MỤc lục danh mục bảng V danh mục hình VII danh mục bảN ĐỒ VIII


Tình hình sản xuất và các hoạt động có liên quan đến NTTS



tải về 3.31 Mb.
trang9/40
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích3.31 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   40

Tình hình sản xuất và các hoạt động có liên quan đến NTTS


  1. Tình hình sản xuất và cung ứng giống

Năm 2010, trên địa bàn tỉnh Bến Tre có 72 cơ sở sản xuất giống, trong đó, tôm sú 53 trại, TCT 3 trại, tôm càng xanh 11 trại; cá nước ngọt 5 trại (có 2 trại sản xuất giống cá tra).

Nhu cầu về con giống tôm sú tăng mạnh trong giai đoạn từ năm 2003 – 2010, từ 895,3 triệu con (2003) tăng lên 2.226 triệu con (2010), tăng bình quân 27 %/năm. Sản lượng giống tôm sú tại chỗ ngày càng đáp ứng đáng kể cho địa phương, giảm dần lượng tôm giống nhập tỉnh từ 96,5% (2003) xuống còn 57,3% (2010). Đây là thể hiện sự quan tâm đầu tư của các cấp ngành địa phương với công tác giống thủy sản.

Công suất của một số trại sản xuất giống chủ lực năm 2010: tôm sú trung bình 17 triệu con/trại, tôm càng xanh 2,5 triệu con/trại, cá nước ngọt 14 triệu con/trại. Hệ thống trại sản xuất giống bao gồm: bể chứa (lắng), bể lọc, bể ương nuôi, hệ thống thoát nước thải; bể ương làm bằng xi măng hoặc composite. Trang thiết bị chính như: hệ thống máy sục khí, máy bơm nước, ghe chở nước biển, máy phát điện, hệ thống điện lưới 220v,… Nhìn chung, hệ thống ương nuôi và trang thiết bị đáp ứng khoảng 12 – 15 bể ương/trại; công suất trại (tôm sú) tương đối thấp so với khu vực và trong cả nước. Hầu hết các trại sản xuất giống của tư nhân ở quy mô vừa và nhỏ, chưa áp dụng tốt các công nghệ tiên tiến vào sản xuất.

Bảng 3.8. Diễn biến nhu cầu con giống tôm sú của tỉnh từ 2003 – 2010



Danh mục

Đvt

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2010

Nhu cầu con giống

Tr.con

895,3

1.399,6

1.567,4

2.107,0

2.215,0

2.205,0

2.226,0

Sản xuất trong tỉnh

Tr.con

30,9

73,7

268,9

354,1

500,1

350,0

950,0

Đáp ứng nhu cầu

%

3,5

5,3

17,2

16,8

22,6

15,9

42,7

Nhập tỉnh

Tr.con

864,4

1.325,9

1.298,5

1.752,9

1.714,9

1.855,0

1.276,0

Đáp ứng nhu cầu

%

96,5

94,7

82,8

83,2

77,4

84,1

57,3

  1. Tình hình quản lý giống thủy sản

Nhằm nâng cao chất lượng giống tôm sú sản xuất trong tỉnh và nhập tỉnh để phục vụ cho nghề nuôi trên địa bàn tỉnh, ngoài việc thực hiện theo các quy định về quản lý giống của Trung ương, Sở NN&PTNT tham mưu UBND tỉnh ban hành các văn bản quản lý sau:

- Quyết định số 07/2008/QĐ-UBND ngày 20/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định quản lý chất lượng giống tôm biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre, theo đó hỗ trợ kinh phí tái kiểm tra bệnh đốm trắng đối với tôm sú và bệnh Taura, bệnh đốm trắng đối với tôm chân trắng bằng phương pháp PCR 100% lượng tôm giống nhập tỉnh.

- Quyết định số 05/2008/QĐ-UBND ngày 03/4/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc sản xuất giống và nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, theo đó quy định cụ thể: chất lượng tôm giống và vùng nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Bến Tre, theo đó quy định cụ thể: chất lượng tôm giống, vùng và điều kiện nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

- Thành lập Ban chỉ đạo vụ nuôi các cấp, đội kiểm tra liên ngành để theo dõi kiểm tra xử lý các trường hợp vi phạm về quản lý giống thủy sản.

Ngày 15 tháng 3 năm 2005 Chính phủ ban hành Nghị định số 33/2005/NĐ-CP về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh thú y. Trên cơ sở nội dung của Nghị định, Sở NN&PTNT chỉ đạo Chi cục NTTS kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y đối với tất cả các cơ sở sản xuất, thuần dưỡng, kinh doanh giống thủy sản trên địa bàn tỉnh. Nhằm nâng cao chất lượng giống cung cấp cho người nuôi, ngành Nông nghiệp thực hiện chương trình kiểm dịch toàn bộ giống di nhập và sản xuất trong tỉnh trước khi xuất bán cho người nuôi, đồng thời thực hiện tái kiểm tra bệnh đốm trắng giống tôm sú và tôm chân trắng di nhập vào tỉnh, kết quả trong các năm vừa qua chất lượng con giống thả nuôi được nâng lên rõ rệt, đảm bảo chất lượng phục vụ cho nghề NTS của tỉnh.


  1. Tình hình sản xuất và cung cấp thức ăn, thuốc TYTS

Trên địa bàn tỉnh tỉnh Bến Tre hiện có một số công ty, nhà máy sản xuất thuốc, thức ăn thuỷ sản. Tuy vậy phần lớn thuốc, thức ăn thủy sản tiêu thụ tại địa phương đều được nhập từ ngoài tỉnh (chủ yếu từ Tp. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai) qua hệ thống phân phối là các đại lý thuốc, thức ăn thủy sản.

Bảng 3.9. Diễn biến số lượng các cơ sở dịch vụ TYTS từ 2004 – 2010



(Đvt: cơ sở)

Stt

Danh mục

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

*

3 huyện ven biển

122

145

140

142

132

149

154

1

Ba Tri

15

17

16

16

16

19

20

2

Bình Đại

79

93

99

108

96

70

73

3

Thạnh Phú

28

35

25

18

20

60

61

(Nguồn: Đề án phát triển kinh tế 3 huyện ven biển, Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre)

Số lượng các cơ sở kinh doanh thức ăn, thuốc thú y thủy sản trên địa bàn 3 huyện ven biển tăng nhanh từ 2004 đến 2010, đạt cao nhất là năm 2010 với 154 cơ sở. Cơ sở kinh doanh thức ăn, thuốc thú y thủy sản tập trung chủ yếu tại huyện Bình Đại. Về cơ bản các cơ sở này đã đáp ứng khá tốt nhu cầu của người nuôi về số lượng và sự đa dạng của hàng hóa. Tuy nhiên về chất lượng thì vẫn chưa được quản lý chặt chẽ do vậy một số thuốc, hóa chất, thức ăn không đạt tiêu chuẩn vẫn được lưu hàng gây thiệt hại không nhỏ cho người nuôi.



  1. Tình hình dịch bệnh trong vùng

Tình hình dịch bệnh trên tôm sú những năm qua diễn biến rất phức tạp, thiệt hại nặng nhất là năm 2006 với 1.342,8 ha chiếm 22,99% diện tích thả nuôi; huyện Bình Đại tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, tổng diện tích thiệt hại năm 2006 là 1.251,5 ha, trong đó xã Thạnh Phước và Đại Hòa Lộc chiếm 350 ha, ngày 15/5/2006 UBND huyện ra Quyết Định 463 về việc tạm đình chỉ thả nuôi tôm ở khu vực Giồng Binh, khu vực phía tây cầu Rạch Cạn cặp sông Ba Lai xã Đại Hòa Lộc và khu vực Cánh đồng Bé, Gò Tranh, Rạch Chiêm xã Thạnh Phước qua đó dịch bệnh được khống chế. Năm 2008 thả nuôi 5.328 ha, thiệt hại 835,7 ha chiếm 15,69% tổng diện tích nuôi. Trong năm 2010 tình hình dịch bệnh diễn biến trên một số đối tượng nuôi chủ lực như sau:

Đối với tôm sú: Dịch bệnh đốm trắng trên tôm sú nuôi thâm canh, bán thâm canh đã gây thiệt hại 336 ha, chiếm 6,49% diện tích đã thả nuôi, tăng 3,48% so với năm 2009.

Đối với tôm chân trắng: Dịch bệnh đốm trắng trên đối tượng nuôi này đã gây thiệt hại 134 ha, chiếm 11% diện tích thả nuôi, giảm 13,64% so với năm 2009.

Đối với cá tra: Tình hình dịch bệnh trên cá tra xảy ra thường xuyên, tỉ lệ thiệt hại có xu hướng ngày càng tăng, trong năm 2010 tỉ lệ hao hụt trung bình từ 25 – 30%, các bệnh thường gặp đó là: Gan thận có mủ, xuất huyết, phù đầu, trắng gan và mang, kí sinh trùng… Các biện pháp phòng trị bệnh hiện nay đạt hiệu quả không cao, cá bị lờn thuốc do quá trình ương dưỡng đã lạm dụng kháng sinh hoặc sử dụng thuốc không hợp lý.

Đối với nhuyễn thễ: Vào thời điểm cuối tháng 2 đến đầu tháng 4 năm 2010 do điều kiện môi trường, thời tiết diễn biến bất thường hơn các năm trước nên gây ra hiện tượng nghêu chết nhiều tại các hợp tác xã Rạng Đông - Bình Đại và hợp tác xã Bảo Thuận, Tân Thủy - Ba Tri. Riêng đối với sò huyết cũng xảy ra hiện tượng sò chết nhiều vào thời điểm tháng 6 năm 2010 chủ yếu ở phía hạ lưu sông Ba Lai, diện tích ước tính khoảng 150 ha (xã Thạnh Phước 50 ha, xã Bảo Thạnh 100 ha).

Từ tháng 3 – 6/2011, đã có hiện tượng nghêu chết xảy ra hầu hết tại các hợp tác xã của tỉnh, mức độ thiệt hại cao hơn năm 2010, thiệt hại nhiều nhất là các hợp tác xã Rạng Đông huyện Bình Đại; hợp tác xã Bảo Thuận, Tân Thủy huyện Ba Tri. Tổng diện tích thiệt hại có nghêu chết khoảng: 1.560 ha; tổng sản lượng thiệt hại ước khoảng 14.000 tấn, trong đó nghêu giống kích cỡ 300 - 500 con/kg là 11.000 tấn; nghêu thịt kích cỡ từ 80 - 100 con/kg là 3.000 tấn; tổng giá trị thiệt hại ước khoảng 378 tỷ đồng.



*Nguyên nhân thiệt hại:

- Do người nuôi không thực hiện tốt công tác cải tạo ao đầm, sử dụng hệ thống ao nuôi tôm sú trước đây để nuôi tôm chân trắng, điều kiện một số ao nuôi chưa đạt yêu cầu kỹ thuật, không tuân thủ lịch thời vụ, ảnh hưởng diễn biến thời tiết bất thường như: nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm lớn, mưa kéo dài tạo điều kiện cho dịch bệnh đốm trắng phát sinh trên tôm sú và tôm chân trắng nuôi.

- Ý thức quản lý dịch bệnh, quản lý môi trường vùng nuôi của người dân và một số địa phương chưa cao, việc bơm bùn và xả thải mầm bệnh ra kênh rạch tự nhiên vẫn còn xảy ra.

- Một số địa phương chưa quan tâm đến việc củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của ban quản lý vùng nuôi, chưa thể hiện được tính cộng đồng trong quản lý môi trường, dịch bệnh.

- Do tác động của biến đổi khí hậu làm cho độ mặn, nhiệt độ tăng cao đã gây ra hiện tượng nghêu chết hàng loạt và một số khu nuôi vùng hạ lưu thuộc huyện Bình Đại, Giồng Trôm.

Về công tác quản lý:

i) Tỉnh đã thành lập được ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh trên động vật thủy sản với chức năng theo dõi, giám sát tình hình diễn biến môi trường, dịch bệnh trên các địa bàn trọng điểm, thông tin cảnh báo cho các BQL vùng nuôi và qua hệ thống báo đài cung cấp kịp thời đến người nuôi. Phối hợp với các Viện nghiên cứu, các trường Đại học tổ chức hội thảo để giải đáp thắc mắc và hướng dẫn cách phòng trị bệnh cho người nuôi. Trên địa bàn huyện Bình Đại thành lập Ban chỉ đạo vụ nuôi thủy sản và phân công các thành viên hỗ trợ xã quản lý tốt vụ nuôi thủy sản. Các xã trong vùng nuôi đều Thành lập các ban quản lý vùng. Định kỳ hàng tháng (Trung tâm khuyến nông khuyến ngư Bến Tre) lấy mẫu quan trắc môi trường (huyện Bình Đại thu tại 14 điểm/2 lần/tháng) và thông báo kết quả đến nông dân. Trong năm 2009, 2010 tỉnh đầu tư hóa chất hỗ trợ 100% cho người nuôi tôm xử lý ao đang nuôi tôm nếu có bệnh đốm trắng và bệnh Taura xảy ra trong đầm nuôi.

ii) Ban hành các quyết định, chỉ thị tạo cơ sở pháp lý cũng như hướng dẫn các địa phương trong công tác phòng chống dịch bệnh:

- Quyết định số 07/2008/QĐ-UBND ngày 20/03/2008 về việc Quy định quản lý chất lượng giống tôm biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre, nhằm quản lý tốt nguồn giống sản xuất trong tỉnh và giống nhập tỉnh góp phần giúp nghề nuôi ổn định và bền vững.

- Quyết định số 05/2008/QĐ-UBND ngày 07/03/2008 về việc sản xuất giống và nuôi TCT trên địa bàn tỉnh Bến Tre, theo đó quy định cụ thể: chất lượng tôm giống và vùng nuôi TCT trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

- Quyết định số 1196/2010/QĐ-UBND ngày 24 tháng 5 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020.

- Quyết định số 20/2010/QĐ-UBND ngày 7 tháng 7 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về việc ban hành quy định về sản xuất, ương giống, khai thác nghêu giống tư nhiên và nuôi nghêu thương phẩm trên địa bàn tỉnh Bến Tre.




1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   40


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương