CHƯƠng II: TỔng quan về ĐẦu tư quốc tế Khái niệm và đặc điểm của đầu tư quốc tế



tải về 0.91 Mb.
trang1/11
Chuyển đổi dữ liệu27.07.2016
Kích0.91 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ


1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư quốc tế
1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư

1.1.1. Khái niệm

Có nhiều khái niệm về đầu tư tùy mục đích, góc độ nhìn nhận. Theo
Samuelson và Nordhaus đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại nhằm tăng tiêu
dùng trong tương lai. Theo từ điển Wikipedia, đầu tư theo cách hiểu chung nhất là
việc tích lũy một số tài sản với mong muốn trong tương lai có được thu nhập từ
các tài sản đó. Theo từ điển Econterms, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực với
mong muốn tăng năng lực sản xuất hoặc tăng thu nhập trong tương lai.

Các khái niệm trên đều nhấn mạnh đến mục đích của đầu tư đó là thu về được


nhiều hơn những gì bỏ ra, nói cách khác đó chính là tính sinh lợi của hoạt động đầu
tư. Để đạt được mục tiêu trên, chủ đầu tư phải có những tài sản hay còn gọi là các
nguồn lực nhất định (tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, máy móc, thiết bị,
...). Các nguồn lực này được sử dụng không phải để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
hiện tại của chủ đầu tư mà để phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
(xây nhà máy, cửa hàng, mua sắm trang thiết bị, mua hàng hóa, nguyên vật liệu, ...)
hoặc được sử dụng trên thị trường tài chính (gửi tiết kiệm, mua chứng khoán, ...).

Lợi ích mà hoạt động đầu tư đem lại cho các chủ đầu tư tư nhân được thể hiện


thông qua chỉ tiêu lợi nhuận (chênh lệch giữa thu nhập mà hoạt động đầu tư đem lại
cho chủ đầu tư với chi phí mà chủ đầu tư phải bỏ ra để tiến hành hoạt động đầu tư
đó). Dưới góc độ của toàn bộ nền kinh tế, lợi ích mà hoạt động đầu tư đem lại được
thể hiện thông qua lợi ích kinh tế xã hội (chênh lệch giữa những gì mà xã hội thu
được với những gì mà xã hội mất đi từ hoạt động đầu tư). Lợi ích kinh tế xã hội của
hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua một loạt các chỉ tiêu khác nhau (như tạo
tài sản mới cho nền kinh tế, tạo việc làm, ...), trong đó các nhà kinh tế học nhấn
mạnh đến chỉ tiêu tạo tài sản mới cho nền kinh tế và cho rằng đầu tư phải gắn với
việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế (mua hàng hóa, nguyên vật liệu, ... dự
trữ trong kho, xây dựng các nhà máy mới hoặc mua sắm các công cụ sản xuất

1


mới)1. Theo nghĩa này, đầu tư là việc bỏ tiền ra để xây dựng các nhà máy mới, mua
sắm các trang thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ hàng hóa, nguyên
vật liệu. Như vậy, đầu tư phải gắn với hoạt động sản xuất và chính sản xuất sẽ góp
phần tạo ra các tài sản mới cho toàn bộ nền kinh tế. Hoạt động đầu tư này được gọi
là đầu tư phát triển. Cũng có những hoạt động sử dụng tài sản đem lại lợi ích cho cá
nhân người chủ sở hữu tài sản như mua các chứng khoán, giấy tờ có giá, gửi tiết
kiệm. Nhưng những hoạt động này chỉ là việc chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc
quyền sở hữu các chứng khoán, giấy tờ có giá từ người này sang người khác mà
không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (chưa xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh
vực này). Dưới góc độ của cá nhân người sử dụng nguồn lực, hoạt động này được
gọi là đầu tư tài chính, nhưng dưới góc độ toàn bộ nền kinh tế hoạt động này không
được xếp vào đầu tư phát triển.

Tóm lại có thể hiểu Đầu tư là việc sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định nhằm thu lại lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội.

Hoạt động đầu tư có thể diễn ra ngay tại lãnh thổ nước mà chủ đầu tư đăng kí
quốc tịch gọi là đầu tư trong nước hoặc có thể diễn ra ở lãnh thổ các nước khác với
nước đăng kí quốc tịch của chủ đầu tư gọi là đầu tư ra nước ngoài. Dưới góc độ của
mỗi quốc gia, có hai nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế, đó là vốn đầu tư trong nước
(huy động từ các thành phần kinh tế trong nước) và vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN
)(huy động từ nước ngoài), gắn với hai nguồn vốn này là hai hoạt động đầu tư trong
nước và ĐTNN.

2. Đặc điểm của đầu tư

- Có vốn đầu tư: Tiền, đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, bằng phát minh, sáng
chế,... Vốn thường được lượng hoá bằng một đơn vị tiền tệ để dễ tính toán, so
sánh.

- Tính sinh lợi: lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội.


1 Samuelson Paul A. & Nordhaus William D. (1985), Economics, McGraw-Hill Book Company, 12th Edition.
2


- Tính mạo hiểm: Hoạt động đầu tư thường diễn ra trong một thời gian dài vì vậy


nó có tính mạo hiểm. Quá trình tiến hành hoạt động đầu tư chịu tác động của
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư khác với dự tính
ban đầu và rất có thể lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội thu được sẽ thấp, thậm
chí lỗ. Đây chính là tính mạo hiểm của hoạt động đầu tư, nó đòi hỏi chủ đầu tư
phải là người dám chấp nhận rủi ro, chấp nhận thất bại.

1.2. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư quốc tế, đầu tư nước ngoài

Vốn lần đầu tiên được di chuyển giữa các trung tâm thương mại của các vương quốc phong kiến như Amsterdam, Anvers, Bruges, Luân Đôn, Geneves, Venise vào thế kỷ 16 và 17. Do không hài lòng với các đối tác ở nước ngoài, các thương nhân lớn của Hà Lan, Anh, Italia đã gửi thành viên của gia đình hoặc nhân viên của doanh nghiệp ra nước ngoài làm việc. Các thương nhân này chính là những chủ đầu tư quốc tế đầu tiên.

Trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân, một số nước Châu Âu đi xâm chiếm đất đai


ở các châu lục để làm thuộc địa của mình, trao đổi buôn bán với các nước thuộc địa
phát triển mở ra một kỷ nguyên mới cho đầu tư ra ngoài lục địa Châu Âu, với sự
xuất hiện của các công ty thuộc địa. Nếu lúc đầu hoạt động này chủ yếu mang tính
thương mại, thì cũng đã có kèm những khoản đầu tư tuy ít vào nhà xưởng, cửa hàng,
kho bãi ở cảng và sau đó còn có cả đầu tư vào trồng trọt. Khi đó việc sử dụng vốn ở
nước ngoài chưa được gọi là đầu tư quốc tế mà là "xuất khẩu tư bản". Chủ yếu là
các ông chủ ở các nước thực dân bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh ở các nước thuộc
địa nhằm vơ vét tài nguyên thiên nhiên, bóc lột sức lao động của dân bản xứ: đồn
điền cao su, khai thác mỏ, ... Xuất khẩu tư bản thời kỳ này đặc trưng bởi sự bất bình
đẳng.

Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, hoạt động đầu tư thay đổi rất nhiều.


Hoạt động này không còn bó hẹp trong khuôn khổ giữa các nước chính quốc với các
nước thuộc địa và cũng mất dần tính bất bình đẳng. Lần đầu tiên hoạt động này xuất
hiện với tên gọi mới "đầu tư nước ngoài" trong các giáo trình tư pháp quốc tế (ở

3


Pháp năm 1955, ..., sau đó được nhắc đến trong các hội thảo luật quốc tế và được quy định cụ thể trong bộ luật đầu tư nước ngoài hoặc trong các hiệp định song phương và đa phương về khuyến khích, thúc đẩy và bảo hộ đầu tư.

Đầu tư quốc tế và đầu tư nước ngoài là hai tên gọi khác nhau của cùng một loại hoạt động của con người. Sở dĩ có hai cách gọi do góc độ xem xét, nhìn nhận vấn đề khác nhau. Đứng trên góc độ của một quốc gia để xem xét hoạt động đầu tư từ quốc gia này sang các quốc gia khác hoặc ngược lại ta có thuật ngữ "đầu tư nước ngoài", nhưng nếu xét trên phương diện tổng thể nền kinh tế thế giới thì hoạt động đó được gọi là "đầu tư quốc tế".

1.2.1. Khái niệm

Tại hội thảo của Hiệp hội Luật quốc tế ở Hen xinh ki (Phần Lan năm 1966, ĐTNN được định nghĩa như sau: "Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ". Định nghĩa này chưa nêu được mục đích của đầu tư nước ngoài, mới chỉ đề cập đến một vế của hoạt động đầu tư đó là "sự di chuyển vốn" và "tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh".

Luật Đầu tư nước ngoài của Cộng hoà liên bang Nga (4/7/91 quy định: "Đầu
tư nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản hay giá trị tinh thần mà người
đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của hoạt động kinh doanh và các hoạt
động khác với mục đích thu lợi nhuận". Định nghĩa này tương đối đầy đủ, chỉ rõ bản
chất của đầu tư là thu lợi nhuận, tuy nhiên vẫn còn hạn chế có thể thấy ngay sau khi
đọc Luật của Ucraina: "Đầu tư nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị do các nhà
đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng của hoạt động kinh doanh và các hoạt
động khác với mục đích thu lợi nhuận hoặc các hiệu quả xã hội". Mục đích của đầu
tư nước ngoài không chỉ thu lợi nhuận về cho chủ đầu tư mà còn nhằm cải thiện điều
kiện sống, mang lại lợi ích chung cho toàn dân nước nhận đầu tư.

4


Luật Đầu tư của Việt Nam ban hành năm 2005 qui định: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”.

Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư nước ngoài, có thể rút ra định nghĩa khái quát về hoạt động này như sau:

Đầu tư nước ngoài là việc các nhà đầu tư của một nước (pháp nhân hoặc cá nhân đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác sang một nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội.

1.2.2. Đặc điểm

Đặc điểm của hoạt động đầu tư nước ngoài cũng giống như đầu tư nói chung, chỉ khác là có sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác. So với nhà đầu tư trong nước, các nhà đầu tư khi đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia mình sẽ có một số bất lợi do khoảng cách về địa lý và sự khác biệt về văn hóa, ...

2. Phân loại đầu tư quốc tế

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại đầu tư quốc tế: Theo chủ đầu tư, theo thời hạn đầu tư, theo quan hệ giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư,... Phần này chỉ giới thiệu một cách phân loại được sử dụng nhiều trong các tài liệu về đầu tư quốc tế đó là phân loại theo chủ đầu tư với hai hình thức là đầu tư tư nhân quốc tế và đầu tư phi tư nhân quốc tế.

2.1. Đầu tư tư nhân quốc tế

2.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI)

Khái niệm

FDI xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác
với ý định quản lý nó. Quyền kiểm soát (control- tham gia vào việc đưa ra các quyết
5


định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tư chứng khoán.

Theo các chuẩn mực của Quĩ tiền tệ thế giới (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), FDI được định nghĩa bằng một khái niệm rộng hơn.

Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.2

Theo OECD: Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm).3

Hai định nghĩa trên nhấn mạnh đến mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của một chủ thể cư trú tại một nước, được gọi là nhà đầu tư trực tiếp thông qua một chủ thể khác cư trú ở nước khác, gọi là doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp, đồng thời nhà đầu tư có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp này.

Theo qui định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1996
"Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo qui định của
Luật này".

2 Jacquemot Pierre (1990), La firme multinationale: Une introduction économique, Economica, Paris. 3 OECD (1999), OECD Benchmark definition of foreign direct investment, 3rd edition.

6


Như vậy muốn hiểu rõ về FDI ở Việt Nam cần xem xét các qui định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Về bản chất, Luật này cũng thống nhất cách hiểu về FDI như cách hiểu thông dụng trên thế giới.

Tóm lại có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó.

FDI có thể hiểu theo hai nghĩa FDI vào (người nước ngoài nắm quyền kiểm soát các tài sản của một nước A) hoặc FDI ra (các nhà đầu tư nước A nắm quyền kiểm soát các tài sản ở nước ngoài). Nước mà ở đó chủ đầu tư định cư được gọi là nước chủ đầu tư (home country); nước mà ở đó hoạt động đầu tư được tiến hành gọi là nước nhận đầu tư (host country).

Đặc điểm:

- FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận:
theo cách phân loại ĐTNN của nhiều tài liệu và theo qui định của luật pháp
nhiều nước, FDI là đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, luật pháp của một số nước (ví dụ
như Việt Nam) qui định trong trường hợp đặc biệt FDI có thể có sự tham gia
góp vốn của Nhà nước. Dù chủ thể là tư nhân hay Nhà nước, cũng cần khẳng
định FDI có mục đích ưu tiên hàng đầu là lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư,
nhất là các nước đang phát triển phải đặc biệt lưu ý điều này khi tiến hành thu
hút FDI. Các nước tiếp nhận vốn FDI cần phải xây dựng cho mình một hành
lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào
phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình
trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.

- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn


pháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước để giành
quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật các
nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này. Luật Mỹ quy định tỷ lệ
này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam là 30% và trong những trường hợp
đặc biệt có thể giảm nhưng không dưới 20%, còn theo qui định của OECD
(1996) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của

7


doanh nghiệp - mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp.

- Tỷ lệ góp vốn của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên,


đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này.

- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu


trách nhiệm về lỗ, lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao,
không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền
kinh tế.

- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư


thông qua việc đưa máy móc, thiết bị, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ
thuật, cán bộ quản lý, ... vào nước nhận đầu tư để thực hiện dự án.

- Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp


mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải
lợi tức.

2.1.2. Đầu tư chứng khoán nước ngoài (Foreign Portfolio Investment - FPI)

Khái niệm

FPI là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước mua chứng khoán của các công ty, các tổ chức phát hành ở một nước khác với một mức khống chế nhất định để thu lợi nhuận nhưng không nắm quyền kiểm soát trực tiếp đối với tổ chức phát hành chứng khoán.

Đặc điểm

- Chủ đầu tư nước ngoài chỉ nắm giữ chứng khoán, không nắm quyền kiểm soát


hoạt động của tổ chức phát hành chứng khoán;

- Số lượng chứng khoán mà các công ty nước ngoài được mua có thể bị khống chế


ở mức độ nhất định tuỳ theo từng nước;

- Thu nhập của chủ đầu tư: cố định hoặc không tùy loại chứng khoán mà họ đầu


tư;
8


- Phạm vi đầu tư chỉ giới hạn trong số các hàng hóa đang lưu hành trên thị trường


chứng khoán của nước nhận đầu tư;

- Nước tiếp nhận đầu tư chỉ nhận được vốn bằng tiền, không có cơ hội tiếp thu


công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý.

2.1.3. Tín dụng quốc tế (International Loans)

Khái niệm

Tín dụng quốc tế là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư ở một nước


cho đối tượng tiếp nhận đầu tư ở một nước khác vay vốn trong một khoảng thời gian
nhất định.

Chủ đầu tư có thể là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng (tín dụng quốc tế của các ngân hàng) hoặc nhà cung cấp (tín dụng thương mại) hoặc các đối tượng khác. Nếu là tín dụng quốc tế của các ngân hàng thì sẽ có các đặc điểm sau:

- Quan hệ giữa chủ đầu tư và đối tượng nhận đầu tư là quan hệ vay nợ. Đối tượng
nhận đầu tư không có quyền sở hữu chỉ có quyền sử dụng vốn của chủ đầu tư
trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó phải hoàn trả lại cho chủ đầu tư cả
gốc và lãi.

- Chủ đầu tư (người cung cấp vốn) tuy không tham gia vào hoạt động của doanh


nghiệp tiếp nhận vốn nhưng trước khi cho vay đều nghiên cứu tính khả thi của dự
án đầu tư, có yêu cầu về bảo lãnh hoặc thế chấp các khoản vay để giảm rủi ro;

- Vốn đầu tư thường dưới dạng tiền tệ;

- Chủ đầu tư nước ngoài thu lợi nhuận qua lãi suất ngân hàng theo thỏa thuận giữa
hai bên và ghi trong hợp đồng vay độc lập với kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp vay (đối tượng nhận đầu tư).

2.2. Đầu tư phi tư nhân quốc tế

Đầu tư phi tư nhân quốc tế là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư là các
chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức phi chính phủ. Dòng vốn đầu tư
9


này thường tồn tại dưới hình thức các dòng vốn hỗ trợ (aids hoặc assistance hoặc official capital flows). Theo Uỷ ban Hỗ trợ phát triển chính thức (DAC) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) các dòng vốn hỗ trợ này được chia thành hai loại: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA - Official development assistance) và Hỗ trợ chính thức (OA - Official Aid).

2.2.1. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Khái niệm ODA.

Việc phân loại viện trợ nào là ODA có thể khác nhau ở mỗi nhà tài trợ. Theo cách hiểu chung nhất thì vốn ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển.


Đặc điểm ODA.

Vốn ODA mang tính ưu đãi.

Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả
lãi, chưa trả nợ gốc). Đây cũng chính là một sự ưu đãi dành cho nước nhận tài trợ.
Vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (Japan Bank for
International Cooperation -JBIC) có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn
là 10 năm.

Thông thường, trong ODA, có thành tố viện trợ không hoàn lại (tức là cho không). Đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh mức lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại. Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tín dụng thương mại trong tập quán quốc tế. Cho vay ưu đãi hay còn gọi là cho vay “mềm”. Các nhà tài trợ thường áp dụng nhiều hình thức khác nhau để làm “mềm” khoản vay, chẳng hạn kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng gần với điều kiện thương mại tạo thành tín dụng hỗn hợp.

10


Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:



Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product-GDP) bình quân đầu người thấp. Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn. Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngưỡng đói nghèo thì sự ưu đãi này sẽ giảm đi.

Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của nước nhận phải phù hợp với chính sách ưu tiên cấp ODA của nhà tài trợ.

Thông thường, các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng
của mình tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và
tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý...). Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các
nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, nắm
được hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần
thiết.

Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những


điều kiện nhất định một phần Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product-
GNP) từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Như vậy, nguồn gốc
thực chất của ODA chính là một phần của tổng sản phẩm quốc dân của các nước
giầu được chuyển sang các nước nghèo. Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội
và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía
nước tiếp nhận ODA

Vốn ODA mang tính ràng buộc.

ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần, hoặc không ràng buộc) nước
nhận. Mỗi nước cung cấp viện trợ có thể đưa ra những ràng buộc khác nhau và nhiều
khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận. Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn
ODA của Nhật (hoàn lại và không hoàn lại) đều được thực hiện bằng đồng Yên

11



Nhật Bản... Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa
và dịch vụ của nước mình.. Canađa yêu cầu cao nhất, tới 65%. Thụy Sĩ chỉ yêu cầu
1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu cầu
phải mua hàng hóa và dịch vụ của nhà tài trợ thấp. Đặc biệt là Niu Dilân không đòi
hỏi phải tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của họ. Nhìn chung, 22% viện trợ của DAC
phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ.

Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ.

Kể từ khi ra đời cho đến nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song
song. Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở những
nước đang phát triển. Động cơ nào đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục tiêu này?
Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ
các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu
tư. Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế. Xét về lâu dài, các nhà tài trợ sẽ
có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh tế các nước nghèo tăng trưởng. Mối
quan tâm mang tính cá nhân này được kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộng
đồng. Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ
môi trường sống, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết các cuộc xung
đột sắc tộc, tôn giáo... đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế, không
phân biệt nước giàu, nước nghèo. Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thế chính trị của
các nước tài trợ. Các nước phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị, xác
định vị trí và ảnh hưởng của mình tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA. Hoa Kỳ
là một trong những nước dùng ODA làm công cụ để thực hiện chính sách gây “ ảnh
hưởng chính trị trong thời gian ngắn”. Nhật Bản hiện là nhà tài trợ hàng đầu thế giới
và cũng là nhà tài trợ đã sử dụng ODA như là một công cụ đa năng về chính trị và
kinh tế. ODA của Nhật Bản không chỉ đưa lại lợi ích cho nước nhận mà còn mang




  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương