Ngoại giao Việt Nam 67 năm: Vươn tới những tầm cao mới



tải về 0.54 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu05.08.2016
Kích0.54 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7




"Ngoại giao Việt Nam 67 năm:

Vươn tới những tầm cao mới"



Nhân dịp kỷ niệm 67 năm Ngày thành lập ngành Ngoại giao (28/8/1945-28/8/2012), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh có bài viết “Ngoại giao Việt Nam 67 năm vươn tới những tầm cao mới.” TG&VN trân trọng giới bài viết này:

H


Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh

Ảnh: Quang Hòa/TG&VN


ướng tới kỷ niệm ngày thành lập Ngành 28 tháng 8, toàn thể cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại giao đang ra sức thi đua lập thành tích dâng lên Bác Hồ kính yêu, Người đã ký sắc lệnh thành lập Bộ Ngoại giao 67 năm trước. Đây cũng là dịp toàn ngành Ngoại giao nhìn lại những thành tựu đã đạt được sau hơn một năm tích cực triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XI.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, suốt 67 năm trưởng thành và phát triển, Ngoại giao Việt Nam luôn đồng hành cùng đất nước, góp phần quan trọng vào nhiều thắng lợi vẻ vang trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Ngoại giao đã in đậm dấu ấn của mình trên mọi chặng đường của đất nước, từ việc góp phần bảo vệ và giữ vững chính quyền Cách mạng sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đến việc phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Lịch sử dân tộc mãi ghi nhận những thành tựu vĩ đại trong công cuộc Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986. Với nhiệm vụ đưa đất nước bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh và bị bao vây cấm vận trong suốt một thời gian dài bước vào hòa nhập với thế giới, ngoại giao đóng vai trò đi đầu trong việc tạo dựng môi trường hòa bình và ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với quá trình đổi mới của đất nước, tư duy đối ngoại đã được thay đổi về căn bản, phản ánh yêu cầu phát triển của đất nước và phù hợp với các xu thế lớn của thời đại. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại với tinh thần "Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển", đã chắp cánh cho Ngoại giao Việt Nam bay cao và bay xa.

Ngày nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 180 trong 193 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc; có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Chúng ta đã có 98 cơ quan đại diện tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khắp 5 châu lục trên thế giới. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao dân tộc, chúng ta đã đảm nhiệm thành công cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009 và Chủ tịch ASEAN năm 2010. Thế và lực của đất nước ngày càng vững mạnh; vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao hơn bao giờ hết. Về vai trò của ngành Ngoại giao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá tại Hội nghị Ngoại giao 27: "Những thành công và thắng lợi to lớn của công cuộc Đổi mới là kết quả phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó có sự đóng góp rất quan trọng của các thế hệ cán bộ, Đảng viên, công chức ngành Ngoại giao với tư cách là cơ quan tham mưu và lực lượng tác chiến trực tiếp trên mặt trận đối ngoại. Ngành Ngoại giao đã góp phần to lớn vào thành tựu chung của công cuộc Đổi mới". Ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp đó, Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng ngành Ngoại giao những phần thưởng cao quý nhất: Huân chương Sao vàng (năm 1995) và Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2010).

Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra định hướng đối ngoại "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế". Bước phát triển mới, đầy quyết tâm của Đảng và Nhà nước đã đặt lên vai ngành Ngoại giao những nhiệm vụ mới hết sức nặng nề, nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Chúng ta không còn thụ động lựa chọn lĩnh vực hội nhập. Thế và lực mới của đất nước đã cho phép chúng ta bước những bước mạnh mẽ, dứt khoát hơn trên con đường hội nhập quốc tế một cách toàn diện trên cơ sở thực hiện nhất quán đường lối độc lập, tự chủ với quyết tâm đóng vai trò lớn hơn trong khu vực và trên thế giới. Với tinh thần đó, những nội hàm mới của đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XI như "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế", "xây dựng cộng đồng ASEAN", "là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế", "triển khai đồng bộ, toàn diện các hoạt động đối ngoại"… đã và đang từng ngày, từng giờ được Ngoại giao Việt Nam đưa vào cuộc sống.

Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, Ngoại giao Việt Nam cũng nhận thức rõ những cơ hội và thách thức đan xen trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều chuyển biến nhanh chóng, phức tạp và nhiều khi rất khó lường. Nhận diện, nắm bắt cơ hội và hóa giải thách thức, trong hơn một năm qua, toàn ngành đã chủ động, tích cực đẩy mạnh nền ngoại giao toàn diện và giành được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các trụ cột Ngoại giao chính trị, Ngoại giao kinh tế, Ngoại giao văn hóa và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ nhất, nền ngoại giao toàn diện, chủ động, tích cực được ưu tiên thúc đẩy qua việc triển khai nhiều hoạt động đối ngoại quan trọng, sôi động trên tất cả các lĩnh vực, từ song phương đến đa phương, trải rộng trên nhiều địa bàn, trong đó hướng ưu tiên là các nước láng giềng, khu vực và các đối tác lớn theo phương châm làm sâu sắc thêm quan hệ giữa Việt Nam và các nước. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã triển khai một loạt các chuyến thăm cấp cao tới các nước, từ các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương như Trung Quốc, Nga, các nước ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ cho đến các bạn bè, đối tác ở Châu Mỹ Latinh như Cuba; đồng thời chúng ta cũng đón các Nguyên thủ, người đứng đầu Chính phủ của rất nhiều nước bạn bè, đối tác đến thăm Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao tích cực đã mang lại những thành quả cụ thể: Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) Việt Nam - EU đã chính thức được ký ngày 27/6/2012, mở ra một giai đoạn mới cho quan hệ toàn diện Việt Nam - EU; quan hệ với Nga lại một lần nữa được nâng lên tầm cao mới "đối tác chiến lược toàn diện"; quan hệ đối tác chiến lược với Đức và quan hệ đối tác chiến lược trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, môi trường, năng lượng và tăng trưởng xanh với Đan Mạch được thiết lập trong năm 2011, nâng tổng số đối tác chiến lược của ta lên 10 nước. Chúng ta cũng đang tiếp tục triển khai quá trình nâng cấp quan hệ với một số đối tác ưu tiên, quan trọng khác.

Thứ hai, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với các ngành quốc phòng - an ninh, tuyên truyền - tư tưởng và các lực lượng đối ngoại khác tạo thành một khối vững chắc trên mặt trận bảo vệ chủ quyền biển đảo. Trong bối cảnh năm 2011 và 2012, tình hình Biển Đông có rất nhiều diễn biến không thuận lợi, ngoại giao đã tham mưu cho Lãnh đạo Đảng và Nhà nước và trực tiếp xử lý thỏa đáng các vấn đề phức tạp nảy sinh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích an ninh và phát triển của đất nước. Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển với Trung Quốc được ký tháng 10/2011 trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kịp thời tạo ra khuôn khổ quan trọng cho việc xử lý các biến động có thể nảy sinh. Đặc biệt, sau 10 năm ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), với sự đóng góp tích cực, chủ động của Việt Nam, ASEAN đã đạt được thỏa thuận với Trung Quốc về hướng dẫn thực hiện DOC, thống nhất trong nội bộ ASEAN về các thành tố cơ bản của Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), tạo cơ sở để đàm phán với Trung Quốc cùng các bên liên quan tăng cường hợp tác nhằm duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông.

Thứ ba, ngoại giao đã phát huy những đóng góp chủ động và tích cực của Việt Nam trong việc xây dựng Cộng đồng ASEAN, thúc đẩy đoàn kết và hợp tác nội khối, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình. Sau thành công rực rỡ trên cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam tiếp tục kề vai sát cánh cùng các nước Chủ tịch kế tiếp là Indonesia (năm 2011) và Campuchia (năm 2012) đưa ASEAN tiến về phía trước, hướng tới Cộng đồng. Trong năm 2011, Việt Nam đã tích cực ủng hộ những nỗ lực của nước Chủ tịch Indonesia trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh liên quan đến nội khối, kể cả những vấn đề liên quan đến công việc riêng của một số nước thành viên. Trong năm 2012, Việt Nam luôn phối hợp chặt chẽ với Campuchia trong việc thúc đẩy triển khai Kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước trong khu vực, tăng cường hợp tác nội khối. Lần đầu tiên sau 17 năm gia nhập ASEAN, Việt Nam đã đề cử Tổng thư ký ASEAN cho nhiệm kỳ 2013-2018. Chúng ta cũng nỗ lực thúc đẩy các hoạt động hội nhập quốc tế toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội..., ở mọi cấp độ tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và quốc tế. Với sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành, địa phương, ngoại giao đã và đang triển khai mạnh mẽ việc quán triệt sâu rộng, thống nhất nhận thức về đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội XI; tham mưu giúp Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 9/01/2012 về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

Thứ tư, ngoại giao kinh tế ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền ngoại giao toàn diện. Trong thời gian qua, ngoại giao kinh tế đã nâng cao chất lượng công tác thông tin, dự báo và tham mưu cho Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định và bảo đảm an sinh xã hội, và tái cấu trúc nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và thực hiện 3 khâu đột phá chiến lược. Đồng thời, ngoại giao đã tranh thủ tối đa hợp tác quốc tế và các nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển và khắc phục những khó khăn kinh tế - xã hội trong nước; tích cực hỗ trợ các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp xúc tiến xuất khẩu, đầu tư, du lịch, ODA, phối hợp với các ngành xử lý các tranh chấp kinh tế - thương mại quốc tế. Mặc dù kinh tế thế giới có nhiều biến động, quan hệ kinh tế - thương mại của Việt Nam với các đối tác hàng đầu như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Nga… đều tăng so với các năm trước. Sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 97,7%, bình quân tăng 19,52%/năm. Hiện nay, phát huy tinh thần chủ động, tích cực, chúng ta đã tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP); khởi động đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với một loạt các đối tác quan trọng như EU, Hàn Quốc, khối EFTA, Liên minh thuế quan Nga - Belarus - Kazakhstan.

Thứ năm, ngoại giao văn hóa đã góp phần nâng cao vị thế, phát huy "sức mạnh mềm" của đất nước, qua đó thắt chặt hơn nữa quan hệ của ta với các đối tác và tăng cường sự hiểu biết của thế giới về Việt Nam. Trong năm qua, ngoại giao văn hóa đã giành được nhiều thành quả đáng phấn khởi. Chúng ta đã vận động thành công UNESCO công nhận nhiều di sản của Việt Nam như thành Nhà Hồ, hát xoan, mộc bản Kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm… là di sản văn hóa thế giới. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân cũng được triển khai kịp thời, hiệu quả, góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ngư dân, lao động ta. Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị tiếp tục được thể chế hóa, tạo thuận lợi cho kiều bào ta ổn định cuộc sống, phát triển và hướng về quê hương đất nước.

Thấm nhuần lời dạy của Bác rằng "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", ngành Ngoại giao rất coi trọng việc đào tạo đội ngũ cán bộ ngoại giao chuyên nghiệp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và lợi ích quốc gia dân tộc, đồng thời có chuyên môn tốt, giỏi ngoại ngữ và có trình độ ngang tầm khu vực và dần tiệm cận trình độ quốc tế. Theo chỉ đạo và hướng dẫn của Trung ương, ngành Ngoại giao đã tổ chức quán triệt đến toàn bộ Đảng viên, công chức, viên chức và đang nghiêm túc triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Hướng tới dịp kỷ niệm 67 năm thành lập ngành, Bộ Ngoại giao đã lấy năm 2012 là "Năm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ để triển khai ngoại giao toàn diện và hội nhập quốc tế".

Giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước đặt ra những nhiệm vụ hết sức nặng nề cho ngành Ngoại giao, đó là tiếp tục củng cố môi trường hòa bình, ổn định phục vụ cho phát triển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao hơn nữa vị thế của đất nước ở khu vực và trên thế giới, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Ngành Ngoại giao Việt Nam phấn đấu hết mình thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại và định hướng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đại hội Đảng XI và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Ngoại giao Việt Nam sẽ nỗ lực triển khai mạnh mẽ và toàn diện các hoạt động đối ngoại cả song phương và đa phương, phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao với quốc phòng, an ninh và các lực lượng khác trong lực lượng đối ngoại bảo vệ chủ quyền biển đảo, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị.

Tiếp nối truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước trong suốt lịch sử 67 năm trưởng thành và phát triển, nhận thức rõ những nhiệm vụ nặng nề, nhưng rất vẻ vang mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, ngành Ngoại giao quyết tâm lập thêm nhiều thành tích xuất sắc hơn nữa, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, viết tiếp những trang sử hào hùng của nền Ngoại giao Việt Nam hiện đại.

Phạm Bình Minh

Ủy viên Trung ương Đảng,

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao



http://www.tgvn.com.vn/

Thế giới & Việt Nam




Vài nét về quá trình đàm phán

và ý nghĩa của Hiệp định Paris

N


Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Lễ ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973
hân kỷ niệm 40 năm ngày ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (27/1/1973-27/1/2013), Báo Thế giới &Việt Nam xin giới thiệu vài nét về quá trình đàm phán và ý nghĩa của Hiệp định.


Trước khi cuộc đàm phán bắt đầu, ngày 7/5/1968, ông Hà Văn Lâu, phó đoàn Đàm phán Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đã đến sân bay Orly, Paris để chuẩn bị cho đoàn chính thức. Đi cùng có ông Nguyễn Minh Vỹ, lúc đó là Tổng cục trưởng Tổng cục Thông tin được cử làm cố vấn cho đoàn (sau này ông Vỹ được phân công làm phó đoàn). Ngày 9 tháng 5 năm 1968, đoàn chính thức do Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đến sân bay Bourget, Paris. Trong những ngày đầu, đoàn ở tại khách sạn Lutétia nằm trên Đại lộ Raspail, trung tâm Paris. Sau đó nhờ có sự giúp đỡ của Lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, đoàn đã chuyển đến ở tại Trường đào tạo cán bộ Đảng của Trung ương Đảng cộng sản Pháp hay còn gọi là Trường Đảng Maurice Thorez, ở thị trấn Choisy-le-roi, ngoại ô Paris cho đến khi kết thúc cuộc đàm phán.

Hai giai đoạn của cuộc đàm phán

Cuộc đàm phán Paris diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam với 202 phiên họp công khai diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber từ ngày 13/5/1968 đến ngày 27/1/1973 và 36 phiên gặp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris. Cuộc đàm phán được chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất từ ngày 13/5/1968 đến hết tháng 10/1968 gồm 28 phiên họp công khai là cuộc đàm phán hai bên giữa đoàn đàm phán Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) do Bộ trưởng Xuân Thủy làm trưởng đoàn và đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị làm Cố vấn đặc biệt và đoàn đám phán Chính phủ Hoa Kỳ do Đại sứ Harriman làm trưởng đoàn. Ngoài ra, còn có 12 cuộc gặp riêng cấp cao và nhiều cuộc tiếp xúc hoặc gặp riêng ở các cấp khác. Giai đoạn này chủ yếu bàn về việc Hoa Kỳ phải chấm dứt ném bom hoàn toàn và không điều kiện miền Bắc.

Giai đoạn thứ hai từ ngày 25/1/1969 đến ngày 27/1/1973 là cuộc đàm phán 4 bên. Phiên khai mạc diễn ra ngày 25/1/1969 gồm các đoàn đàm phán Chính phủ VNDCCH do Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm làm Trưởng đoàn, đoàn Chính phủ Hoa Kỳ do Đại sứ Cabot Lodge làm Trưởng đoàn và đoàn Chính quyền Sài Gòn do Đại sứ Phạm Đăng Lâm làm Trưởng đoàn. Đến ngày 10/6/1969, đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chuyển thành đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn. Giai đoạn này có 174 phiên họp công khai và 24 đợt đàm phán bí mật cấp cao do hai cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger trực tiếp thương thuyết.

Đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất trong giai đoạn hai diễn ra trong tháng 10 năm 1972 khi đoàn VNDCCH đưa ra Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”. Sau 12 ngày đàm phán, ngày 20/10/1972, hai bên đã hoàn thành cơ bản dự thảo văn bản Hiệp định và nhất trí sẽ ký chính thức vào ngày 31/10/1972. Tuy nhiên, sau đó Chính quyền Nixon đã lật lọng, ngừng đàm phán, triển khai chiến dịch Linebacker II dùng B52 tấn công Hà Nội và nhiều thành phố lớn tại miền Bắc Việt Nam, dùng thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng. Sau thất bại của không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc, hai bên đã quay trở lại đàm phán và đợt gặp riêng cuối cùng diễn ra từ ngày 6 đến 13/1/1973. Ngày 13/1/1973 các bên thông qua lần cuối dự thảo văn bản hiệp định và các nghị định thư. Ngày 23/1/1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, đại diện VNDCCH và Cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ Henry Kissinger, đã ký tắt Hiệp định.

Ngày 27/1/1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, Bộ trưởng Ngoại giao 4 bên dự Hội nghị Paris là Nguyễn Duy Trinh, đại diện cho VNDCCH, Nguyễn Thị Bình, đại diện cho CMLTCHMNVN, Williams Rogers, đại diện cho Hoa Kỳ và Trần Văn Lắm, đại diện cho VNCH đã chính thức ký Hiệp định Paris và các Nghị định thư liên quan.

Hiệp định Paris là một tổng thể bao gồm Hiệp định, 4 Nghị định thư, 8 bản Hiểu biết (Understanding), Định ước quốc tế, Tuyên bố chung và các văn thư trao đổi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ

Ý nghĩa của Hiệp định

Theo ông Nguyễn Cơ Thạch, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn chuyên viên tại Hội nghị Paris về Việt Nam

“Hiệp định Paris 1973 có ý nghĩa rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Việc thực hiện Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam tháng Tư 1975 và công cuộc thống nhất đất nước.

Hiệp định Paris đã:

-Ghi nhận cam kết của Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

-Quy định việc Mỹ rút hết quân khỏi Việt Nam và Đông Dương trong khi quân đội của miền Bắc Việt Nam tiếp tục ở lại miền Nam Việt Nam.

-Công nhận ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, có hai lực lượng vũ trang đối lập kiểm soát hai vùng lãnh thổ khác nhau ở miền Nam Việt Nam.

Việc thi hành Hiệp định Paris 1973 làm thay đổi so sánh lực lượng ở miền Nam Việt Nam có lợi cho cách mạng, củng cố lực lượng của cách mạng, làm cho chính quyền thân Mỹ ở miền Nam mất chỗ dựa, suy yếu về chính trị vì trên thực tế, Mỹ không còn công nhận ngụy quyền là chính quyền duy nhất đại diện cho Nam Việt Nam”.

Bộ Ngoại giao, Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia -2004 tr 398-399.



Con số 13 là con số người châu Âu thường kiêng kỵ nhưng nó lại có những dấu ấn đặc biệt đối với Hội nghị Paris:

- Chính Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa III) tháng Giêng năm 1967 đã đề ra kế sách “vừa đánh vừa đàm”

- Hội nghị khai mạc ngày 13/5/1968

- Dự thảo Hiệp định được hoàn tất ngày 13/1/1973

http://www.tgvn.com.vn/

Thế giới & Việt Nam



KÝ HIỆP ĐỊNH PARI CHẤM DỨT CHIẾN TRANH, LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM

 Báo nhân dân số ra ngày chủ nhật 28-1-1973 đã in trên trang nhất những dòng chữ to, nét đậm, in hai màu đỏ và đen nổi bật:

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Hiệp định Pa-ri đã được ký chính thức.

Từ 7 giờ sáng nay, chiến tranh chấm dứt ở cả hai miền nước ta.

Thế là "Chính nghĩa đã thắng phi nghĩa! ý chí bất khuất đã thắng bạo tàn! Việc đạt một Hiệp định như vậy là một thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam" - như tuyên bố của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại cuộc họp báo lớn vào chiều ngày 24-1-1973 ở thủ đô Pa-ri.

Trong những ngày tháng Giêng năm bảy mươi ba đó, tất cả các báo chí, các đài phát thanh và vô tuyến truyền hình ở Pa-ri cũng như ở trên thế giới đều liên tiếp đưa tin về Hội nghị Pa-ri và bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Trung tâm các hội nghị quốc tế ở đại lộ Clê-be đã trở thành trung tâm thu hút sự chú ý của dư luận toàn thế giới.

Những ngày lịch sử nối tiếp nhau dồn dập.

Ngày 22-1-1973, các chuyên viên của Việt Nam và Hoa Kỳ so lại lần cuối củng các văn kiện đã thỏa thuận xong giữa hai bên.

Ngày 23-1-1973, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Paris) Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký tắt giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ.

Ngày 27-1-1973, đúng 11 giờ (giờ Paris) Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký chính thức giữa các bộ trưởng ngoại giao của các bên.

Cùng ngày, bốn Nghị định thư của Hiệp định cũng đã được ký kết.

Như thế là sau 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trân bàn thương lượng đã giành được thắng lợi. Tập văn bản Hiệp định và Nghị định thư bằng hai thứ tiếng Việt và Anh đã được thỏa thuận xong. Buổi lễ ký kết đã diễn ra trong khung cảnh tranh nghiêm tại phòng họp lớn của trung tâm các hội nghị quốc tế Clê-be. ở bên ngoài, dọc đại lộ Clê-be, hàng ngàn đại biểu Việt kiều và nhân dân Pháp đã nồng nhiệt vỗ tay, vẫy cờ đỏ sao vàng và cờ xanh đỏ có sao vàng ở giữa, hô khẩu hiệu chào mừng các đại biểu Việt Nam chiến thắng.

Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương vừa ký còn chưa ráo mực, đế quốc Mỹ đã nhảy vào, nhanh chóng hất cẳng thực dân Pháp và âm mưu biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Từ đó, nhân dân ta đã phải đương đầu chống lại tên đế quốc đầu sỏ, giàu mạnh nhất trong phe đế quốc chủ nghĩa, đã lần lượt đánh bại mọi chiến lược chiến tranh cực kỳ tàn bạo và xảo quyệt của kẻ thù - chiến lược thống trị miền Nam bằng những thủ đoạn điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu mới, chiến lược chiến tranh "đặc biệt" chiến lược "chiến tranh cục bộ" và chiến lược chiến tranh "Việt Nam hóa".

Năm 1968, sau những thất bại nặng nề của chiến lược chiến tranh cục bộ và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, ngày 31-3-1968, tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố ném bom hạn chế từ vĩ tuyến 20 trở vào; ngày 1-11, Mỹ phải chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc. Vì vậy, từ ngày 13-5-1968 ta đồng ý ngồi nói chuyện với Mỹ ở Pa-ri. Sau đó, khi Mỹ đã phải chấp nhận đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng (từ 6-1969 là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), hội nghị bốn bên đã được bắt đầu tư ngày 18-1-1969. Những cuộc thương lượng đã kéo dài với cuộc đấu tranh hết sức gay go phức tạp, do phía Mỹ luôn luôn theo đuổi chính sách "đàm phán trên thế mạnh", đòi ta phải chấp nhận những điều kiện do Mỹ đặt ra. Năm 1969, sau khi lên cầm quyền, Ních-xơn đã thi hành chiến lược chiến tranh "Việt Nam hóa", mở rộng và đẩy mạnh cuộc chiến tranh lên tới mức ác liệt nhất, hòng cứu vãn tình thế nguy ngập của Mỹ và tay sai. Nhưng Mỹ vẫn thất bại và bọn tay sai ngày càng suy sụp nghiêm trọng.

Tháng 10-1972, Mỹ đã phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, do ta chủ động đưa ra. Ngày 22-10-1972, văn bản Hiệp định đã được hoàn thành giữa ta và Mỹ. Nhưng, ngày ngày hôm sau, Mỹ lại tráo trở, lật lọng. Đầu tháng 12-1972, Mỹ lại ngang ngược đòi sửa đổi nhiều điểm quan trọng trong nội dung Hiệp định, đồng thời tính toán bước leo thang mới, hòng gây áp lực đối với ta trên bàn thương lượng.

Cuối tháng 12-1972, Ních-xơn tàn bạo và tráo trở đã huy động một lực lượng lớn không quân chiến lược và chiến thuật mở cuộc tập kích đánh phá có tính chất hủy diệt dã man thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng và nhiều địa phương khác trên miền Bắc. Trong mười hai ngày đêm đọ sức quyết liệt của trận "Điện Biên Phủ trên không" ấy, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 chiếc B.52 và 5 chiếc F.111 - những con chủ bài cuối cùng của Mỹ.

Trước những thất bại hết sức nặng nề trong cuộc tập kích chiến lược ấy, bị lên án và cô lập hơn bao giờ hết về chính trị trên thế giới và ngay cả trong nước Mỹ, tập đoàn Ních-xơn đã phải từ bỏ thái độ "thương lượng trên thế mạnh", cuối cùng phải ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam vào ngày 27-1-1973.

Hiệp định nêu rõ: Hoa Kỳ và các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

Hoa Kỳ phải hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. Rút hết quân đội của Mỹ và của các nước khác, cố vấn và nhân viên quân sự, vũ khí và dụng cụ chiến tranh, hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự.

Tôn trọng quyền tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ.

Không bao lâu sau Hội nghị Pari, từ ngày 27-2 đến 2-3-1973, cũng tại trung tâm các hội nghị quốc tế đại lộ Clê-be đã tiến hành Hội nghị quốc tế về Việt Nam. Với sự tham gia của các vị bộ trưởng ngoại giao thay mặt 12 chính phủ (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Hungari, Pháp, Hoa Kỳ, Anh...) và với sự có mặt của ông Tổng thư ký Liên hợp quốc, Hội nghị đã chính thức ký "Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam". Bản Định ước trịnh trọng ghi nhận, tuyên bố tán thành và ủng hộ Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ký ngày 27-1-1973 và bốn Nghị định thư kèm theo, khẳng định rằng hiệp định và các Nghị định thư phải được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh: công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Paris được ký ngày 27-1-1973 là thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam anh hùng sau 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, nhất là sau hơn 18 năm kiên trì chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, vượt qua muôn vàn hy sinh gian khổ và ghi lại những trang rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Đó là thắng lợi vĩ đại của tinh thần "không có gì quí hơn độc lập tự do" của sức mạnh đoàn kết dân tộc trong cả nước, từ Bắc chí Nam. Là thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa Mác - Lê-ninbách chiến bách thắng, của đường lối chính trị, quân sự và ngoại giao đứng đắn, sáng tạo của Đảng ta.

Đó cũng là thắng lợi vẻ vang của nhân dân ba nước Đông Dương - những người bạn chiến đấu cùng chiến hào chống kẻ thù chung.

Đó cũng là thắng lợi có ý nghĩa thời đại của phong trào cách mạng thế giới, của các lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình, của nhân dân yêu chuộng tự do, công lý trên toàn thế giới.

Với việc ký kết Hiệp định Paris, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã phải chấp nhận những thất bại hết sức nặng nề, nhưng chúng vẫn chưa chịu từ bỏ những âm mưu duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới đối với miền Nam nước ta. Ngay từ khi Hiệp định Paris vừa được ký kết, Mỹ - ngụy đã liên tiếp vi phạm, phá hoại trắng trợn các điều khoản chủ yếu của bản Hiệp định. Chúng đã tiếp tục tiến hành cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới trên qui mô lớn bằng các kế hoạch cực kỳ tàn bạo. Đế quốc Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự cho ngụy quyền tay sai, vẫn duy trì bộ máy chỉ huy chiến tranh với hàng vạn cố vấn và nhân viên quân sự Mỹ đội lốt dân sự. Chúng ôm ấp hy vọng chỉ ba năm sau đó, đến năm 1976, sẽ có thể ung dung xây dựng và củng cố chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam và thực hiện chia cắt lâu dài đất nước ta.

Rõ ràng nhân dân ta không có cách nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng của chúng. Để bảo vệ và thi hành Hiệp định Paris, quân và dân ta đã trừng trị đích đáng mọi hành động phá hoại đầy tội ác của chúng, không những ở các nơi chúng lấn chiếm mà còn ở tất cả các căn cứ xuất phát của chúng.

Thắng lợi vĩ đại, trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy long trời lở đất vào mùa Xuân năm 1975 của quân dân ta đã đập tan mọi hành động phá hoại của Mỹ - ngụy, lật đổ toàn bộ chế độ kìm kẹp thực dân kiểu mới của chúng, và đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử 4000 năm của dân tộc.



http://www.lichsuvietnam.vn/



Hội nghị Pari về Việt Nam, cuộc đàm phán hòa bình gay go nhất thế kỷ XX

Hội nghị Pari về Việt Nam là cuộc đấu tranh ngoại giao của nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở Thủ đô nước Pháp bắt đầu từ ngày 13-5-1968 và kết thúc vào ngày 27-1-1973.

T


Phiên họp đầu tiên của "Hội nghị Pari về Việt Nam (1969)".



Lễ ký chính thức "Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" (27-1-1973).



Quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nan(1973).

rong gần 5 năm, khoảng thời gian dài chưa từng thấy của lịch sử đàm phán, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam, cuộc đấu tranh ngoại giao của nhân dân Việt Nam ở Pari đã thực sự góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Khác với Hội nghị quốc tế Giơnevơ về Đông Dương năm 1954, Hội nghị Pari là một cuộc đàm phán tay đôi do Việt Nam thắng lớn và chủ động đề xướng. Còn Mỹ, bị thất bại nặng nề buộc không thể không chấp nhận thương lượng để tìm một lối thoát danh dự. Mỹ phải coi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một bên đối thoại trực tiếp và bình đẳng để giải quyết mọi vấn đề của cuộc chiến tranh Việt Nam. Cuộc đàm phán Pari mở ra cục diện“vừa đánh, vừa đàm”, phản ánh một giai đoạn chiến đấu cực kỳ gay go, quyết liệt giữa Việt Nam và Mỹ. Đây cũng là đỉnh cao của sự kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng cả 3 mặt trận, quân sự, chính trị và ngoại giao; giữa cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Nam trên chiến trường với cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán và trên trường quốc tế.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân Việt Nam ở miền Nam, ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 và cử người đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pari.

N


Ngày 25-8-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thư của Tổng thống Mỹ Níchxơn. Người nêu rõ: Muốn có hoà bình, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và của dân tộc Việt Nam. Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự.
gày 3-4-1968, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố: Sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ nhằm xác định với Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện.

Ngày 13-5-1968, Hội nghị Pari giữa 2 bên khai mạc. Do lập trường cương quyết của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mỹ buộc phải ngồi nói chuyện chính thức với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và từ tháng 6-1969 là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Ngày 18-1-1969, phiên họp đầu tiên của Hội nghị Pari về Việt Nam khai mạc tại phòng họp của trung tâm Hội nghị quốc tế ở Pari. Bốn đoàn đại biểu của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bàn việc chuẩn bị cho phiên họp toàn thể lần thứ nhất.

Ngày 25-1-1969, khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ nhất của Hội nghị bốn bên về Việt Nam ở Pari.

Trong quá trình đàm phán, ngày 8-5-1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đưa ra giải pháp hoà bình Mười điểm. Ngày 14-5-1969, phía Mỹ đưa ra đề nghị Tám điểm.

Ngày 8-6-1969, Tổng thống Mỹ Níchxơn tuyên bố rút quân đợt đầu tiên gồm 25 nghìn quân ra khỏi miền Nam Việt Nam.

 Ngày 10-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã quyết định đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pari về Việt Nam nay trở thành đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pari về Việt Nam, do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, làm Trưởng đoàn.

Ngày 4-8-1969, tiến sĩ Kítxinhgiơ, cố vấn an ninh quốc gia của Nhà trắng bí mật gặp Bộ trưởng Xuân Thủy lần đầu ở Pari.

Ngày 21-2-1970, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy gặp Kítxinhgiơ. Từ đó bắt đầu cuộc gặp riêng giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kítxinhgiơ.

Tháng 3-1970, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị, ngoại giao, đòi thành lập Chính phủ liên hiệp ở miền Nam Việt Nam.

Ngày 17-9-1970, tại phiên họp toàn thể lần thứ 84 Hội nghị Pari về Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã đưa ra đề nghị Tám điểm - nói rõ thêm về một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, trong đó có việc rút quân Mỹ và thả tù binh cùng một thời hạn và vấn đề thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ở miền Nam Việt Nam.

Ngày 18-10-1970, Tổng thống Níchxơn đưa ra đề nghị Năm điểm mà không đòi quân đội miền Bắc rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Ngày 10-12-1970, trong phiên họp toàn thể lần thứ 94 Hội nghị Pari về Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã đưa ra đề nghị Ba điểm về ngừng bắn, đòi quân Mỹ rút khỏi miền Nam vào ngày 30-6-1971.

Ngày 31-5-1971, tại cuộc họp riêng giữa Bộ trưởng Xuân Thủy và Kítxinhgiơ ở Pari, phía Mỹ đưa ra đề nghị “cuối cùng” Bẩy điểm. Đây là lần đầu tiên Mỹ đưa ra giải pháp toàn Đông Dương, nhưng họ lại tách vấn đề quân sự và vấn đề chính trị, mặc dù trước đây họ nhận sẽ bàn cả gói.

Ngày 26-6-1971, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra đề nghị Chín điểm. Tiếp đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đưa ra giải pháp Bẩy điểm, đòi quân Mỹ rút khỏi miền Nam trong năm 1971.

Ngày 16-8-1971, phía Mỹ đưa ra đề nghị Tám điểm. Về cơ bản Mỹ vấn giữ lập trường cũ: Không muốn giải quyết toàn bộ vấn đề mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự, lấy được tù binh. Cuộc đàm phán Pari diễn ra hơn 3 năm vẫn bế tắc.

Ngày 25-1-1972, Tổng thống Mỹ Níchxơn đơn phương công bố nội dung các cuộc gặp riêng về đề nghị Tám điểm đưa ra ngày 16-8-1971.

Ngày 31-1-1972, tại Pari, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công bố giải pháp Chín điểm, đồng thời vạch rõ sự tráo trở của Nhà trắng đã vi phạm thoả thuận hai bên không công bố nội dung các cuộc gặp riêng theo đề nghị của chính Kítxinhgiơ. Việt Nam cũng đã phân phát cho tất cả các báo những công hàm trao đổi giữa hai bên về cuộc họp ngày 20-10-1971.

Ngày 2-2-1972, tại Hội nghị bốn bên, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã nói rõ thêm hai vấn đề then chốt trong lập trường Bẩy điểm đã đưa ra ngày 1-7-1971 của Chính phủ Cách mạng lâm thời.

Ngày 24-3-1972, Tổng thống Níchxơn tuyên bố hoãn vô thời hạn các phiên họp công khai Hội nghị Pari về Việt Nam. Tiếp đó, ngày 8-5-1972, chưa đầy một tuần sau phiên gặp riêng giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ và Kítxinhgiơ, Níchxơn tuyên bố tiến hành một bước leo thang mới mở rộng quy mô đánh phá miền Bắc kể cả bằng lực lượng không quân chiến lược, thả mìn cảng Hải Phòng cùng các cửa sông, lạch, trên vùng biển phong toả miền Bắc Việt Nam.

Ngày 13-7-1972, Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên tại Pari.

Ngày 8-10-1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ động đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam”.

Ngày 22-10-1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ đã hoàn thành văn bản Hiệp định, nhưng ngay sau đó, ngày 23-10-1972, Mỹ lại nêu lên những trở ngại để trì hoãn việc ký kết Hiệp định, đồng thời Mỹ lập cầu hàng không“Enhance Plus” tiếp tế ồ ạt cho ngụy quyền Sài Gòn.

Ngày 26-10-1972, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công bố những thoả thuận đã đạt được, đồng thời vạch trần thái độ lật lọng, ngoan cố của Níchxơn.

Ngày 2-11-1972, Tổng thống Níchxơn ra lệnh cho máy bay B.52 tiến công phía Bắc khu phi quân sự.

Tiếp đó ngày 20-11-1972, thương lượng lại, Mỹ đòi sửa đổi hầu hết các vấn đề thực chất trong các chương theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn, đồng thời tính toán bước leo thang chiến tranh mới chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày 18-12-1972, Tổng thống Níchxơn ra lệnh cho B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng mở đầu“cuộc hành quân Linebaker II” kéo dài 12 ngày đêm, đồng thời Mỹ gửi công hàm cho Việt Nam yêu cầu họp lại.

Sau thất bại của Mỹ trong đợt tập kích bằng không quân chiến lược, ngày 8-1-1973, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao đã ngã ngũ, phần thắng nghiêng về phía Việt Nam. Mỹ phải bỏ thái độ“thương lượng trên thế mạnh”.



Ngày 23-1-1973, ký tắt Hiệp định Pari.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở
Việt Nam đã được chính thức ký kết tại trung tâm các Hội nghị quốc tế ở Pari giữa bốn bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam
.

Bản Hiệp định Pari về Việt Nam gồm 9 chương, 23 điều. Nội dung chủ yếu của Hiệp định là: Hoa Kỳ cùng các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Hoa Kỳ hoàn toàn chấm dứt chiến tranh xâm lược, chấm dứt sự dính líu về quân sự và can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết và bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua Tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ. Việc thống nhất nước Việt Nam được thực hiện bằng phương pháp hòa bình.



Ngày 28-1-1973, ngừng bắn trên toàn miền Nam.

Ngày 31-1-1973, Tổng thống Nichxơn gửi công hàm cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc Hoa Kỳ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam.

Ngày 2-3-1973, ký Định ước Pari về Việt Nam.

Ngày 29-3-1973, người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi miền Nam Việt Nam.

http://chinhphu.vn

Cổng TTĐT Chính phủ CHXHCN Việt Nam


Trận “Điện Biên Phủ trên không”

và cuộc đàm phán Pa-ri

Thứ Sáu, 28/12/2012



C

Nụ cười chiến thắng của cố vấn Lê Đức Thọ (người đứng giữa) tại buổi họp báo quốc tế ngày 24-1-1973 ở Pa-ri. Ảnh Tư liệu

uộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta diễn ra trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.

Do đánh thắng trên chiến trường, ta đã buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán. Trong hơn bốn năm đàm phán tại Pa-ri, ta quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Sau hàng loạt cuộc đàm phán mật giữa đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy với Kít-xinh-gơ, ngày 20-10-1972 một hiệp định cho việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được thỏa thuận giữa Hà Nội và Oa-sinh-tơn. Dự thảo Hiệp định này đáp ứng được những đòi hỏi cơ bản của ta. Nhưng sau khi giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 7-11-1972, ông Ních-xơn giở trò lật lọng. Trong hai đợt đàm phán tiếp theo vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12, do phía Mỹ đưa ra quá nhiều điều sửa đổi và đáp lại ta cũng đòi sửa đổi một số điều, đàm phán diễn ra hết sức căng thẳng. Cố vấn Lê Đức Thọ thẳng thừng nêu ý kiến: "Một là, hai bên rút hết mọi đề nghị sửa đổi và trở lại Hiệp định đã thỏa thuận. Nếu sửa thì chỉ sửa một số chi tiết không thuộc thực chất và nguyên tắc. Hai là, hai bên đều sửa đổi, bên này sửa lớn, bên kia cũng sửa lớn, bên này sửa nhỏ, bên kia cũng sửa nhỏ, cứ thế sửa đi sửa lại mãi mà không thể hoàn thành được. Trong hai cách đó, phía Mỹ chọn cách nào chúng tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ Hiệp định".

Đến ngày 12-12-1972, nhiều vấn đề tồn tại đã dần được giải quyết. Chỉ còn lại một vấn đề, chủ yếu có liên quan đến khu phi quân sự và thể thức kí Hiệp định. Ngày 13-12, hai bên đồng ý tạm ngừng đàm phán để về xin chỉ thị Chính phủ mình. Ngày 15-12, đồng chí Lê Đức Thọ lên đường về nước qua Mát-xcơ-va và Bắc Kinh.

Tuy vậy, ngày 16-12, Kít-xinh-gơ đột nhiên họp báo và đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài đàm phán. Ngày 18-12, trong khi đồng chí Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về đến nhà thì máy bay chiến lược B52 của Mỹ đã ầm ầm dội bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác.

Phía Mỹ gọi đó là cuộc tập kích chiến lược, mà mục tiêu trực tiếp như Ních-xơn nói: "Dùng đòn đánh mạnh nhất để thúc đẩy thương lượng". Kít-xinh-gơ cũng nói: "Tung con át chủ bài cuối cùng, nếu không thành công thì ván bài sẽ trắng tay”. Thất bại của Mỹ và thắng lợi của ta như thế nào, Việt Nam biết và thế giới đã biết.

Báo chí Mỹ hồi đó viết: "Hàng triệu người Mỹ cúi đầu vì xấu hổ và nghi ngờ sức khỏe tinh thần của Tổng thống". Và rằng: "Đây là một hành động khủng bố vô đạo làm hoen ố uy danh nước Mỹ”. Rằng, các cuộc ném bom này là "Kiểu chiến tranh nổi khùng, Tổng thống là một "bạo chúa lên cơn điên". Trong tập hồi kí sau này Kít-xinh-gơ cũng thú nhận: "Không có một sự kiện nào trong chính sách đối ngoại của nhiệm kì Tổng thống Ních-xơn lại gây ra sự phẫn nộ cao như cuộc ném bom Nô-en".

Giữa chừng cuộc ném bom, Mỹ gửi công hàm đề nghị ta nối lại đàm phán, chúng chắc mẩm rằng "đòn sấm sét Nô-en" sẽ buộc ta phải chấp nhận những gì Mỹ đòi. Ta trả lời, đàm phán chỉ có thể chừng nào Mỹ trở lại tình hình trước ngày 18-12, tức là ngừng ném bom vô điều kiện. Ngày 30-12, cuộc ném bom hoàn toàn chấm dứt.

Ngày 8-1-1973, đàm phán Pa-ri nối lại.

Ngày 6-1, đồng chí Lê Đức Thọ tới Pa-ri. Người ta ví von: Năm 1968, Bộ trưởng Xuân Thủy đến phi trường Đờ Gôn trong vòng nguyệt quế của tết Mậu Thân. Năm 1973, cố vấn Lê Đức Thọ tới trong hào quang của trận ‘Điện Biên Phủ trên không”.

Tại cuộc gặp ngày 8-1-1973 ấy, đồng chí Lê Đức Thọ là người nổ phát súng đầu tiên, phê phán mạnh mẽ thái độ lật lọng của Mỹ, lên án cuộc ném bom tàn bạo 12 ngày đêm. Đồng chí nói: "Các ông tưởng rằng hành động của các ông có thể khuất phục được chúng tôi, nhưng các ông nhầm. Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn và làm cho danh dự nước Mỹ hoen ố!".

Kít-xinh-gơ bị đặt trong thế phải chống đỡ. Ông ta thanh minh và nói hi vọng việc kết thúc cuộc đàm phán này sẽ đem lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương. Sau này, trong Hồi kí của mình, Kít-xinh-gơ có kể lại lời Ních-xơn trong cuộc gặp với ông ta tại trại Đa-vít trước khi ông ta trở lại Pa-ri: "Ních-xơn nhấn mạnh để tôi phải chấp nhận một giải pháp dù điều kiện do đối phương nêu ra như thế nào đi nữa. Tổng thống còn nói ông ta sẵn sàng chấp nhận những điều khoản của văn bản Hiệp định tháng 10-1972".

Rõ ràng là, nếu không bị đòn chết điếng trong dịp lễ Giáng sinh thì cái đầu nóng của Ních-xơn không dễ gì nguội lạnh nhanh như vậy. “Pháo đài bay” của Mỹ không lật được thế cờ.

24 ngày sau chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không", ngày 23-1-1973, cố vấn Lê Đức Thọ, đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cố vấn Kít-xinh-gơ, đại diện cho Hoa Kỳ, đã kí tắt bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Ngày 27-1-1973, bốn bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn đã kí chính thức bản Hiệp định đó.

Nội dung Hiệp định chính thức không khác gì mấy so với văn bản Hiệp định tháng 10-1972. Vẫn là Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Hoa Kỳ cam kết rút toàn bộ quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam trong thời hạn 60 ngày; tất cả tù binh Mỹ bị bắt sẽ được trao trả cùng với thời hạn Mỹ rút quân, trong khi đó, quân đội miền Bắc vẫn ở lại. Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam được tôn trọng. Ở miền Nam, cùng tồn tại hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát (của chính quyền Sài Gòn và của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam). Ông Nê-grô-pôn, một chuyên viên của Kít-xinh-gơ cay đắng nói với bạn bè: "Chúng ta ném bom Bắc Việt Nam để rồi chúng ta chấp nhận nhượng bộ".

Hiệp định Pa-ri là kết quả thắng lợi cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân ta trong suốt 18 năm nếu kể từ năm 1955 và là kết quả trực tiếp của chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không". Với Hiệp định Pa-ri, nhân dân ta khép lại giai đoạn "đánh cho Mỹ cút" và mở ra giai đoạn "đánh cho ngụy nhào", tiến lên làm nên một Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Hà Đăng

Cựu Ủy viên TW Đảng,



Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương.

http://nguoicaotuoi.org.vn

Báo Người cao tuổi




: upload -> download
download -> Hà Nội Điện Biên Phủ trên không
download -> Nq-qh11 Tiêu đề: nghị quyết số 45/2005/nq-qh11 CỦa quốc hội về việc thi hành bộ luật dân sự
download -> CÔng ty cổ phầN ĐẦu tư dna cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
download -> Biểu tượng của khí phách kiên cường và sức mạnh sáng tạo
download -> Chuẩn nén hình ảnh là gì?
download -> TÀi liệu hưỚng dẫn sử DỤng và CÀI ĐẶt lập trình tổng đÀI ĐIỆn thoại ike ike 308 ac ike 416 hc ike 832 vc ike 816 bc
download -> Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, nâng lên tầm cao mới tư tưởng độc lập tự chủ, hòa bình và hội nhập thế giới một truyền thống lâu đời của chính trị Việt Nam
download -> Bảng Giá Bán Lẻ Dây & Cáp Điện Số: 01/09. 09. 2014/lkh-r


  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương