Số 82 Ngày 25. 01. 2009 cn thường niên 3B



tải về 419.35 Kb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích419.35 Kb.
  1   2   3   4   5

Số 82 Ngày 25.01.2009

CN Thường niên 3B

Mục lục





Hối hận

Trích từ R. Veritas

Kêu to lên

Trích từ R. Veritas

Mở ngõ về phía trước

Giuse Nguyễn Hữu An

Trên con đường trở về

Anphong Trần Đức Phương

Đức Giêsu hành động bằng các môn đệ

PX Vũ Phan Long, ofm

Chúa cần ta cộng tác

Cao Trí Dũng

Ngày xuân mừng tuổi Chúa

Bênêđitô Đỗ Quang-Vinh

Chúa là mùa Xuân hằng cửu

Bênêđitô Đỗ Quang-Vinh

Ý lực suy niệm suốt tuần

Martin Trần Văn Đoàn

Hối Hận

 

Bor là một tên tù của trại tù Bon-xâm. Khi còn nhỏ, Bor sống một mình với mẹ. Bà mẹ chỉ có một thích thú là đọc sách nhiều giờ không chán. Nhưng vì bệnh hoạn, mắt bà dần dần bị mù không đọc sách được nữa. Lúc ấy bà nhờ Bor đọc sách cho bà nghe.



Bor thích ở với mẹ, nhưng vì có nhiều bè bạn nên theo bạn vui chơi. Một ngày nọ, trong đám bạn của Bor, một vài đứa bị cảnh sát bắt vì phạm luật lệ. Bor tỉnh ngộ trở về nhà định bụng là sẽ đọc sách cho mẹ nghe. Khi vào đến phòng mẹ, Bor thấy bà ngồi trên ghế, tay cầm cuốn sách, nhưng bà đã chết.

Bor ân hận và buồn lắm. Nhưng vì mẹ chết rồi, Bor thấy tự do hơn, và nó lại ra ngoài phố sống với các phần tử hư hỏng. Trong một vụ cướp xe hơi và tống tiền, Bor bị bắt và phải ở tù mấy năm trời. Khi ra khỏi tù, tâm tính Bor thay đổi hẳn. Nó thường vào các nhà dưỡng lão hỏi xem có ông cụ bà cụ nào không đọc được sách để nó đọc giúp. Sau đó Bor gặp một bà lão mù, bà bằng lòng nhờ Bor đọc sách. Mỗi tuần Bor vui vẻ đến giúp bà cụ. Ðêm nọ, đang đọc cho bà cụ nghe, Bor thấy cụ trút hơi thở cuối cùng và qua đời. Bor bỗng mường tượng ra gương mặt của mẹ mình và cảm thấy bớt đi nỗi hối tiếc là đã không ở nhà đọc sách cho mẹ khi bà còn sống.

*

* *


Qua bao năm tháng cuộc đời cho tới ngày hôm nay, bạn thấy mình có điều gì phải hối hận không? Nếu có, bạn hãy đến với Chúa, xin Ngài giúp bạn trút đi nỗi ân hận ấy bằng một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nếu không, bạn hãy cám ơn Chúa, và xin Ngài tiếp tục dẫn dắt để bạn trung tín bước đi trên đường lối của Ngài.

R. Veritas
Ngọc Nga sưu tầm

Mục Lục

Kêu To Lên


 

Ngày xưa có một người biết rằng Chúa sắp hủy diệt thành Sôđôma bằng hỏa thiêu, nên ông ta đi khắp nơi trong thành phố này để báo tin và bảo dân phải di tản. Nhưng chẳng ai nghe lời ông. Họ cho ông là điên dại. Thấy ông buồn và bực tức, có người hỏi:

- Tại sao ông phải khổ sở như vậy? Ông không thể nào thay đổi được họ đâu?

Ông ấy trả lời:

- Có lẽ tôi không thay đổi được họ. Nhưng tôi vẫn phải la lớn, nói rõ mệnh lệnh của Chúa, để họ không thay đổi được tôi.

Lót là một người tin Chúa, đáng lẽ ông phải làm công việc la hét để cho người dân thành Sôđôma biết. Nhưng ông đã không làm gì cả.

Cuộc đời Lót cho thấy rằng cảm xúc của con người đối với cuộc đời vô đạo nhiều khi không còn sắc bén nữa. Lót đã lựa chọn sống trong một thành phố nổi tiếng là vô đạo. Khi Sôđôma bị giặc cướp tàn phá chúng bắt cả Lót theo. Nhưng khi được giải thoát, Lót lui về sống ở Sôđôma. Cuộc đời Lót kết thúc bằng câu truyện buồn thảm và ô nhục.

Trái lại, Abraham, người chú của Lót thì khác hẳn. Hai chú cháu đã ra khỏi xứ Urơ đi về miền đât hứa. Abraham tin cậy Chúa, cầu nguyện Chúa cứu người lành, và sống một đời đạo đức gương mẫu. Còn Lót thì không hề đau xót trong tâm hồn trước những cảnh vô đạo chung quanh mình.

Như thánh Phêrô đã viết, trong thế giới ngày nay biết bao nhiêu điều vô đạo, người ta sống vô đạo như: ăn ở với nhau trước khi lấy nhau, đồng tính luyến ái, phá thai, đọc sách báo dâm ô và xem phim ảnh đồi trụy, v.v...

Là người tin Chúa, chúng ta phải kêu lên tiếng nói của mình. Dù không thay đổi được xã hội, tiếng kêu ấy cũng ngăn ngừa chúng ta khỏi bị sa xuống các vũng lầy nguy hiểm.



R. Veritas
Ngọc Nga sưu tầm
Mục Lục

MỞ NGÕ VỀ PHÍA TRƯỚC.

Trong tuyển tập truyện hay, Giấc Mộng Vàng, có kể câu chuyện giàu ý nghĩa.

Có một Thầy Ẩn tu tên là Xê-bat-chiêng thường đến cầu nguyện tại một nhà nguyện vắng vẻ trên núi. Trong nhà nguyện này dân chúng tôn kính một tượng Thánh Giá với tước hiệu là "Tượng Chúa ban ơn".

Thấy dân chúng có lòng tin thường đến cầu xin ơn lành, Thầy Xê-bat-chiêng cũng thêm lòng tin cậy.

Một hôm vắng người, Thầy quỳ gối trước Thánh Giá và chân thành khấn nguyện: "Lạy Chúa, con ước ao được chia sẻ đau khổ với Chúa, xin cho con được thế chỗ Chúa trên thánh giá".

Thầy quỳ yên lặng, mắt đăm đăm nhìn lên Thánh Giá mong đáp lời. Một lúc sau, từ Thánh Giá có tiếng phán bảo: "Được, Ta bằng lòng để con thế chỗ Ta trên Thánh Giá nhưng với một điều kiện duy nhất là bất cứ điều gì xảy ra, tai con nghe gì, mắt con thấy gì, con đều phải giữ im lặng không được nói năng gì hết ". Xê-bat-chiêng hứa và được Chúa Giêsu cho lên thế chỗ Ngài trên Thánh Giá.

Ngày qua ngày, dân chúng vẫn đến trước tượng Thánh Giá để cầu nguyện. Không ai hay biết về việc đổi chỗ này.

Một hôm, có người xứ nọ đến cầu nguyện. Khi ra về, ông để quên dưới ghế quỳ cái túi đầy những đồng tiền vàng. Thấy vậy Thầy vẫn yên lặng.

Lúc sau, có một người nghèo khổ vào nhà nguyện, ông ta sung sướng nhìn túi tiền vàng, tưởng là Chúa ban cho liền xách túi, tạ ơn và đi ra.

Rồi có một chàng thanh niên vào quỳ gối khẩn nguyện xin ơn che chở vì sắp đi xa. Vừa ra khỏi nhà nguyện thì gặp người phú hộ trở lại tìm túi tiền. Không thấy đâu, ông nghi chàng thanh niên đã lấy đi, tranh cãi và cả hai mời cảnh sát phân xử.

Không cầm lòng được nữa, từ trên Thánh Giá, Thầy Xê-bât-chiêng hét lên: Đứng lại. Mọi người ngạc nhiên. Thầy phân trần sự việc. Người phú hộ tìm người nghèo xin lại túi tiền. Chàng thanh niên cũng vội vã đi cho kịp chuyến tàu.

Khi không còn ai trong nhà nguyện, Chúa Giêsu lên tiếng bảo Xê-bat-chiêng: " Con hãy xuống ngay khỏi Thánh Giá, con không xứng đáng thế chỗ cho Ta, vì con đã không biết giữ yên lặng như lời con đã hứa."

Thầy vội vã phân trần: Nhưng lạy Chúa, làm sao con có thể chịu đựng được cảnh bất công đó?

Chúa Giêsu đáp: Thật con không hiểu gì hết! Tiền của người phú hộ là tiền bất lương, trong khi người nghèo đói kia vất vả mà không kiếm đủ miếng cơm manh áo cho đàn con nhỏ.Và nếu chàng thanh niên kia có bị cảnh sát giữ lại, anh ta lỡ chuyến tàu, như thế đã cứu được mạng sống mình. Kìa, tàu của anh ta đang lao đao giữa biển cả sắp chìm vì sóng to gió lớn.

Câu chuyện này nhắc chúng ta nhớ đến Lời Chúa trong sách Isaia: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi. Như trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu”.

Trong suy nghĩ của con người, chúng ta không thể hiểu được tại sao Chúa Giêsu lại gọi bốn môn đệ đầu tiên để đặt nền tảng xây dựng Giáo hội như bài phúc âm đã kể. Vì đó là những con người chài lưới, "ăn với sóng, nói với gió", ít học, quê mùa. Chúa Giêsu lại chọn họ làm môn đệ. Tại sao Chúa không chọn những Luật sĩ, những Pharisiêu, những Ký lục thông thái?

Cũng như chúng ta cũng tự hỏi, tại sao Chúa Giêsu không sinh ra nơi cung điện nguy nga lộng lẫy mà lại chọn hang đá Bêlem hôi hám lạnh lẽo để giáng sinh? Tại sao Chúa Giêsu lại chọn cái chết Thập giá đau đớn tủi nhục để làm phương thế cứu độ? Ngắm nhìn Hài Nhi trong máng cỏ cũng như nhìn lên tử tội Giêsu trên thập giá, chúng ta thường tự hỏi tại sao Chúa lại thích những điều nghịch lý? Làm sao người ta có thể tuyên xưng Chúa là Đấng Giải Thoát khi Chúa lại đến trong dáng vẻ yếu đuối bé bỏng như thế?

Thánh Phaolô đã từng thốt lên: Trong khi người Hy lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, trong khi người Do thái tìm các dấu lạ, thì chúng tôi lại rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh, một sự điên rồ đối với lý trí nhân loại.

Bởi đó, đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của con người. Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo. Con người chỉ là thụ tạo.

Chúa Giêsu thường chọn những cái nghịch lý để làm những điều vĩ đại. Tám mối phúc thật là nghịch lý đối với người đời nhưng lại là Hiến Chương Nước Trời. Chúa Giêsu không đến với sức mạnh bạo lực nhưng với những gì yếu ớt mỏng manh kết tụ nơi Hài Nhi bé nhỏ. Chúa Giêsu cũng kêu gọi những người tầm thường, những người khiêm nhường bé nhỏ. Chính bằng cái mỏng manh bé nhỏ ấy mà Người khơi dậy nơi con người cái chân tâm để rồi tình yêu của Người giúp họ biến đổi để trở nên những rường cột của Giáo hội.

Như thế Chúa nhìn con người với cái nhìn yêu thương, tôn trọng, luôn thấy cái tốt, cái đáng yêu nơi mỗi người cho dù họ nhỏ bé, họ tầm thường. Chính sự bé nhỏ đó mà Chúa biến đổi để nên lớn lao.

Mỗi người chúng ta trong cách nhìn về tha nhân cũng cần học theo gương của Chúa. Đó là cái nhìn về phía đàng trước, về phía tương lai.

Nhiều lần ta khóa chặt anh chị em mình trong quá khứ lỗi lầm. Nhiều khi chỉ vì vài xích mích, vài lỗi lầm trong cuộc sống, nhưng ta lại vịn vào đó mà phủ nhận, mà phán đoán và đánh giá chính họ theo thành kiến của mình. Có người vì giận Cha xứ mà bỏ Nhà thờ không đi lễ, không xưng tội rước lễ. Có người tâm sự: mọi người coi tôi như một người xấu xa, ai cũng lên án, ai cũng xa lánh, cùng lắm chỉ thương hại, không còn cánh cửa mở ra phía trước cho tôi.

Về mặt xã hội, mấy mươi năm qua cũng có thái độ xét đoán con người như thế. "Chủ nghĩa lý lịch" tạo nên sự kỳ thị khủng khiếp. Biết bao nhân tài bị mai một, không phát huy được tài năng chỉ vì lý lịch. Biết bao kẻ bất tài nhờ lý lịch được thăng quan tiến chức. “Chủ nghĩa lý lịch” kỳ thị, phân biệt đối xử, nó vẫn đang hoành hành mọi ngõ ngách cuộc sống hôm nay. Những người có Tài thật sự, vì ‘vướng’ chữ Đức, chữ Tâm mà không thể thành danh dưới trướng “chủ nghĩa lý lịch”. Một đất nước mà báo chí chỉ được phép “đi bên lề phải”, và chỉ những ai cam chịu làm bồi bút mới được trọng dụng thì làm sao đi lên phát triển được. Bao giờ mới hết chủ nghĩa phi nhân này? Khóa chặt con người trong quá khứ, một quá khứ của người xưa, do hoàn cảnh xã hội tạo nên. Vì quá khứ ấy mà mà mọi cánh cửa mở ra cho tương lai của xã hội đất nước cũng bị thiệt thòi.

Tôi có một niềm vui ấm áp mùa Giáng Sinh vừa qua. Trong giáo xứ có gia đình gồm hai vợ chồng và ba đứa con nhỏ. Nhà cửa rách nát, xiêu vẹo rất đáng thương. Mỗi khi mưa gió, cả mấy mẹ con phải bồng bế sang hàng xóm trốn mưa. Tôi viết thư đến Hội Thánh Linh ở Seatle, xin giúp cho họ căn nhà tình thương. Các hội viên đóng góp mỗi người một ít trợ giúp. Thông báo tin vui này cho gia đình. Bà con trong làng không ai chấp nhận xây nhà tình thương cho gia đình nghèo ấy. Họ nói lý do vì chồng trộm cắp, vợ lười biếng, không sinh hoạt chung, không đóng góp công việc chung. Ai cũng nhìn với cái nhìn loại trừ. Với tiêu chuẩn xã hội, ai cũng muốn kết án.Kẻ bị kết án thì đau khổ một mình.Tôi phân vân suy nghĩ mãi. Có nên hay không? Bà con làng xóm đều nói đúng và muốn công bằng. Nhưng Chúa dạy phải sống đức bác ái, không kết án mà phải mở ngỏ nhìn về phía trước. Biết đâu vì quá nghèo nên chồng mới sinh ra trộm cắp để nuôi con? Ba đứa con nhỏ, phải ở nhà chăm con nên vợ bị cho là lười biếng? Biết đâu vì là đàn ông mà không làm nổi căn nhà cho vợ con ở nên chồng sinh ra nhậu nhẹt? Nếu đựơc giúp đỡ, hy vọng vợ chồng này sẽ bỏ tật xấu để sống tốt hơn! Suy nghĩ như vậy, tôi quyết định xây nhà cho họ với một điều kiện là chồng phải bỏ các thói xấu rượu chè trộm cắp. Tôi kêu mời bà con đến giúp, góp công xúc đất đắp nền. Sau nửa tháng căn nhà xây xong. Tôi đến làm phép nhà, bà con làng xóm cùng chia vui, mọi người tạ ơn Chúa và tri ân các ân nhân. Tôi cùng vui với bà con, một niềm vui chan hoà ấm áp tình người. Căn nhà xây nhỏ bé, đơn sơ nhưng là cả khung trời hạnh phúc của gia đình nghèo này. Một ước mơ nhỏ bé thôi, vậy mà sau mười năm lập gia đình, nó mới thành hiện thực. Với người nghèo, một căn nhà ấm cúng đã là đong đầy niềm vui chan chứa. Hai vợ chồng siêng năng đi đọc kinh chung trong giáo họ, tham gia công việc chung của giáo xứ và không còn làm buồn phiền xóm làng nữa. Niềm vui ấm áp của một gia đình nghèo là như thế đó. Có ai muốn sống xấu đâu, mình tạo điều kiện để cái tốt đựơc hé mở và bừng phát nơi mỗi con người vốn tính bản thiện.

Xem ra con người ta vẫn hay nhìn lại phía đàng sau hơn là nhìn về phía đàng trước. Trong khi đó niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng mở ngỏ cho tương lai, lại thúc bách ta nhìn về phía tương lai. Nhìn về phía tương lai là không chấp nhận thái độ thất vọng: thất vọng về chính mình, về anh em, về cuộc đời. Nhìn về phía tương lai là thay thế thất vọng bằng niềm tin: tin vào chính mình, tin vào con người, tin vào cuộc đời ... Và trên hết cũng như sâu hơn hết là tin vào Thiên Chúa, Đấng mở ngỏ và dẫn đưa chúng ta đi về tương lai.

Lạy Chúa, nếu con cần lòng nhân từ của Chúa đối với con, thì tại sao con lại xem thường lòng nhân từ của Chúa đối với người khác? Nếu con cần lòng kiên nhẫn của Chúa để con làm lại cuộc đời sau khi lầm lỗi thì tại sao con lại khinh thường lòng kiên nhẫn của Chúa đối với người khác? Nếu con cần lòng quãng đại của Chúa đối với sa ngã của con thì tại sao con lại xem nhẹ lòng quãng đại của Chúa đối với người khác?

Xin cho con thêm lòng mến Chúa để luôn nhìn mọi người với tâm hồn bao dung và quãng đại. Xin cho con luôn đặt trọn niềm tin vào tình yêu lạc quan của Chúa Đấng mở ngỏ về phía tương lai cho con người. Amen.


Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Mục Lục




  1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương