm 2012; kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.269,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,7% và tăng 15,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 89,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,4% và tăng 32,8%. 

Vận tải hành khách năm 2013 ước tính đạt 2.950,1 triệu lượt khách, tăng 6,3% và 123,1 tỷ lượt khách x km, tăng 5,4% so với năm 2012. Vận tải hàng hóa năm 2013 ước tính đạt 1.011,1 triệu tấn, tăng 5,4% và 208,5 tỷ tấn x km, giảm 0,4% so với năm trước.

Khách quốc tế đến nước ta năm 2013 ước tính đạt 7.572,4 nghìn lượt người, tăng 10,6% so với năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 4.640,9 nghìn lượt người, tăng 12,2%; đến vì công việc 1.266,9 nghìn lượt người, tăng 8,7%; thăm thân nhân đạt 1.259,6 nghìn lượt người, tăng 9,4%.



Xây dựng, đầu tư phát triển

Hoạt động xây dựng cơ bản năm nay tăng mạnh, trong đó tăng cao nhất ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài do tập trung đẩy nhanh tiến độ đối với các công trình thuộc khu kinh tế trọng điểm quốc gia. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 770,4 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 92,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 12%; khu vực ngoài Nhà nước 644,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 83,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 33,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,4%. 

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 1.091,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với năm trước và bằng 30,4% GDP. Trong vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2013, vốn khu vực Nhà nước đạt 440,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,4% tổng vốn và tăng 8,4% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 410,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,6% và tăng 6,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 240,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 22% và tăng 9,9%.

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ đầu năm đến 15-12-2013 ước tính đạt 21,6 tỷ USD, tăng 54,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 14,3 tỷ USD vốn đăng ký của 1.275 dự án được cấp phép mới, tăng 70,5% (số dự án tăng 0,7%) và 7,3 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung của 472 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước, tăng 30,8%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2013 ước tính đạt 11,5 tỷ USD, tăng 9,9% so với năm 2012.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với 16,6 tỷ USD, chiếm 76,9% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2 tỷ USD, chiếm 9,4%; các ngành còn lại đạt 3 tỷ USD, chiếm 13,7%.

Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2013 ước tính đạt 790,8 nghìn tỷ đồng, bằng 96,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 530 nghìn tỷ đồng, bằng 97,2%; thu từ dầu thô 115 nghìn tỷ đồng, bằng 116,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 140,8 nghìn tỷ đồng, bằng 84,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 159,3 nghìn tỷ đồng, bằng 91,4% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 111,2 nghìn tỷ đồng, bằng 103,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 110,2 nghìn tỷ đồng, bằng 91,6%; thu thuế thu nhập cá nhân 45,8 nghìn tỷ đồng, bằng 83,4%; thu thuế bảo vệ môi trường 11,7 nghìn tỷ đồng, bằng 81,5%; thu phí, lệ phí 15,2 nghìn tỷ đồng, bằng 146,5%. 

Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2013 ước tính đạt 986,2 nghìn tỷ đồng, bằng 100,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 201,6 nghìn tỷ đồng, bằng 115,1% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 196,3 nghìn tỷ đồng, bằng 115,4%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền lương) ước tính đạt 679,6 nghìn tỷ đồng, bằng 100,8%; chi trả nợ và viện trợ 105 nghìn tỷ đồng, bằng 100%.

Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước năm nay ở mức 5,3% GDP, vượt mức 4,8% đã dự toán. Sau nhiều năm vượt thu, đây là năm đầu tiên số thu ngân sách nhà nước cả năm ước tính không đạt dự toán thu cân đối ngân sách, ảnh hưởng lớn tới việc điều hành ngân sách và cân đối, bố trí vốn để thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước.

Đến ngày 12-12-2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,64%; huy động vốn tăng 15,61%; tăng trưởng tín dụng tăng 8,83% so với cuối năm 2012 và dự kiến sẽ cao hơn mức tăng của năm 2012 nhưng vẫn thấp hơn mức kế hoạch đề ra là khoảng 12%; thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại được cải thiện, đảm bảo khả năng thanh toán và chi trả của hệ thống; tỷ giá ngoại tệ ổn định, dự trữ ngoại hối tăng cao. 

Xuất, nhập khẩu 

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012. (kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng 34,2%; năm 2012 tăng 18,2%). Trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt 43,8 tỷ USD, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 88,4 tỷ USD, tăng 22,4%. Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 81,2 tỷ USD, tăng 26,8% so với năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2013 tăng 18,2%. 

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may, giày dép... 

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2013 đạt 131,3 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm trước (kim ngạch nhập khẩu năm 2011 tăng 25,8%; năm 2012 tăng 6,6%). Cơ cấu kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm nay cũng có sự thay đổi so với năm 2012, nhóm tư liệu sản xuất ước tính đạt 131,3 tỷ USD, chiếm tỷ trọng cao nhất với 92%, tăng so với mức 90,9% của năm 2012, chủ yếu do tỷ trọng nhóm hàng máy, móc thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải chiếm 36,7%, tăng so với mức 35,3%; phụ tùng và nhiên vật liệu chiếm 55,3%, giảm so với mức 55,6% của năm 2012. Nhóm hàng tiêu dùng đạt 10,5 tỷ USD, chiếm 8%, giảm so với mức 9% của năm 2012.

Tính chung cả năm 2013, xuất siêu 863 triệu USD, bằng 0,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 13,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 14 tỷ USD. Như vậy xuất siêu năm nay hoàn toàn thuộc về khu vực đầu tư nước ngoài, nhưng hiệu quả mang lại cho tăng trưởng kinh tế không cao do chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp. 

Chỉ số giá 

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12-2013 tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 6,04% so với tháng 12-2012. Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với bình quân năm 2012, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,21% của năm 2012.

Điểm sáng của bức tranh kinh tế nước ta năm 2013 là kinh tế vĩ mô cơ bản giữ ổn định. Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Sản xuất công nghiệp có dấu hiệu phục hồi dần, nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Xuất khẩu tăng nhanh, cân đối thương mại theo hướng tích cực. Tăng trưởng tín dụng vào những tháng cuối năm có những cải thiện rõ rệt. Thu hút đầu tư nước ngoài có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, năm qua kinh tế nước ta vẫn còn những bất cập và đây là khó khăn, thách thức tiếp tục phải đối mặt trong năm 2014: Lạm phát ở mức an toàn nhưng còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Cân đối ngân sách tiếp tục gặp khó khăn trong điều kiện tốc độ phục hồi của sản xuất kinh doanh trong nước còn chậm. Sức cầu của nền kinh tế yếu. Khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp thấp. Hàng tồn kho tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao. Xuất khẩu mặc dù có nhiều cải thiện nhưng ưu thế thuộc về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với những mặt hàng gia công là chủ yếu, giá trị gia tăng thấp. Tốc độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm. Năng lực quản lý, điều hành sản xuất của nhiều doanh nghiệp còn yếu dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp hoặc thua lỗ khi phải đương đầu với khó khăn, thử thách.

Để vượt qua những khó khăn, thách thức, thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, các ngành, các cấp, các địa phương cần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tích cực và chú trọng giải quyết vấn đề nợ xấu để tạo điều kiện hạ thấp lãi suất một cách ổn định, đồng thời không làm gia tăng lạm phát; thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và tiếp tục khai thác tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế; thực hiện nghiêm Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26-11-2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí;.../.



NĐ tổng hợp

http://www.tapchicongsan.org.vn/






Năm 2013: Từng bước giải quyết các vấn đề xã hội

27/12/2013



Nhờ kinh tế vĩ mô tăng trưởng ổn định nên trong năm 2013, mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh nhưng chúng ta vẫn từng bước giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đời sống của đa số người dân được cải thiện.

Các biện pháp quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát trong năm 2013 đã mang lại những kết quả tích cực. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12-2013 tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 6,04% so với tháng 12-2012; là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Đây là tiền đề quan trọng để từng bước giải quyết các vấn đề xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. 

Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình cả nước năm 2013 ước tính 89,71 triệu người, tăng 1,05% so với năm 2012, bao gồm: Dân số nam 44,38 triệu người, chiếm 49,47% tổng dân số cả nước, tăng 1,08%; dân số nữ 45,33 triệu người, chiếm 50,53%, tăng 1,03%. Trong tổng dân số cả nước năm nay, dân số khu vực thành thị là 29,03 triệu người, chiếm 32,36% tổng dân số, tăng 2,38% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 60,68 triệu người, chiếm 67,64%, tăng 0,43%.

Tổng tỷ suất sinh năm 2013 đạt 2,10 con/phụ nữ, tăng so với mức 2,05 con/phụ nữ của năm 2012. Tỷ số giới tính của dân số đạt 97,91 nam/100 nữ, tăng so với mức 97,86 nam/100 nữ của năm 2012. Tỷ suất sinh thô đạt 17,05 trẻ sinh ra sống trên 1.000 người dân. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh duy trì ở mức khá cao với 113,8 bé trai/100 bé gái, tăng so với mức 112,3 bé trai/100 bé gái của năm 2012. Tỷ suất chết thô năm 2013 là 7‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 15,3‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 23,0‰. Tỷ suất chết tiếp tục ở mức thấp, thể hiện rõ hiệu quả của chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em nói riêng và công tác bảo vệ sức khoẻ, nâng cao mức sống cho người dân nói chung trong năm qua.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 01-01-2014 là 53,65 triệu người, tăng 864,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 51,5%; lao động nữ chiếm 48,5%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến 01-01-2014 là 47,49 triệu người, tăng 409,2 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2013, trong đó nam chiếm 53,9%; nữ chiếm 46,1%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2013 ước tính 52,40 triệu người, tăng 1,36% so với năm 2012. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2013 của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,9% tổng số, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 21,1%, giảm 0,1 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 32,0%, tăng 0,6 điểm phần trăm.

Tỷ lệ lao động phi chính thức trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2013 ước tính chiếm 34,2%, trong đó khu vực thành thị là 47,4%; khu vực nông thôn 28,6% (năm 2012 các tỷ lệ tương ứng là: 33,7%; 46,8% và 28%).

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính là 2,2%, trong đó khu vực thành thị là 3,58%; khu vực nông thôn là 1,58% (năm 2012 tương ứng là: 1,96%; 3,21%; 1,39%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2013 ước tính 2,77%, trong đó khu vực thành thị là 1,48%; khu vực nông thôn là 3,35% (năm 2012 tương ứng là: 2,74%; 1,56%; 3,27%). 

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 15-24 năm 2013 ước tính 6,36%, trong đó khu vực thành thị là 11,11%, tăng 1,94 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực nông thôn là 4,87%, tăng 0,62 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2013 ước tính 1,21%, trong đó khu vực thành thị là 2,29%, tăng 0,19 điểm phần trăm so với năm trước; khu vực nông thôn là 0,72%, tăng 0,06 điểm phần trăm. Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên do sản xuất vẫn gặp khó khăn làm ảnh hưởng đến việc làm của người lao động.

Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Công tác an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm qua được Đảng, Nhà nước và Chính phủ tập trung quan tâm, chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện. Thực hiện Nghị định số 103/2012/NĐ-CP ngày 04-12-2012 của Chính phủ về việc quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động và Nghị định số 66/2013/NĐ-CP ngày 27-6-2013 của Chính phủ về việc tăng mức lương tối thiểu đối với khu vực Nhà nước, đời sống người làm công ăn lương được cải thiện hơn. 

Ở khu vực nông thôn, trong năm cả nước có 426,7 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 5,2% so với năm 2012, tương ứng với 1.794 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 6,2%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 45,3 nghìn tấn lương thực và 24 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2013 ước tính 9,9%, giảm 1,2 điểm phần trăm so với năm 2012.

Tổng số tiền mặt và hiện vật dành cho công tác an sinh xã hội và giảm nghèo, cứu đói năm 2013 là 2.929 tỷ đồng, trong đó quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách là 1.378 tỷ đồng; thăm hỏi và hỗ trợ các hộ nghèo 1.085 tỷ đồng; cứu đói và cứu trợ xã hội 466 tỷ đồng. Cũng trong năm 2013 cả nước có trên 7,4 triệu sổ, thẻ bảo hiểm y tế, giấy khám chữa bệnh được phát miễn phí cho các đối tượng chính sách tại các địa phương.



Giáo dục và đào tạo

Tính đến cuối năm 2013, cả nước có 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó 04 tỉnh/thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 (năm 2012 là 03 tỉnh). Tình trạng học sinh bỏ học trong năm học 2012 - 2013 đã giảm so với năm học trước, cả nước có 8,9 nghìn học sinh tiểu học bỏ học, giảm 0,1% so với năm trước; 44 nghìn học sinh trung học cơ sở bỏ học, giảm 0,3% và gần 42 nghìn học sinh trung học phổ thông bỏ học, giảm 0,2%.

Ngành giáo dục, đào tạo năm 2013 tiếp tục nhận được sự quan tâm đầu tư phát triển. Tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo trong năm là 194,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với năm 2012, trong đó chi thường xuyên cho giáo dục và đào tạo là 164,4 nghìn tỷ đồng, tăng 17,3%; chi cho xây dựng cơ bản là 30 nghìn tỷ đồng, tương đương mức chi năm trước. 

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong năm 2013, cả nước có 67,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (40 trường hợp tử vong); 810 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (17 trường hợp tử vong); 656 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 39 trường hợp mắc viêm màng não do não mô cầu (03 trường hợp tử vong); 76,5 nghìn trường hợp mắc dịch chân, tay, miệng (20 trường hợp tử vong); 18 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân; 02 trường hợp mắc cúm A (H5N1), 01 trường hợp tử vong; tổng số người nhiễm HIV hiện còn sống của cả nước tính đến ngày 17-12-2013 là 215,7 nghìn người, trong đó 64,6 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS cả nước tính đến thời điểm trên là 68,5 nghìn người. Trong năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 139 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng làm 4,7 nghìn người bị ngộ độc, trong đó 26 trường hợp tử vong. 



Hoạt động văn hóa, thể thao

Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục phát triển mạnh cả về quy mô, nội dung và hình thức. Trong năm nay, ngành văn hóa đã nỗ lực thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị và kế hoạch công tác. Nhiều hoạt động văn hóa mang ý nghĩa lớn phục vụ các ngày lễ lớn của dân tộc được tổ chức sôi nổi với nội dung phong phú. Nhiều đợt phim, tuần phim, chương trình nghệ thuật và các hoạt động triển lãm có nội dung sâu sắc nhằm quảng bá con người, đất nước Việt Nam được tổ chức tại các thành phố lớn. Công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá dân tộc tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh. 

Trong hoạt động thể thao thành tích cao, ngành Thể dục Thể thao tổ chức thành công 187 giải thể thao trong nước và quốc tế; mở 24 lớp tập huấn, bồi dưỡng huấn luyện viên, trọng tài; cử 157 đoàn và đội tuyển tham dự các giải thể thao quốc tế và cử 52 đội, đoàn đi tập huấn ở nước ngoài. Để chuẩn bị cho các giải đấu lớn, ngành đang xây dựng đề án đào tạo vận động viên và triệu tập 61 đội tuyển, đội tuyển trẻ các môn thể thao tập huấn tại các Trung tâm Huấn luyện Thể thao. Tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 27 năm 2013 (Sea Games 27) tổ chức tại Mi-an- ma, đoàn thể thao Việt Nam thi đấu thành công và đạt vị trí thứ ba toàn đoàn với 73 huy chương vàng.

Tai nạn giao thông 

Tính từ 16-11-2012 đến 15-11-2013, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 31,3 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 9,9 nghìn người và làm bị thương 32,2 nghìn người. So với năm 2012, số vụ tai nạn giao thông giảm 13,8%, số người chết tăng 0,1% và số người bị thương giảm 15,5%.



Thiệt hại do thiên tai

15 cơn bão với cường độ mạnh và diễn biến phức tạp trong năm qua, đặc biệt tình trạng mưa, lũ sau bão đã gây thiệt hại nặng về người và tài sản cho nhiều tỉnh và thành phố. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, thiên tai đã làm 313 người chết và mất tích; 1.150 người bị thương; 6.401 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; trên 692 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, hư hỏng; 88,2 km đê, kè và 894 km đường giao thông cơ giới bị vỡ, sạt lở; gần 8 nghìn cột điện gãy, đổ; hơn 17 nghìn ha lúa và 20 nghìn ha hoa màu bị mất trắng; gần 117 nghìn ha lúa và 154 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Các địa phương có số người bị chết và mất tích nhiều do thiên tai là: Quảng Bình 46 người; Nghệ An 29 người; Lào Cai 23 người; Quảng Ngãi 22 người; Bình Định 22 người. Trong đó Quảng Bình là địa phương bị thiệt hại nặng nhất về tài sản. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2013 ước tính gần 30 nghìn tỷ đồng (gấp hơn 2 lần năm 2012), trong đó Quảng Bình thiệt hại khoảng 12,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,6% tổng giá trị thiệt hại của cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, tổng số tiền mặt cứu trợ các địa phương bị ảnh hưởng thiên tai trong năm là gần 795 tỷ đồng và khoảng 20 tấn lương thực.



Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường

Tình trạng cháy, nổ trên địa bàn cả nước có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Trong năm 2013 (từ 15-11-2012 đến 15-11-2013), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 2,5 nghìn vụ cháy, 65 vụ nổ nghiêm trọng, làm 127 người chết và 339 người bị thương. Tổng giá trị thiệt hại do cháy, nổ ước tính 1,6 nghìn tỷ đồng. Trong năm 2013, các cơ quan chức năng đã phát hiện 9,4 nghìn vụ vi phạm quy định về vệ sinh môi trường, trong đó 5,2 nghìn vụ bị xử lý với tổng số tiền phạt gần 52 tỷ đồng. 

Nhìn chung trong năm 2013, các lĩnh vực xã hội cơ bản ổn định; đời sống người dân từng bước được cải thiện, nhất là nhóm đối tượng những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, các lĩnh vực xã hội vẫn tiềm ẩn những khó khăn, thách thức. Để từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức, bên cạnh việc thực hiện tốt các giải pháp nhằm duy trì ổn định và phát triển kinh tế, tạo nguồn lực giải quyết các vấn đề xã hội, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án trong lĩnh vực xã hội; hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường để giải quyết việc làm; ưu tiên cho các chương trình giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; bảo đảm tính hiệu quả và nâng cao chất lượng các khoản chi trong chi cho phúc lợi xã hội. 

Việc điều chỉnh giá các mặt hàng cơ bản và dịch vụ công cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành liên quan và lộ trình hợp lý về thời điểm tăng giá, mức tăng giá… Tăng cường công tác quản lý điều hành nhằm bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; quản lý, điều hành các mặt hàng thiết yếu, dịch vụ công phù hợp nhằm giảm áp lực tăng giá trong các tháng cuối năm. Xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, đầu cơ, găm hàng đẩy giá lên cao hoặc tăng giá đột biến trong dịp Tết Nguyên đán. 

Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” cùng với triển khai Chương trình đưa hàng bình ổn về nông thôn. Mở rộng các nhóm hàng bình ổn cũng như thời gian phục vụ cùng với cải tiến phương thức thực hiện nhằm mang lại hiệu quả tốt hơn. Tăng cường kiểm tra các điểm bán hàng bình ổn giá về mặt hàng, giá bán. Kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp cố tình vi phạm. Nhân rộng mạng lưới các điểm bán hàng bình ổn và tập trung nhiều hơn đến các vùng nông thôn, khu vực đông dân cư, khu công nghiệp.

Phát triển và đẩy mạnh hoạt động của các ngân hàng chính sách xã hội tại các địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa để người nghèo trên cả nước tiếp cận được với dịch vụ tài chính. Tăng cường đào tạo tay nghề cho người lao động cùng với đào tạo kỹ năng mềm để tăng cơ hội xin việc làm. Rà soát sửa đổi, bổ sung một số luật liên quan đến người lao động để khắc phục những hạn chế, bất cập, bảo đảm phù hợp với thực tiễn nhằm bảo vệ lợi ích, quyền lợi cho người lao động. Tập trung triển khai hiệu quả các biện pháp hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, nhanh chóng phục hồi sản xuất và ổn định đời sống; hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi. Tạo điều kiện cho các hộ dân bị thiệt hại do bão, lũ tiếp tục vay vốn phục hồi sản xuất, kinh doanh./.



NĐ tổng hợp

http://www.tapchicongsan.org.vn/



Một số kết quả công tác xây dựng Đảng ở các tỉnh, thành khu vực phía Nam

1/11/2013






Quang cảnh Hội nghị
Sáng 31-10, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Văn phòng Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị giao ban quý III - 2013 các cơ quan Trung ương phía Nam, nhằm đánh giá công tác xây dựng Đảng trong 9 tháng đầu năm 2013 ở các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam.

Tham dự và chỉ đạo Hội nghị gồm có các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nguyễn Hoàng Việt, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Nguyễn Văn Nên, Phó Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Tấn Quyên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương và đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

Tại Hội nghị, sau khi nghe đồng chí Nguyễn Văn Dựa, Hàm Vụ trưởng, Vụ Địa phương II báo cáo một số kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng ở các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam trong 9 tháng đầu năm 2013, các đại biểu đã tập trung đánh giá, thảo luận và nhận định những kết quả đạt được thể hiện qua 3 vấn đề chính, như sau:

Đối với việc khắc phục khuyết điểm sau khi tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI: Nhận dạng rõ hơn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, giúp các cấp ủy và từng cán bộ, đảng viên tự đánh giá, tu dưỡng, rèn luyện. Nhiều cán bộ, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp tiên phong tự giác sửa chữa khuyết điểm, tự điều chỉnh hành vi của bản thân, nêu gương cho cấp dưới noi theo; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và xử lý nghiêm những vụ việc gây bức xúc trong nhân dân. Kết quả khắc phục khuyết điểm sau kiểm điểm là cơ sở để từng cấp ủy, địa phương, đơn vị làm tốt hơn công tác tổ chức cán bộ, công tâm hơn, dân chủ hơn trong đánh giá, quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ. Qua kiểm điểm, khắc phục khuyết điểm đã tăng cường sự hiểu biết giữa đồng chí, đồng nghiệp với nhau; giữa cấp trên và cấp dưới; giữa cán bộ đương chức với cán bộ hưu trí, cải thiện niềm tin trong cả hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân đối với cấp ủy đảng, chính quyền các cấp; tạo sự thống nhất về ý chí, hành động trong thực hiện các nhiệm vụ của địa phương và công tác xây dựng Đảng. Bước đầu có những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao tinh thần, trách nhiệm trong quản lý, điều hành, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, mạnh dạn đấu tranh phê bình, góp ý những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên. Việc khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm của các đồng chí đứng đầu cơ quan, đơn vị đã thể hiện được tính nêu gương để cán bộ, đảng viên và quần chúng noi theo.

Trong quá trình thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW về việc “tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, nhiều địa phương, đơn vị đã tập trung chỉ đạo, xử lý có hiệu quả các vụ việc vi phạm, nhất là đối với những lĩnh vực mang tính chất nhạy cảm như: giải tỏa, đền bù đất đai, giải quyết các thủ tục hành chính ở cơ sở, khai thác khoáng sản… và nhiều lĩnh vực khác. Qua đó, nâng cao tinh thần tự phê bình và phê bình; đổi mới lề lối, tác phong làm việc; tăng cường đoàn kết nội bộ, phát huy và thực hành dân chủ; củng cố kỷ cương, kỷ luật, góp phần đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; củng cố lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước... Nhiều vấn đề tiêu cực, tồn đọng lâu năm, gây bức xúc trong dư luận bước đầu được quan tâm giải quyết. Đến nay việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được cụ thể thành nề nếp trong sinh hoạt chi bộ, tạo sự chuyển biến trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Đối với công tác xây dựng Đảng ở các địa phương có đông đồng bào Khmer, các cấp ủy luôn quan tâm chỉ đạo triển khai quán triệt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh uỷ, thành uỷ đến cán bộ, đảng viên, tạo được sự thống nhất cao trong nội bộ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong đồng bào dân tộc Khmer, xem đây là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, thúc đẩy việc xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong vùng đồng bào dân tộc Khmer. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ người dân tộc Khmer luôn được các cấp ủy quan tâm. Quy hoạch có tính kế thừa, nhất là đối với cán bộ chủ chốt, cán bộ lãnh đạo, quản lý; đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuẩn hóa cả trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị; bố trí, sử dụng cán bộ linh hoạt, đúng năng lực, sở trường công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ở các ngành, lĩnh vực quan trọng.

Bên cạnh đó, các đại biểu đã nêu lên những dấu hiệu rất đáng quan tâm, lo ngại đối với tình hình tư tưởng, ảnh hưởng đến công tác xây dựng Đảng trong thời gian qua và cần sớm khắc phục, đó là: Vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân băn khoăn, lo lắng về một số hạn chế, khuyết điểm chưa được khắc phục kịp thời, hiệu quả, như: tham nhũng, lãng phí xảy ra nhiều nhưng chưa được ngăn chặn; tình hình lạm phát, giá cả một số mặt hàng tăng cao ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân. Tình trạng khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, phá rừng vẫn diễn ra phức tạp; sự chống phá của các thế lực phản động, nhất là trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng; hiện tượng tiêu cực trong sản xuất, kinh doanh các sản phẩm du lịch. 

Đồng chí Nguyễn Văn Nên nhận định: thời gian qua công tác nắm bắt tình hình dư luận ở các địa phương chưa được chú trọng, nên chưa đánh giá đúng thực tiễn và lưu ý, “chúng ta không nên bằng lòng với những con số đẹp thể hiện trên báo cáo của các đơn vị, địa phương gửi về, một khi chúng ta chưa an tâm khi nhìn vào thực tiễn”. Đồng quan điểm với nhận định này, đồng chí Nguyễn Văn Hùng, Phó trưởng Ban Dân vận Trung ương cho rằng, trong học tập và làm theo Bác, việc nêu gương của những người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương chưa có tác dụng rõ nét nhất là việc “làm theo” rất mờ nhạt.

Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Nguyễn Hoàng Việt khẳng định: Những kết quả đạt được trong công tác xây dựng Đảng ở các tỉnh, thành khu vực phía Nam 9 tháng đầu năm 2013 là rất quan trọng. Tuy nhiên, đánh giá một cách trung thực và khách quan thì vẫn còn không ít tồn tại, hạn chế cần khắc phục một cách nghiêm túc. Vì vậy, trong thời gian tới, các cơ quan đảng Trung ương ở khu vực phía Nam cần căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ của mình cần đề xuất lên cấp trên những giải pháp hữu ích, phù hợp nhất. Trước mắt, để công tác xây dựng Đảng ở khu vực phía Nam đạt hiệu quả, phải gắn chặt việc triển khai, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng hiện nay với tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó tiếp tục thực hiện tốt các nhóm giải pháp đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI xác định. Tổng hợp những mô hình hay, sáng tạo, có hiệu quả trong công tác xây dựng Đảng để phổ biến, nhân rộng trong toàn quốc, giúp cho các tổ chức đảng, cơ quan, địa phương thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một cách có hiệu quả./.



Tin, ảnh: Lâm Quân

http://www.tapchicongsan.org.vn/


Những đảng viên trẻ tiêu biểu của Thủ đô

Thứ hai, 28/10/2013



Vừa qua, Thành Ðoàn Hà Nội tổ chức tuyên dương hơn 100 đảng viên trẻ tiêu biểu xuất sắc. Họ là những học sinh, sinh viên, công nhân, chiến sĩ, doanh nhân, nghệ sĩ... hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng đại diện cho ý chí của hàng vạn đảng viên trẻ nhiệt huyết, mẫu mực của Thủ đô. Các đảng viên trẻ là những tấm gương tiêu biểu cho phần lớn lớp trẻ ngày nay trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Chúng tôi tìm gặp đảng viên trẻ Nguyễn Văn Thanh, sinh năm 1981, công tác tại Ðội Tổng hợp Công an quận Tây Hồ (Hà Nội). Ðược biết, trong nhiều năm qua, anh luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, thường xuyên tham mưu, đề xuất cho thường trực BCÐ 197 quận xây dựng các chương trình, kế hoạch hoạt động về bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị, vệ sinh môi trường. Từ nhiều năm nay, tình trạng câu cá trái phép và gây ô nhiễm diễn ra thường xuyên ở khu vực chung quanh Hồ Tây. Trước thực trạng này, Văn Thanh đã tham mưu, thành lập và trực tiếp chỉ đạo tổ công tác, gồm Ðoàn viên của Công an quận ra quân xử lý các trường hợp vi phạm. Văn Thanh cho biết, tổ công tác đã xử lý hơn 40 đối tượng, hạn chế được tình trạng câu cá trái phép, gây ô nhiễm Hồ Tây, gây mất mỹ quan đô thị. Thế nhưng, để người dân hiểu rõ hơn và tránh việc tái phạm, Văn Thanh cùng các đồng đội không quản ngại khó khăn đi tuyên truyền từng hộ dân khu vực chung quanh Hồ Tây, giúp mọi người có nhận thức rõ hơn về việc giữ gìn cảnh quan môi trường. Không chỉ công tác năng nổ, Văn Thanh còn tích cực tham gia các phong trào thi đua của đơn vị, như: Hội thi chiến sĩ CATP năm 2011; cuộc thi "CAND chấp hành nghiêm chỉnh điều lệnh" năm 2012. Dù nhận được rất nhiều danh hiệu, bằng khen, nhưng Văn Thanh vẫn giữ tinh thần khiêm tốn, cầu thị, luôn tự nhủ rằng, bản thân cần thường xuyên học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ, năng lực công tác và luôn có ý thức xây dựng đoàn kết nội bộ, giúp đỡ lẫn nhau.

Cùng với Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Hồng Ngọc là một trong số những đảng viên trẻ được tuyên dương năm nay khi chỉ vừa mới bước sang tuổi 22. Hiện Ngọc đang là Phó Bí thư Ðoàn Thanh niên của Trường đại học Ngoại thương Hà Nội. Khác với tên gọi mềm mại của mình, cô gái trẻ này luôn toát lên vẻ mạnh mẽ với giọng nói sôi nổi, nhiệt thành. Ngọc hóm hỉnh nói: "Có lẽ do học võ từ bé, với tám năm rèn luyện Võ cổ truyền Việt Nam khiến tôi thêm tự tin và độc lập hơn". Vì thế, không chỉ phấn đấu đạt được thành tích xuất sắc trong học tập, Ngọc còn năng nổ tham gia và tổ chức các chương trình của Ðoàn Thanh niên trường. Hồng Ngọc đã là thành viên tích cực của nhiều hoạt động như: Tình nguyện "Hướng về quê hương", Tiếp sức mùa thi...; tham gia viết bài, làm thiếp, đan khăn, gói quà trong chương trình "Gửi yêu thương tới Trường Sa"; tình nguyện tại Viện dưỡng lão Thiên Phúc... Hồng Ngọc kể cho chúng tôi kỷ niệm không thể quên khi tham gia Tiếp sức mùa thi. "Vì số lượng thí sinh dự thi quá đông, phố Chùa Láng trở nên bị ách tắc, cho nên tôi cùng các bạn sinh viên tình nguyện khác đứng ra giữa đường để làm thành hàng rào mềm phân luồng giao thông, giúp cho việc đi lại thuận tiện hơn. Dù trong đợt thi đó, thời tiết khắc nghiệt, nhưng tôi cảm thấy rất hạnh phúc khi góp một phần công sức nhỏ bé của mình để giúp các thí sinh đi thi đại học được thuận lợi hơn". Với Hồng Ngọc, cuộc sống là sự cống hiến hết mình để mỗi ngày trôi đi luôn cảm thấy mình đã biết sống đẹp, sống có ích.

Một gương đảng viên trẻ tiêu biểu xuất sắc khác, người luôn tâm niệm rằng, "Sống trên đời cần một tấm lòng", là Ðặng Văn Sơn, ở xã Xuân Ðỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Anh Sơn cho biết: "Ngày được kết nạp Ðảng trong quân đội thật sự là bước ngoặt lớn trong cuộc đời tôi. Trở thành một đảng viên trẻ đem đến cho tôi niềm tự hào và hạnh phúc lớn lao". Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, Sơn được giao nhiệm vụ phụ trách công tác Thanh niên của địa phương. Các hoạt động của Ðoàn nơi Sơn phụ trách luôn hướng về chủ đề từ thiện, tình nguyện để giúp đỡ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ khuyết tật, các gia đình cách mạng, người có công với nước. Văn Sơn kể với chúng tôi về chuyến đi tình nguyện tại xã Mường Chiêng, huyện Quỳnh Nhai, Sơn La. Xã Mường Chiêng là xã nằm trong vùng ngập dự án thủy điện Sơn La, nơi đây cuộc sống người dân gặp rất nhiều khó khăn. Ðoàn tình nguyện của Sơn đã gặp rất nhiều trắc trở khi thực hiện chuyến đi này do địa hình giao thông phức tạp, hiểm trở. Nhưng mọi người đã quyết tâm không bỏ cuộc khi nghĩ đến hoàn cảnh người dân ở nơi đó. Kết quả là, anh cùng mọi người đã đến, trao tận tay 40 suất quà tặng học sinh nghèo và hộ dân nghèo tái định cư. Nhìn những đôi mắt đỏ hoe, những cái bắt tay ấm áp tình người của người dân miền quê khiến Sơn quên hết mệt nhọc, vất vả. Sơn tự nhủ rằng: Phải cố gắng học hỏi những cán bộ đi trước, đồng thời phấn đấu hoàn thiện bản thân hơn nữa để sống có trách nhiệm, có ích với mọi người, với xã hội.

Trước khi kết thúc cuộc trò chuyện với chúng tôi, Văn Sơn đã nhắc đến câu nói của liệt sĩ Ðặng Thùy Trâm: "Phải phấn đấu để sống xứng đáng với phẩm chất của "một người cộng sản"... Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh thần trong suốt như pha-lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng...". Ðó như là một lời nhắn nhủ gửi đến bạn trẻ hiện nay, đã, đang và sẽ trở thành những đảng viên ưu tú của đất nước trong tương lai.

LÊ THÚY

www.nhandan.org.vn/




Quảng Ninh:

Công tác tư tưởng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững

13/11/2013



Xác định công tác tư tưởng có vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, trong nhiều năm qua, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh luôn coi trọng, gắn kết chặt chẽ công tác tư tưởng với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.... góp phần xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch vững mạnh, kinh tế - xã hội của tỉnh ngày càng phát triển.

Quảng Ninh là một địa bàn có vị trí địa chính trị, kinh tế, quân sự đặc biệt của vùng Đông Bắc Tổ quốc, không chỉ là “phên dậu” bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia mà còn là cửa ngõ quan trọng hướng ra thế giới. Với điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, Quảng Ninh được ví như “một nước Việt Nam thu nhỏ”, có đầy đủ các vùng sinh thái: rừng, biển, đồng bằng, trung du và miền núi với nhiều tiềm năng, thế mạnh nổi trội trong phát triển kinh tế tổng hợp toàn diện, hiện đại và khả năng hội nhập quốc tế sâu rộng. Với những đặc điểm ấy, Quảng Ninh luôn được đặt ở vị trí năng động, nhạy cảm trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Ý thức rõ điều đó, trong những năm qua, công tác tư tưởng luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng của toàn Đảng bộ. 

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, Đảng bộ Quảng Ninh đặc biệt quan tâm, chú trọng công tác nghiên cứu lý luận, vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của từng địa bàn, khu vực trong tỉnh; chú trọng tổng kết thực tiễn nhằm giải quyết tốt hai vấn đề căn bản của lý luận, đó là: giải quyết các đòi hỏi của thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân. Trong đó, tập trung giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc, những vấn đề cản trở sự phát triển, tạo nên tinh thần đoàn kết, thống nhất và dân chủ trong Đảng, sự đồng thuận của nhân dân trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Quán triệt các nghị quyết của Đảng, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chủ trương, chính sách thích hợp trong công tác tư tưởng. Qua các kỳ đại hội và hội nghị của Ban Chấp hành Đảng bộ các cấp, chủ trương của Đảng được cụ thể hoá bằng các nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ, các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân các cấp và các kế hoạch, giải pháp tổ chức thực hiện của các ngành, các địa phương trong tỉnh. Trong công tác tư tưởng, Tỉnh ủy luôn chú trọng tập trung giải quyết những vấn đề “nóng” do đòi hỏi của thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân đặt ra; kiên quyết không để “lây lan” các điểm nóng, nhất là ở những vùng có nhiều diễn biến phức tạp. 

Điểm nổi bật trong công tác tư tưởng luôn được các cấp ủy quan tâm, chú trọng, đó là phát hiện sớm và chỉ rõ những thách thức, mâu thuẫn cơ bản trong quá trình phát triển, tập trung giải quyết kịp thời những vướng mắc trong tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhờ đó, trong quá trình thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”, phấn đấu đến năm 2020, xây dựng Quảng Ninh trở thành một tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế, là một trong những đầu tàu kinh tế của miền Bắc và cả nước, cấp ủy các cấp trong tỉnh đã phát hiện và nhận thức rõ những mâu thuẫn và thách thức căn bản, như: (1) Thách thức giữa giải phóng tiềm năng đặc biệt, cơ hội nổi trội với một số thể chế, cơ chế, chính sách không phù hợp, đang cản trở sự phát triển, với nguồn lực có hạn cả về con người và vật chất; (2) Mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp (đặc biệt là khai thác than, sản xuất vật liệu xây dựng, nhiệt điện,... là những ngành tiêu phí nhiều tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường cao), đô thị hoá nhanh với phát triển các loại hình dịch vụ thương mại cùng trên một địa bàn có Vịnh, Di sản thế giới (Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Quảng Yên); (3) Thách thức đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng, nặng nề: vừa phải phát triển kinh tế nhanh, bền vững; vừa phải góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ một cách thường xuyên, trực tiếp ở một địa bàn tiền tiêu của Tổ quốc; (4) Thách thức về những vấn đề xã hội và tự nhiên, đó là phải giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển nhanh, bền vững với gia tăng khoảng cách giàu nghèo và biến đổi khí hậu.

Để giải quyết những thách thức nêu trên, trong những năm qua, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã tập trung xác định rõ nhiệm vụ, đề ra các giải pháp thực hiện có tính khả thi, tránh các biểu hiện hình thức, phô trương, lãng phí. Trong đó, giải pháp gắn công tác tư tưởng với phát triển kinh tế - xã hội được đưa lên hàng đầu và được coi là nhiệm quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Công tác tư tưởng được xác định không chỉ đi trước, đi cùng, đi sau các sự kiện phát triển kinh tế - xã hội mà còn là yếu tố tham gia tích cực vào cấu trúc các sản phẩm kinh tế - xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh về công tác tư tưởng, các cấp ủy đã tập trung vào một số nhiệm vụ quan trọng, đó là: 

- Thường xuyên tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác tư tưởng trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Qua đó, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc gắn kết công tác tư tưởng với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, để cùng tăng cường phối hợp các lực lượng trong hệ thống chính trị thực hiện quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế. Trong quá trình đó, Đảng bộ đã tập trung quán triệt sâu hơn các nghị quyết quan trọng của Trung ương, như Nghị quyết Trung ương 5 khoá X, Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và cụ thể hóa nội dung trong Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 13-7-2013 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh “về nhiệm vụ, giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên”. 

- Chú trọng tuyên truyền các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã được Ban Chấp hành Đảng bộ xác định, làm cho cán bộ, đảng viên và người dân thấm nhuần chủ trương của cấp ủy, tạo nên sự đồng thuận trong quần chúng nhân dân, nhất là các chủ trương về chuyển đổi mô hình tăng trưởng “xanh” gắn với thực hiện ba khâu đột phá chiến lược; chủ trương xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ…

- Gắn công tác tư tưởng với nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Trong đó, tập trung chỉ đạo các tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị xây dựng và ban hành các tiêu chí “học và làm theo Bác” gắn với việc khắc phục những mặt hạn chế, yếu kém; giải quyết những vấn đề bức xúc trong tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị và trong nhân dân; đẩy mạnh việc làm theo Bác bằng những việc làm thiết thực, cụ thể hàng ngày; đề cao vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

- Tăng cường cung cấp thông tin có định hướng của Đảng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở, nhất là về tình hình đất nước, những vấn đề lớn, nổi cộm, bức xúc của tỉnh mà cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm. Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, tham mưu cho cấp ủy các giải pháp chỉ đạo, giải quyết.

Nhờ những nỗ lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy các cấp, công tác tư tưởng của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có sự chuyển biến tích cực, giúp cho cấp ủy xác định ngày càng rõ hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Cán bộ, đảng viên được rèn luyện, thử thách trước những khó khăn, thách thức, giữ gìn đạo đức, tác phong, lối sống và nêu cao tinh thần trách nhiệm trong phục vụ nhân dân. Các vấn đề bức xúc của nhân dân liên quan đến các vấn đề như đền bù giải phóng mặt bằng, quản lý tài nguyên, khoáng sản, quản lý môi trường, đô thị, xây dựng cơ bản, khai thác, vận chuyển, kinh doanh than trái phép... từng bước được tháo gỡ. Những khuyết điểm, hạn chế của cán bộ, đảng viên và các cấp chính quyền được phát hiện qua quá trình kiểm điểm đã được chỉ đạo khắc phục, sửa chữa nghiêm túc. Những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật đều được xử lý theo đúng quy định của Đảng. Niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đã được cải thiện và nâng lên rõ rệt. 

Kết quả hoạt động của công tác tư tưởng đã góp phần huy động tối đa nguồn nội lực và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế, tạo nên nguồn lực tổng hợp tham gia phát triển kinh tế - xã hội trên hầu hết các địa bàn, vùng, miền của tỉnh. Công tác tư tưởng thực sự là một trong các động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, với những thành tựu nổi bật: 

Giai đoạn 1991 - 1995, tốc độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm đạt 11,3%. Từ 1996 - 2000, thời kỳ này do chịu sự tác động của khủng hoảng kinh tế ở khu vực, nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm bình quân đạt 9,6%. Giai đoạn 2001 - 2005: kinh tế liên tục tăng trưởng khá, tổng giá trị sản phẩm tăng trên 12,75%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng 12,1%/năm; dịch vụ tăng bình quân 14,6%/năm. Giai đoạn 2006 - 2010: tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 12,5 %. Thu nhập bình quân đầu người đạt 1.316 USD. Tổng vốn đầu tư 5 năm tăng 27,3%/năm. Nhiều công trình hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư; tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đô thị được mở rộng, diện mạo các đô thị ngày càng khang trang, sạch đẹp hơn. 

Từ năm 2011 đến nay: tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,1%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.264 USD (năm 2011), (cao hơn 1,65 lần so với bình quân cả nước); cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ (công nghiệp đạt 53,83%, dịch vụ 41,06%, nông nghiệp 5,11%). Tổng thu ngân sách đạt 29.100 tỷ đồng, đứng thứ 5 toàn quốc(1). Năm 2012, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 7,4%; thu nhập bình quân đầu người đạt 2.635USD; dịch vụ trong cơ cấu kinh tế chiếm 43,43%; thu hút vốn FDI đạt 411,9 triệu USD tăng 15 lần so với năm 2011(2). 

Sự phát triển liên tục với tốc độ khá cao trong nhiều năm đã góp phần khẳng định vị thế của tỉnh Quảng Ninh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Đó là kết quả kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa yêu cầu trước mắt với nhiệm vụ lâu dài, giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cấp, các ngành và triển khai đúng hướng, hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng. 

Sự tham gia trong công tác tư tưởng trong các hoạt động kinh tế - xã hội, cũng đã giúp cho cấp ủy nắm bắt kịp thời diễn biến của thực tiễn và những yêu cầu bức bách của nhân dân, từng bước điều chỉnh các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhất là giải quyết những mâu thuẫn, hạn chế đang còn tồn tại trong quá trình phát triển như: mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế vẫn còn bất hợp lý, phát triển chưa bền vững, chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và giá nhân công rẻ; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ và thiếu những công trình mang tính động lực (đường cao tốc, sân bay, đường sắt, các thiết chế văn hóa thể thao); phát triển công nghiệp và đô thị “nóng” để lại hậu quả môi trường nghiêm trọng. Hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm chưa cao, xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu thô, chưa qua chế biến; chỉ số ICOR cao; cơ chế thu hút mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực từ bên ngoài vào các khu kinh tế nói riêng và toàn tỉnh nói chung chưa đủ mạnh, có tính cạnh tranh ở cấp khu vực và quốc tế; quản lý nhà nước còn chồng chéo, đầu tư kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực chưa tương xứng; chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền còn lớn; trật tự an toàn xã hội còn có mặt chưa vững chắc; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng có nơi, có lúc còn hạn chế, yếu kém; cải cách hành chính hiệu quả chưa cao; cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chưa thực sự hiệu quả... 

Để khắc phục những mặt còn hạn chế, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ninh đề ra các chính sách ưu tiên về huy động nguồn lực, tạo cơ hội đầu tư, phát triển các vùng kinh tế động lực… thể hiện qua các đề án chiến lược như: “Phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững; đảm bảo vững chắc quốc phòng, an ninh và thí điểm xây dựng hai đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái”; “Xây dựng Khu hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn”. Nội dung các đề án tập trung rà soát, bổ sung nguồn lực, xây dựng quy hoạch chung; quy hoạch các địa phương, ngành, lĩnh vực; thông qua nhiệm vụ, công tác này thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, từ dựa vào cái “hữu hạn” là than và đất đai, sang cái “vô hạn” là khai thác tiềm năng thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi, các giá trị văn hoá vùng, miền sẵn có từ ngàn đời xưa để lại.

Trong nghiên cứu, xây dựng Đề án, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tổ chức nhiều hội thảo (trên 100 cuộc hội thảo) của cả hệ thống chính trị. Qua đó, đã có những công trình nghiên cứu mới, hình thành lý luận, định hướng, bổ sung vào đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Sản phẩm về lý luận đưa ra không chỉ là của Tỉnh ủy mà là của cả hệ thống chính trị được tổng kết, đúc rút từ thực tiễn ở Quảng Ninh, thực tiễn trong nước, khu vực và từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới.

Làm tốt công tác tư tưởng không chỉ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội mà còn giúp cho Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh xây dựng khối đoàn kết toàn dân, vững bước tiến lên trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững./.

----------------------------------------------------- 

(1) Báo cáo của Tỉnh uỷ Quảng Ninh về “kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2011, nhiệm vụ năm 2012” 

(2) Báo cáo số 144-BC/TU ngày 27-12-2012 của Tỉnh uỷ Quảng Ninh “kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012, phương hướng nhiệm vụ năm 2013”



Nguyễn Thị Kim Nhàn

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh

http://www.tapchicongsan.org.vn/





1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương