Cn XIV thường niên b mc. 6,1-6 5-7-2009



tải về 0.93 Mb.
Chuyển đổi dữ liệu10.05.2018
Kích0.93 Mb.






CN XIV Thường niên B

Mc. 6,1-6

5-7-2009

Đức Giêsu về thăm Nazareth .Lm. PX Vũ Phan Long, ofm 02

CN XIV Thường niên B ..…......Lm Carolô Hồ Bặc Xái 07

CN XIV Thường niên B …….....Lm Augustine, SJ 21

Thiên Chúa luôn làm việc .......Lm Phạm Thanh Liêm, SJ 26

CN XIV Thường niên B …….....Lm Ignatio Hồ Thông 30

Con mắt đức tin …………..…....Lm Anphong Trần Đức Phương 39

Trân trọng con người vi ……...Lm Ignatio Trần Ngà 41

Họ khước từ ngài …………......Lm. Giacôbê Tạ Chúc 44

Bụt nhà không thiêng …..........Lm Giuse Tạ Duy Tuyền 46

Bụt nhà không thiêng …..........Lm Giuse Trương Đình Hiền 49

Thành kiến làm cản trở đức ....Lm Trần Bình Trọng 55

Vấp ngã vì Chúa, tại sao ..…….Lm. Jos Phạm Ngọc Ngôn, Csjb 58

Sự yếu đuối là nỗi tự hào …....Lm Nguyễn Khoa Tòan 61

Quê nhạc bạc bẽo …….............Lm Giuse Nguyễn Hữu An 63

CN XIV Thường niên B ............Lm Đaminh Trần Đình Nhi 67

Đức Giêsu trở về Nazareth ......Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 74

Bụt nhà không thiêng .. ...........Lm Giuse Đinh Lập Liễm 77

Ngôn sứ của Chúa ……...….....Lm An Phong, OP 86

Thân phận ngôn sứ ..……….....Lm Giuse Đỗ Văn Lục, OP 88

Trở về quê hương ………….....Lm Giuse Nguyễn Cao Luật, OP 92

Ngạc nhiên …………………......Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng,OP 97

Không làm được phép lạ........................Manna 101

Kinh nghiệm của tiên tri ……..Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 104
ĐỨC GIÊSU VỀ THĂM NADARÉT

Máccô 6,1-6

Lm. PX Vũ Phan Long, ofm 
I. NgỬ cẢnh

Ngay từ đầu Tin Mừng, tác giả Máccô cho thấy Đức Giêsu hành động với uy quyền trước toàn dân (1,16–3,12). Nhưng sau đó, những trở ngại đã xuất hiện: thân nhân Người đi bắt Người về, vì cho rằng Người đã mất trí (3,21); các kinh sư thì nói rằng Người bị quỉ vương Bêendêbun ám và dùng quyền của nó mà trừ quỉ (3,22); bằng kiểu diễn tả bóng bảy, Người đã nói đến sự cứng lòng của dân Ít-ra-en (4,11-12); trận bão trên biển không nhận chìm được con thuyền của Người, là một hình ảnh cho hiểu là sứ vụ của Người sẽ gặp nhiều khó khăn (4,35t), nhưng vẫn đứng vững; yêu cầu của dân Ghêrasa cũng ở trong chiều hướng ấy (5,17). Bài tường thuật chuyến về thăm Nadarét cũng nói đến thái độ không tin của người dân Nadarét, khiến họ không chấp nhận Đức Giêsu (6,1-6). Như thế, truyện này tóm tắt một vài đề tài đã được triển khai trong các phân đoạn trước: tư cách môn đệ và lòng tin, Đức Giêsu là thầy và là vị làm phép lạ, sự hiểu lầm và sự loại trừ Đức Giêsu. 


II. BỐ cỤc

Bản văn này có thể chia thành bốn phần:

      1) Đức Giêsu về quê và giảng dạy ngày sa-bát (cc.1-2a);

      2) Các thính giả vấp phạm về Người (cc. 2b-3);

      3) Sự cứng lòng tin: đánh giá và kết quả (cc. 4-6a);

      4) Đức Giêsu tiếp tục ra đi (c. 6b). 


III. Vài điỂm chú giẢi

- quê quán của Người (1): Đây là Nadarét thuộc miền Galilê (1,9), cách hồ Ghênêsarét khoảng 30 cs về phía tây. Vào thời đó, Nadarét chỉ là một làng nhỏ, không quan trọng gì (x. Ga 1,46). Trong Cựu Ước, làng này không bao giờ được nói đến. Vì làng ở đọâ cao 300-400 m trên mặt biển, người ta có thể nhận ra làng từ xa.  

- có các môn đệ đi theo (1): Khi nói đến các môn đệ, tác giả Máccô luôn luôn đưa vào đề tài “đi theo” (sequela) (x. 2,15; 10,32; 15,41).

- bắt đầu giảng dạy (2) : Ta nhớ lại đoạn 1,21-28 giới thiệu Đức Giêsu là thầy và là người chữa bệnh. Phản ứng đầu tiên trước sự khôn ngoan và những việc lẫy lừng của Người là sự ngạc nhiên. Từ đó, câu hỏi đặt ra “Bởi đâu ông ta được như thế ?” mang tính mỉa mai: trong khi những người đồng hương gắng tìm cho ra danh tánh của con người Giêsu, thì quyền lực của Người lại bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa.



- nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên (2): Phản ứng này thường xảy ra trước lời giảng dạy (1,22; 11,18), một phép lạ (7,37) hoặc một câu nói lạ lùng của Đức Giêsu (10,26). Tác giả nhắc đến phản ứng này với nhận định về sự khôn ngoan của Đức Giêsu để cho thấy Người vừa ban một mạc khải, nhưng dân chúng không tin.

- bác thợ  (3) : Từ Hy-lạp tektôn (La-tinh faber) có lẽ phản ánh từ A-ram naggârâ có thể là một người thợ đóng đồ mộc hoặc là một người thợ xây dựng. Những người thợ ấy thường đi đây đó. Phải chăng Đức Giêsu cũng đã đi đây đó, ít sống tại Nadarét? Bản văn dùng mạo từ Hy-lạp xác định ho cho hiểu rằng dân Nadarét đã quen gọi Đức Giêsu như thế.

- con bà Maria (3): Phải chăng câu này cho phép giả thiết là Giuse đã qua đời? Trong ngữ cảnh ở đây, không có gì bảo đảm là kiểu gọi này có ý nói là Giuse đã chết cả. Chúng ta ghi nhận là trong TM Máccô, Giuse không bao giờ được nêu tên. Dù sao, “con bà Maria” đã trở thành tên gọi của Đức Giêsu. Hoặc tên này được dùng để sỉ nhục, bởi vì người Do-thái được gọi bằng tên của người cha, hoặc để mỉa mai vì muốn ám chỉ đến một cuộc chào đời bất hợp pháp (con hoang). Nếu trường hợp sau là đúng, thì lời sỉ nhục này lại là một khẳng định về cuộc sinh hạ trinh khiết. Để ủng hộ cho cách giải thích này, người ta nêu ra câu hỏi của dân Nadarét về nguồn gốc của Đức Giêsu và sự kiện Mùc tránh nhắc đến người cha.

- ngôn sứ có bị rẻ rúng (4): Có lẽ đây là một câu tục ngữ phát xuất từ Do-thái giáo nhằm diễn tả kinh nghiệm của các nhà du thuyết Do-thái. Ta có những câu hy-lạp tương tự: “Các triết gia khó sống tại quê hương” (Điônê Crisostômô; x. Epittêtô…). Nhưng ở đây Mc mở rộng câu ngạn ngữ mà áp dụng cho cả gia đình dòng họ; như thế là nối dài chiều hướng của sự cố được kể ở 3,20t.    


IV. Ý nghĩa cỦa bẢn văn

* Đức Giêsu về quê và giảng dạy ngày sa-bát (1-2a)

Đức Giêsu đã rời nhà và vùng ông Gia-ia ở để về quê, tức là Nadarét. Nhân dịp cử hành phụng tự tại hội đường vào ngày sa- bát, Người đã giảng một bài. Đó là việc Người vẫn thường làm (x. 1,21.39).

   

* Các thính giả vấp phạm về Người (2b-3)

Phản ứng của các thính giả chứng tỏ Đức Giêsu vừa ban một mạc khải. Họ đã nêu ra năm câu hỏi: ba câu liên hệ đến hoạt động của Đức Giêsu (bản thân; giáo lý; các phép lạ) và hai câu liên hệ đến gia đình dòng họ của Người. Chỉ đức tin mới nhận biết nguồn gốc đích thực của Đức Giêsu. Người là Con Thiên Chúa. Đối với những người đồng hương, sự hiểu biết về môi trường sinh sống của Đức Giêsu là biến thành một trở ngại không thể vượt qua. Họ từ khước Đức Giêsu và không chấp nhận giáo huấn của Người. Sự vấp phạm đó chính là sự cứng lòng tin của họ.

 

* Sự cứng lòng tin: đánh giá và kết quả (4-6a)

Đức Giêsu xác định lập trường bằng một câu ngạn ngữ. Câu này vừa giúp Người biện minh cho mình vừa giảm nhẹ tầm mức của các sự kiện. Các môn đệ (theo Mc, các ông lúc nào cũng đi theo Người) phải học lấy bài học kinh nghiệm này: không bao giờ được để cho nỗi thất vọng vì bị từ khước đánh ngã mình. Con Thiên Chúa bị mọi người kể cả gia đình, hiểu lầm, và bị bỏ cô đơn trong thế gian này. Sự kiện Người không thể làm được phép lạ nào ở quê hương cho thấy tương quan giữa phép lạ và đức tin. Điều này không có nghĩa là quyền lực của Đức Giêsu bị hạn chế nhưng có nghĩa là khi ơn cứu độ được ban tặng trong phép lạ bị từ chối, thì không thể xảy ra phép lạ được. Nếu Đức Giêsu làm khác là Người không trung thành với sứ mạng của Người. Lời ghi thêm “Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ” nhằm làm giảm nhẹ nét tiêu cực nơi những gì được nói trước. Nhưng c. 6a kết luận vẫn ghi nhận sự cứng lòng tin và sự ngạc nhiên của Đức Giêsu.

     

* Đức Giêsu tiếp tục ra đi (6b)

Tuy nhiên, thất bại này vẫn không làm Đức Giêsu chán nản chùn bước. Người tiếp tục ra đi như Người đã nói với các môn đệ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (1,38).  


+ Kết luận

Đức Giêsu trở lại quê hương Nadarét. Người vào hội đường để giảng dạy, tức là thi hành sứ mạng ngôn sứ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, dù đã biết các phép lạ Đức Giêsu làm và nay vừa nghe Người giảng, dân làng Nadarét lại chỉ coi Người như là “bác thợ, con bà Maria, anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn” (c. 3a) mà thôi. TM Mc cho thấy liên hệ huyết thống cũng như tình đồng hương không giúp người ta nhận biết Đức Giêsu trong chân tính của Người. Muốn khám phá ra mầu nhiệm Đức Giêsu, người ta phải để cho chính Người dẫn dắt và giáo huấn ngày qua ngày. 


V. GỢi ý suy niỆm

1. Vấn đề trọng tâm của bản văn là đức tin. Tại nơi nào con người khép kín lại với Thiên Chúa, khi Ngài đang ngỏ với họ trong phép lạ, thì phép lạ trở thành chuyện phi lý. Cũng như quyền lực của Ngài là ơn cứu độ cho chúng ta, thì sự cứng lòng tin của chúng ta là sự bất lực của Ngài (Grašsser).


2. Sự từ khước ở Nadarét vẫn tồn tại. Con người hôm nay, những người Nadarét mới, vẫn đang thấy Đức Giêsu là một cớ gây ngạc nhiên và vấp ngã. Do sự từ khước của con người hôm nay, hoạt động cứu thế của Thiên Chúa như bị tắc nghẽn. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người.
3. Người môn đệ của Đức Giêsu không được nản chí khi gặp thất bại hay chống đối. Nhiệm vụ của họ là cứ ra đi để rao giảng Lời Chúa, để làm chứng, không nên bận tâm (và nặng lòng) với kết quả.

Lm. PX Vũ Phan Long, ofm 


CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

Chủ Ðề: Sứ mạng làm ngôn sứ

Lm Carolô Hồ Bặc Xái
I. DẪn vào Thánh lỄ

Anh chị em thân mến

Có lẽ anh chị em ít khi ý thức rằng qua bí tích rửa tội và thêm sức, chúng ta được chia xẻ với Ðức Giêsu sứ mạng làm ngôn sứ.

Hôm nay chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa để hiểu sứ mạng ấy là thế nào, và hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta chu toàn sứ mạng ấy.


II. GỢi ý sám hỐi

  • Chúng ta chỉ lo sống đạo cho mình mà không ý thức sứ mạng ngôn sứ của chúng ta.

  • Chúng ta không dám nói về Chúa cho người khác.

  • Chúng ta không can đảm bênh vực sự thật và công bình.


III. LỜi Chúa
1. Bài đọc I Êd 2,2-5

Ngôn sứ Êdêkien kể về ơn gọi của mình :

Ông đã được chính Thiên Chúa kêu gọi

Khi gọi ông làm ngôn sứ, Thiên Chúa ban "thần linh" cho ông.

Sứ mạng của ông là chuyển sứ điệp của Chúa đến với con cái Israel.

Nhưng đó là một sứ mạng khó khăn, bởi vì họ là một dân cứng lòng.



2. Ðáp ca Tv 122

Có thể coi Tv 122 này là những tâm tình của một người lãnh sứ mạng ngôn sứ:



  • Ngôn sứ luôn nhìn lên Chúa là Ðấng đã kêu gọi mình

  • Trong những lúc khó khăn, ngôn sứ cảm thấy ê chề chán nản

  • Nhưng ngôn sứ luôn trông cậy vào Chúa, xin Ngài cứu giúp.


3. Bài đọc II 2 Cr 12,7-10

Thánh Phaolô chân thành chia xẻ tâm sự của mình :



  • Bản thân ông rất yếu đuối. Ông cảm thấy như có một cái dằm luôn đâm vào da thịt mình. Các chuyên viên Thánh Kinh đang tìm hiểu "cái dằm" này là gì. Dù chúng ta chưa xác định cụ thể, nhưng có thể hiểu đó là ám chỉ đến những sự yếu đuối của Phaolô.

  • Chính vì ý thức yếu đuối như thế nên nhiều lần ông ngã lòng, xin Chúa cất khỏi cái dằm ấy.

  • Nhưng Chúa đã khích lệ ông : "Ơn Ta đủ cho con"

  • Cuối cùng ông tin tưởng và tiếp tục sứ mạng, "vì khi tôi yếu đuối chính là lúc tôi mạnh mẽ".


4. Tin Mừng Mc 6,1-6

  • Ðức Giêsu trở về quê hương mình là Nadarét. Ðến ngày Sabát, Ngài vào hội đường và giảng Thánh Kinh.

  • Ban đầu những người đồng hương rất ngạc nhiên bởi sự khôn ngoan của Ngài và vì những phép lạ Ngài làm ở những nơi khác.

  • Nhưng khi nhớ đến nguồn gốc tầm thường của Ngài (chỉ là một người thợ mộc, bà con với những dân làng bình thường), họ không tin Ngài nữa.

  • Chính vì thái độ không tin ấy, nên ở Nadarét Ðức Giêsu không làm nhiều phép lạ.


IV. GỢi ý giẢng

* 1. Tiếng nói của những ngôn sứ

Tiếng nói của những ngôn sứ rất lạ thường, vì ngôn sứ không nói tiếng nói của loài người mà là tiếng nói của Thiên Chúa. Loài người thường "lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau", còn Thiên Chúa thì nói thẳng sự thật để dạy dỗ hoặc sửa lỗi. Mà "sự thật mất lòng" cho nên tiếng nói của Thiên Chúa nhiều khi chói tai.


Ngôn sứ nói tiếng nói của Thiên Chúa, nên nhiều khi chẳng những không được người ta nghe mà còn bị người ta ghét. Ngôn sứ Êdêkien thay mặt Chúa kêu gọi dân Do Thái hãy sám hối tội lỗi chứ đừng ỷ lại vào sự kiện họ có Ðền thờ tại Giêrusalem và cũng đừng nương dựa vào thế lực ngoại bang. Những lời nói này đã khiến dân Do Thái kết ông tội phạm thánh và phản quốc. Và họ đã nhiều lần bách hại ông, ông chỉ thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Gioan Tẩy giả thị bị Hêrôđê chém đầu vì đã dám lên tiếng vạch tội loạn luân của vua. Rất nhiều ngôn sứ khác cũng không thoát khỏi lao đao lận đận do đã thay mặt Chúa nói lên những "sự thật mất lòng".
Ngày nay có biết bao sự thật ê chề trong xã hội cũng như trong Giáo Hội. Thiên Chúa cần những ngôn sứ can đảm nói lên những điều đó. Nhưng buồn thay, đa số kitô hữu, thậm chí những cán bộ Tin Mừng và những tu sĩ, giáo sĩ đã chọn thái độ giả điếc làm ngơ và ngậm miệng. Chỉ vì muốn được yên thân. Như thế là không thi hành chức năng ngôn sứ của mình.

Ta có thể nói thẳng bằng những lời bộc trực, hoặc khéo léo hơn bằng lời lẽ từ tốn tế nhị, nhưng không bao giờ nên ngậm miệng không nói.


2. Tiêu chuẩn Chúa chọn người

Khi chọn ai, Chúa theo những tiêu chuẩn rất lạ : không cần học thức cao, không cần tài ba lỗi lạc, không cần khả năng khéo làm việc... Thánh Phaolô đã liệt kê 5 tiêu chuẩn Chúa theo :



  • những cái yếu đuối,

  • những cái ngu dại,

  • những cái hèn mọn,

  • những cái bị khinh thường

  • và những cái hư không. (Sunday School Times).


3. "Ơn Ta đủ cho con" (2Cr 12,9)

Thiên Chúa luôn ban cho ta đầy đủ ơn Ngài :

Khi gánh đời ta nặng hơn, Ngài ban thêm ơn

Khi công việc ta cực nhọc hơn, Ngài ban thêm sức

Khi Ngài gởi khổ sầu, Ngài cũng gia tăng lòng thương xót

Khi Ngài gởi đến thử thách, Ngài cũng gởi đến bình an

Lúc ta cảm thấy sức mình hầu như cạn kiệt thì đấy là lúc ơn Chúa thực sự tràn đầy. (Góp nhặt).
4. Phép lạ

Bài Tin Mừng hôm nay đề cập về Phép lạ: Ở quê hương Nadarét, Ðức Giêsu chỉ làm được một ít phép lạ bởi vì dân Nadarét không tin. Nhân dịp này, chúng ta hãy tìm hiểu xem : phép lạ là gì? và ngày nay phép lạ còn xảy ra nữa không?


Ðiều chúng ta cần lưu ý trước tiên là người ta dùng chữ phép lạ theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa rộng, phép lạ là một điều gì có vẻ khác thường, xảy ra lạ hơn bình thường và không giống như người ta dự kiến. Thí dụ như người Do thái ngày nay đã vận dụng nhiều cố gắng lao động, kết hợp với khoa học kỹ thuật mà trồng được những vườn cam ngon ngọt trên miền đất trước đây là sa mạc. Người ta đã coi đó là một phép lạ (theo nghĩa rộng). Còn theo nghĩa hẹp, nghĩa chính xác, phép lạ là điều không những kỳ diệu khác thường, mà còn xảy ra ngoài những quy luật tự nhiên nữa. Thí dụ: trong khoa vật lý học, chúng ta biết có quy luật là một vật có trọng lượng thì bị rơi xuống do sức hút của trái đất. Nhưng nếu có một người nào đó té từ một nhà lầu cao nhưng không rơi xuống đất mà cứ lơ lửng giữa chừng, thì khi đó sự kiện không xảy ra theo quy luật tự nhiên nữa, nên được coi là phép lạ.
Sau khi đã hiểu phép lạ là gì theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bây giờ chúng ta tìm hiểu xem có thể xảy ra phép lạ hay không. Phép lạ hiểu theo nghĩa rộng thì ai cũng nhìn nhận rằng có, kể cả những người không có đạo, kể cả những kẻ vô thần. Người ta nói nhiều đến phép lạ cải tạo ruộng đất, làm theo nghĩa hẹp thì những người vô tín ngưỡng lại không nhìn nhận. Bởi vì muốn có phép lạ theo nghĩa hẹp này thì cần có sự can thiệp của quyền năng thần thánh. Kẻ vô tín ngưỡng không công nhận thần thánh nên cũng không công nhận phép lạ.
Còn đối với chúng ta, những người Công giáo thì sao ? Dĩ nhiên vì tin vào quyền năng Thiên Chúa nên chúng ta nhìn nhận có phép lạ. Tuy nhiên cũng cần lưu ý thêm điều này là: Thiên Chúa không làm phép lạ một cách bừa bãi đâu. Vì như đã nói trên: phép lạ (theo nghĩa hẹp) là điều xảy ra ngoài quy luật tự nhiên. Quy luật tự nhiên ấy ai đã thiết lập ra ? Thưa là chính Thiên Chúa. Vậy nếu Thiên Chúa đã thiết lập những quy luật tự nhiên thì đương nhiên Thiên Chúa cũng muốn cho vạn vật vận hành theo đúng quy luật tự nhiên mà Ngài đã thiết lập. Chỉ thỉnh thoảng khi nào có một lý do thật quan trọng thì Chúa mới cho một sự kiện xảy ra ngoài những quy luật tự nhiên đó (và khi đó là phép lạ).
Vậy lý do quan trọng khiến Chúa làm phép lạ là gì? Thường là Ðức Tin. Phép lạ xảy ra để đáp ứng một lòng tin mạnh mẻ vững vàng - hoặc để mời gọi những người chứng kiến càng tin mạnh mẻ vững vàng hơn.
Trong các sách Tin Mừng chúng ta đã đọc thấy nhiều lần trước khi làm phép lạ chẳng hạn trước khi chữa cho một người mà từ thuở mới sinh Ðức Giêsu hỏi "Con có tin không ?" Người đó tuyên xưng đức tin thì Chúa mới làm phép lạ. Ngược lại, đối với vua Hêrôđê không tin mà chỉ muốn có phép lạ để xem cho thoả thích hiếu kỳ thì Ðức Giêsu không làm một phép lạ nào hết. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay cũng thế: những người đồng hương với Ðức Giêsu ở Nagiarét một mặt khinh thường Ðức Giêsu chỉ là con của một bác thợ một nghèo nàn tầm thường, nhưng mặt khác khi nghe biết Ðức Giêsu đã làm nhiều phép lạ ở những nơi khác thì cũng muốn Ðức Giêsu làm phép lạ ở quê hương Nagiarét cho họ hưởng nhờ thì Ðức Giêsu cũng không chịu làm phép lạ chỉ để thoả mãn tính vụ lợi của họ.

  • Có những người rất nhẹ dạ dễ tin: chuyện gì hơi lạ một chút cũng coi là phép lạ.

  • Có những người rất hay cầu xin phép lạ: phép lạ được trúng số, phép lạ được khỏi bệnh.

Không phải chúng ta không nên tin cũng như không nên cầu xin nữa. Nhưng sau những phân tích nãy giờ, chúng ta hãy lưu ý: điều quan trọng nhất trong các phép lạ không phải là khía cạnh lạ thường, khía cạnh lợi lộc của chúng, mà chính là Ðức Tin: phép lạ xảy ra là vì Ðức Tin: hoặc để đáp ứng đức tin mạnh mẻ của con người, hoặc để mời gọi con người qua đó mà càng tin vững hơn vào Thiên Chúa.

  • Ở Lộ Ðức, ở Fatima, ở La Salette v.v.... khi mà những biến cố lạ thường xảy ra làm nhiều người xôn xao thì Giáo Hội vẫn im lặng. Chỉ sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng một thời gian dài rồi thì Giáo Hội mới tuyên bố đấy là phép lạ. Giáo Hội cẩn thận như vậy là để khỏi rơi vào mê tín dị đoan. Thiết tưởng mỗi người chúng ta cũng phải cẩn thận như thế trước những điều xảy ra có vẻ khác thường, bởi vì Ðức Tin của chúng ta không phải là nhẹ dạ, mê tín, mà là một đức tin có nền tảng vững chắc, trong sáng.

  • Rồi trong cuộc sống đạo của chúng ta, điều quan trọng mà chúng ta phải chú ý hơn hết là cố gắng rèn luyện cho đức tin của mình càng ngày càng vững mạnh trong sáng hơn. Nói cụ thể:: tôi giữ đạo, tôi làm theo những điều Chúa dạy là vì tôi thực sự tin vào Chúa... chứ không phải vì tôi mong Chúa sẽ làm phép lạ cho tôi giàu có, cho tôi trúng số, cho tôi khỏi bệnh một cách lạ lùng... Những điều đó nếu thấy cần thì chúng ta cứ cầu xin, và Chúa nếu thấy rằng tốt thì sẽ ban cho chúng ta. Nhưng chúng ta không nên chỉ giữ đạo vì những điều đó. Chúng ta giữ đạo vì chúng ta tin vào Chúa. Tin vào Chúa chẳng những khi cuộc sống thoải mái dễ chịu, nhưng dù cuộc đời có gặp lúc gian nan, túng thiếu., bệnh tật, buồn khổ... chúng ta vẫn một niềm tin son sắt vào Chúa. Ðó mới là một đức tin vững mạnh.


5. Có tin mới thấy

Tại một vùng của nước Pháp, dân chúng có tập tục rất lạ. Ðó là vào sáng sớm Chúa Nhật Phục sinh khi hồi chuông đầu tiên của nhà thờ vang lên, tất cả mọi người đều trổi dậy chạy ra giếng làng để rửa mắt với giòng nước mát lạnh.

Nhiều bạn trẻ không hiểu vì sao lại chạy ra giếng rửa mắt, trong khi ngày nay gia đình nào cũng có các vòi nước trong nhà.
Lúc ấy các vị bô lão mới giải thích : Ðó là hình thức cầu nguyện bằng hành động, qua đó dân làng cầu xin Thiên Chúa ban cho họ đôi mắt đức tin mới, để họ thấy Ðức Giêsu Phục sinh đang hiện diện sống động giữa họ.




Với con mắt định kiến, thiển cận và hẹp hòi, những người đồng hương với Ðức Giêsu đã không nhận ra khuôn mặt thật của Người. Họ không tin Người là một tiên tri, lại càng không thể tin Người là Ðấng Cứu Thế, và chắc chắn họ chẳng ngờ mình là người đồng hương với Con Thiên Chúa.

Chính lòng ghen tỵ là một trong những nguyên nhân khiến "các tiên tri không được kính trọng ở quê hương mình" (Lc.4,24). Mc. Kenzie nói : "Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người ghen tỵ nhìn bằng kính hiển vi".

Họ không tin vì họ chỉ nhìn thấy quá khứ rất đỗi bình thường của Người.


  • Họ không tin vì họ chỉ nhìn thấy hiện tại của Người không một chút hào quang.

  • Họ không tin vì họ chỉ nhìn thấy nơi Người một bác thợ mộc rất mực âm thầm, khiêm tốn.

Chính vì không tin nên họ đã không thấy. Thấy đây là thấy toàn vẹn khuôn mặt của Thiên Chúa. Thấy đây là thấy Người bằng cái nhìn luôn đổi mới. Thấy đây là thấy với con mắt đức tin. Tác giả thư Do thái viết : "Ðức tin là bảo đảm cho những gì ta hy vọng, là bằng chứng cho những gì ta không thấy" (Dt.11,1). James Woodbridge viết : "Ðức tin là con mắt để nhìn thấy Chúa, là bàn tay để nắm lấy Người, là sức mạnh giúp ta tự hiến cho Người".
Cho dù Thiên Chúa là Ðấng toàn năng, Người có thể làm được mọi sự. Nhưng Người phải bó tay trước sự cứng lòng của con người. Người đã trở nên bất lực trước những kẻ thiếu niềm tin. Và quả thật, "Người đã không thể làm được phép lạ nào" tại quê hương mình. Thế mới biết con người có khả năng cản trở Thiên Chúa, con người có toàn quyền từ chối quà tặng của Người.
Nếu Phép lạ là quà tặng của Thiên Chúa, cần được đón nhận với Niềm tin ; thì chính Niềm tin là ân huệ của Thiên Chúa chỉ có thể nhận được với lời cầu nguyện. Cần phải cầu nguyện để có Niềm tin. Nhà bác học kiêm triết gia Pascal đã nói : "Ðể có niềm tin con người phải quì gối cầu xin".




Lạy Chúa, còn bao nhiêu việc lạ lùng Chúa muốn làm cho đời chúng con, xin Chúa ban thêm Niềm tin cho chúng con, để nhờ đó Chúa được tự do thực hiện những kỳ công của Người. Xin giúp chúng con cũng biết gieo rắc Niềm tin Chúa trong lòng mọi người. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
6. Mạnh và yếu

Câu chuyện sau đây có thể giúp chúng ta hiểu được lời của Thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay : "Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh" (2 Cr 12,10)

Hai người nghèo đi từ thành phố này đến thành phố khác để xin ăn. Một người rất vạm vỡ khoẻ mạnh và không bao giờ đau yếu, còn người kia thì ốm tong teo và hầu như lúc nào cũng bị bệnh. Anh chàng khoẻ mạnh thường cười chê anh chàng ốm yếu khiến chàng này rất buồn, anh cầu xin Chúa trừng phạt anh kia.

Khi hai người đến thủ đô thì vừa gặp lúc trong triều đình có chuyện buồn, là hai vị quan thân cận nhất của nhà vua vừa mới chết. Một người là cận vệ của nhà vua, người khoẻ mạnh nhất nước ; người kia là thái ý của nhà vua, người chữa bệnh giỏi nhất nước. Nhà vua sai người đi khắp nước để tìm hai người thay thế, và cuối cùng người ta cũng tìm được.

Nhưng trước khi bổ nhiệm hai người ấy vào chức vụ, nhà vua bảo họ hãy đưa ra bằng chứng về tài năng của mình. Người ứng cử vào chức cận vệ thưa : "Muôn tâu thánh thượng, hãy mang đến cho hạ thần người nào khoẻ mạnh và to lớn nhất. Thần sẽ giết chết hắn ngay lập tức chỉ bằng một cú đấm". Người ứng cử vào chức thái y thưa : "Xin hãy mang đến cho hạ thần người nào ốm yếu bệnh tật nhất. Thần sẽ chữa người đó hết mọi thứ bệnh chỉ trong vòng một tuần lễ."

Người ta lại đi tìm đối tượng cho hai ứng cử viên ấy thi thố tài năng. Và thật là bất ngờ, chính hai người ăn mày trên được chọn. Chỉ bằng một cú đấm, người ứng cử vào chức cận vệ đã giết chết người ăn mày to khoẻ. Và chỉ trong một tuần lễ, người ứng cử vào chức thái y đã chữa người ăn mày ốm yếu hết mọi thứ bệnh. Thế là sức mạnh của người ăn mày to khoẻ lại khiến anh phải chết, còn sự ốm yếu của người ăn mày bệnh tật lại giúp anh khoẻ mạnh !


Thánh Phaolô đã nói rất đúng : "Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh". Người ta thường không té ngã vì yếu, nhưng vì tưởng mình mạnh. Thánh Phaolô biết mình yếu, nhưng đồng thời Ngài cũng biết bù đắp sự yếu đuối của mình bằng sức mạnh vô địch của Chúa, "vì sức mạnh của Chúa được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối (của con người)". (Viết theo Flor McCarthy)
7. Dụ ngôn sống động về chung hiệp đại kết

Năm 1940 một thanh niên Tin Lành người Thụy Sĩ dừng xe đạp trước một ngôi làng hẻo lánh trong cảnh hoang tàn. Một bà cụ khẩn khoản nói với người thanh niên ấy : "Xin ở lại đây với chúng tôi vì anh thấy rõ chúng tôi sống trong cảnh cô lập." Người thanh niên ấy nay được cả thế giới biết đến với danh xưng thân thương là Thầy Roger. Ðối với thầy Roger, lời mời của bà cụ nói lên ý Chúa dành cho thầy. Khi ấy nước Pháp đang trong tình trạng chiến tranh, đất nước bị chia đôi, ranh giới giữa khu chiếm đóng và khu tự do xuyên qua làng Taizé. Thầy Roger đã kiếm cho mình một nơi ở và bắt đầu một đời sống cầu nguyện và suy niệm. Nhưng hoàn cảnh đặt thầy trước những con người cụ thể bị Ðức Quốc Xã truy lùng để tiêu diệt. Thầy đã đón tiếp và che giấu những người Do Thái đáng thương ấy. Một mình thầy đứng ra săn sóc an ủi những người nam và nữ chạy trốn quân đội Hít-le. Nhưng vì quân Ðức Quốc Xã truy lùng đối tượng gắt gao nên thầy buộc phải trở về quê hương Thụy Sĩ. Năm 1944, thầy Roger trở lại Taizé, lần nầy với 3 đồng chí quyết tâm gầy dựng nên cộng đoàn tu sĩ đại kết rộng mở. Mục tiêu mà cộng đoàn này nhắm thể hiện là trở nên như "bài dụ ngôn sống động về một đời sống chung hiệp". Cộng đoàn chủ tâm dâng lời cầu nguyện để góp phần làm cho các Giáo Hội Kitô được hòa giải. Hai chủ đích ở tâm điểm của sứ mạng theo thầy Roger là : Phải dám liều thân dấn mình vào việc giúp đỡ những người nghèo nhất và hoà giải với đức tin công giáo. Ngay từ ban đầu thầy Roger đã nối kết với Roma bằng những mối dây của niềm tin tưởng. Thầy đã kết thân với 3 vị Giáo Hoàng là Ðức Gioan XXIII, Ðức Phaolô VI và Ðức Gioan Phaolô II. Thầy nói : "Ðức Gioan XXIII đã là cha linh hướng đích thực cho chúng tôi. Chính ngài đã ủng hộ để cộng đoàn Taizé mà ngài gọi là mùa xuân, được chào đời."


Ngày nay cộng đoàn Taizé có cả trăm thành viên Công Giáo cũng như Tin Lành thuộc nhiều truyền thống khác nhau, đến từ hơn 25 quốc gia trên thế giới. Họ không nhận quà tặng nhưng tự mình lao động để góp phần nuôi sống cộng đoàn và chia sẻ với người khác. Họ cũng không nhận cho mình tài sản kế thừa nhưng chỉ nhận làm quà tặng cho người nghèo mà thôi. Kể từ những năm 50, cộng đoàn Taizé đã phái thành viên của mình đến sống nơi những môi trường nghèo trên thế giới. Riêng về nữ tu, có hội dòng thánh Anrê từng được thiết lập trong Giáo Hội Công Giáo đã 7 thế kỷ nay. Kể từ 1966, hội dòng này đã phái người đến ở một làng kế cận Taizé để tham gia việc đón tiếp khách từ thập phương.
Ảnh hưởng của Taizé về đại kết nhất là với người trẻ ở Âu Châu, thật là rõ nét. Ðể nâng đỡ người trẻ, cộng đoàn này đã khơi động một cuộc hành trình về tin tưởng lẫn nhau trên toàn cầu. Taizé không tổ chức người trẻ thành phong trào qui về Taizé, nhưng khuyến khích họ mang lại bình an, hoà giải, niềm tin tưởng lẫn nhau ngay nơi những thành phố, những đại học, những sở làm việc, những giáo xứ. Và như vậy, người trẻ được khuyến khích sống chung hiệp với mọi thế hệ. Về cuối mỗi năm dương lịch, Taizé có tổ chức một cuộc tập họp người trẻ tương đối lớn trong 5 ngày. Cuộc họp giới trẻ đại kết vào cuối năm 1994, thu hút hơn một trăm ngàn người trẻ từ nhiều nước tới họp tại Paris của nước Pháp.
Mỗi dịp tập họp như vậy, thầy Roger gửi đến tay người trẻ một bức thư được dịch ra trên 50 thứ tiếng. Nội dung thư đó bao gồm Lời Chúa như chất liệu để suy niệm suốt năm cho tới cuộc họp cuối năm tới. Thư đó vị sáng lập cộng đoàn Taizé thường viết từ một nơi nổi tiếng về mức sống nghèo của người dân như Calcutta, Chili, Haiti, Êtiôpi, Phi Luật Tân, Phi Châu....
Bởi đâu thầy Roger thực hiện được những việc có ý nghĩa thiêng liêng như vậy? Có lần thầy cắt nghĩa cho thấy thầy đã nhận sứ mạng góp phần hoà giải giữa các Kitô hữu từ nơi bà ngoại thầy. Ngoại của thầy đã từng trải qua hai cuộc chiến (1870 và 1914-1918) và đã từng dặn dò cháu Roger Schultz khi còn tấm bé rằng: "Cháu đừng trải qua những điều bà đã phải trải qua ! Ðừng chấp nhận nhìn cách bàng quan những điều bà đã mắt thấy tai nghe ! Hãy góp phần chuẩn bị để Âu Châu được bình an nhờ biết sống hoà giải giữa các Kitô hữu." Tuy là tín hữu Tin Lành, ngoại đã chọn đến nhà thờ Công Giáo để kín múc lấy sức mạnh hoà giải từ bí tích Thánh Thể. Thực ra ngoại không chỉ nói cũng không chỉ cầu nguyện, nhưng đã nêu gương sống động nhờ biết dấn thân tiếp đón những người già, phụ nữ và trẻ em, phải chạy giặc dưới làn bom đạn. Ngoại đã kiên trì làm việc thương người đó hầu như tới phút cuối cùng của đời ngoại.
Biến cố quyết định cho việc thầy Roger hiến dâng đời mình cho công cuộc hoà giải xảy ra khi thầy lên 17. Khi ấy thầy mắc bệnh lao phổi và nghiệm thấy cái chết không xa. Thầy đối diện với ý nghĩa cuộc đời và tự hỏi do đâu xảy ra đau khổ, hằn thù khiến các dân tộc sát hại nhau. Hỏi rằng có con đường nào giúp người này hiểu người kia để cùng nhau xây dựng hoà bình chăng ? Ðiều trở nên minh nhiên nơi nội tâm thầy Roger là cần phải chữa trị trái tim con người. Thầy nghe tiếng nói thúc giục thầy rằng: "Nếu quả thật có con đường hoà giải đó thì tôi hãy bắt đầu dấn thân bước theo con đường đó đi." Kể từ ngày thầy Roger nghe thấy lời thúc giục đó, thầy quyết tâm tận hiến cả cuộc đời để đạt cho được mục đích lý tưởng nầy để có được sự hoà giải và đại kết trong cộng đồng nhân loại. Nay thầy đã 84 tuổi và quyết định ấy càng thêm khởi sắc. (Lm Augustine sj, Vietcatholic 2001)
V. LỜi nguyỆn cho mỌi ngưỜi

Chủ tế : Anh chị em thân mến, Ðức Giêsu đã về thăm quê hương, nhưng những người đồng hương ở Nazaret đã không tin Người mà còn muốn hại Người. Chúng ta là Kitô hữu mang tên của Chúa, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện :

1. Xin cho mọi người Kitô hữu trong Hội thánh còn yếu đức tin hoặc còn cứng lòng tin / được soi sáng và thông hiểu / để lớn lên trong đức tin và có thể truyền giáo cho mọi người.

2. Xin cho mọi người trên thế giới còn đang chống đối hoặc dửng dưng với Thiên Chúa / đừng bắt buộc hoặc lôi kéo những người khác phải theo họ / nhưng biết tôn trọng tự do tín ngưỡng của mọi người.

3. Xin cho những người đang có những thành kiến hoặc thất vọng về Thiên Chúa / được gặp nhiều chứng nhân về sự thật và về tình yêu Thiên Chúa / để họ tìm ra ánh sáng và hy vọng.

4. Xin cho các Kitô hữu trong họ đạo chúng ta đừng tự hào mình đã biết tất cả về Chúa / không muốn tìm hiểu học hỏi gì thêm / để chỉ khư khư giữ lấy những thành kiến sai lầm về Chúa.

Chủ tế : Lạy Chúa Kitô, chúng con là Kitô hữu mang tên của Chúa, xin cho chúng con càng ngày càng hiểu biết Chúa đầy đủ hơn, để chúng con có thể giới thiệu Chúa cho mọi người thân cận, Chúa là Ðấng hằng sống hiển trị muôn đời.


Lm Carolô Hồ Bặc Xái
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

Lm. Augustine, SJ
Dụ ngôn sống động về chung hiệp đại kết

Năm 1940 một thanh niên Tin Lành người Thụy Sĩ dừng xe đạp trước một ngôi làng hẻo lánh trong cảnh hoang tàn. Một bà cụ khẩn khoản nói với người thanh niên ấy: "Xin ở lại đây với chúng tôi vì anh thấy rõ chúng tôi sống trong cảnh cô lập." Người thanh niên ấy nay được cả thế giới biết đến với danh xưng thân thương là Thầy Roger. Ðối với thầy Roger, lời mời của bà cụ nói lên ý Chúa dành cho thầy. Khi ấy nước Pháp đang trong tình trạng chiến tranh, đất nước bị chia đôi, ranh giới giữa khu chiếm đóng và khu tự do xuyên qua làng Tân Giang (Taizé). Thầy Roger đã kiếm cho mình một nơi ở và bắt đầu một đời sống cầu nguyện và suy niệm. Nhưng hoàn cảnh đặt thầy trước những con người cụ thể bị Ðức Quốc Xã truy lùng để tiêu diệt. Thầy đã đón tiếp và che giấu những người Do Thái đáng thương ấy. Một mình thầy đứng ra săn sóc an ủi những người nam và nữ chạy trốn quân đội Hít-le. Nhưng vì quân Ðức Quốc Xã truy lùng đối tượng gắt gao nên thầy buộc phải trở về quê hương Thụy Sĩ. Năm 1944, thầy Roger trở lại Tân Giang, lần nầy với 3 đồng chí quyết tâm gầy dựng nên cộng đoàn tu sĩ đại kết rộng mở. Mục tiêu mà cộng đoàn này nhắm thể hiện là trở nên như "bài dụ ngôn sống động về một đời sống chung hiệp". Cộng đoàn chủ tâm dâng lời cầu nguyện để góp phần làm cho các Giáo Hội Kitô được hòa giải. Hai chủ đích ở tâm điểm của sứ mạng theo thầy Roger là: Phải dám liều thân dấn mình vào việc giúp đỡ những người nghèo nhất và hoà giải với đức tin công giáo. Ngay từ ban đầu thầy Roger đã nối kết với Roma bằng những mối dây của niềm tin tưởng. Thầy đã kết thân với 3 vị Giáo Hoàng là Ðức Gioan XXIII, Ðức Phaolô VI và Ðức Gioan Phaolô II. Thầy nói: "Ðức Gioan XXIII đã là cha linh hướng đích thực cho chúng tôi. Chính ngài đã ủng hộ để cộng đoàn Tân Giang mà ngài gọi là mùa xuân, được chào đời."


Ngày nay cộng đoàn Tân Giang có cả trăm thành viên Công Giáo cũng như Tin Lành thuộc nhiều truyền thống khác nhau, đến từ hơn 25 quốc gia trên thế giới. Họ không nhận quà tặng nhưng tự mình lao động để góp phần nuôi sống cộng đoàn và chia sẻ với người khác. Họ cũng không nhận cho mình tài sản kế thừa nhưng chỉ nhận làm quà tặng cho ngươì nghèo mà thôi. Kể từ những năm 50, cộng đoàn Tân Giang đã phái thành viên của mình đến sống nơi những môi trường nghèo trên thế giới. Riêng về nữ tu, có hội dòng thánh Anrê từng được thiết lập trong Giáo Hội Công Giáo đã 7 thế kỷ nay. Kể từ 1966, hội dòng này đã phái người đến ở một làng kế cận Tân Giang để tham gia việc đón tiếp khách từ thập phương.
Chung hiệp với mọi thế hệ trên toàn thế giới

Ảnh hưởng của Tân Giang về đại kết nhất là với người trẻ ở Âu Châu, thật là rõ nét. Ðể nâng đỡ người trẻ, cộng đoàn này đã khơi động một cuộc hành trình về tin tưởng lẫn nhau trên toàn cầu. Tân Giang không tổ chức người trẻ thành phong trào qui về Tân Giang, nhưng khuyến khích họ mang lại bình an, hoà giải, niềm tin tưởng lẫn nhau ngay nơi những thành phố, những đại học, những sở làm việc, những giáo xứ. Và như vậy, người trẻ được khuyến khích sống chung hiệp với mọi thế hệ. Về cuối mỗi năm dương lịch, Tân Giang có tổ chức một cuộc tập họp người trẻ tương đối lớn trong 5 ngày. Cuộc họp giới trẻ đại kết vào cuối năm 1994, thu hút hơn một trăm ngàn người trẻ từ nhiều nước tới họp tại Paris của nước Pháp.

Mỗi dịp tập họp như vậy, thầy Roger gửi đến tay người trẻ một bức thư được dịch ra trên 50 thứ tiếng. Nội dung thư đó bao gồm Lời Chúa như chất liệu để suy niệm suốt năm cho tới cuộc họp cuối năm tới. Thư đó vị sáng lập cộng đoàn Tân Giang thường viết từ một nơi nổi tiếng về mức sống nghèo của người dân như Calcutta, Chili, Haiti, Eâtiôpi, Phi Luật Tân, Phi Châu?.
Bởi đâu thầy Roger thực hiện được những việc có ý nghĩa thiêng liêng như vậy? Có lần thầy cắt nghĩa cho thấy thầy đã nhận sứ mạng góp phần hoà giải giữa các Kitô hữu từ nơi bà ngoại thầy. Ngoại của thầy đã từng trải qua hai cuộc chiến (1870 và 1914-1918) và đã từng dặn dò cháu Roger Schultz khi còn tấm bé rằng: "Cháu đừng trải qua những điều bà đã phải trải qua! Ðừng chấp nhận nhìn cách bàng quan những điều bà đã mắt thấy tai nghe! Hãy góp phần chuẩn bị để Aâu Châu được bình an nhờ biết sống hoà giải giữa các Kitô hữu." Tuy là tín hữu Tin Lành, ngoại đã chọn đến nhà thờ Công Giáo để kín múc lấy sức mạnh hoà giải từ bí tích Thánh Thể. Thực ra ngoại không chỉ nói cũng không chỉ cầu nguyện, nhưng đã nêu gương sống động nhờ biết dấn thân tiếp đón những người già, phụ nữ và trẻ em, phải chạy giặc dưới làn bom đạn. Ngoại đã kiên trì làm việc thương người đó hầu như tới phút cuối cùng của đời ngoại.
Cần chữa trị trái tim con người

Biến cố quyết định cho việc thầy Roger hiến dâng đời mình cho công cuộc hoà giải xảy ra khi thầy lên 17. Khi ấy thầy mắc bệnh lao phổi và nghiệm thấy cái chết không xa. Thầy đối diện với ý nghĩa cuộc đời và tự hỏi do đâu xảy ra đau khổ, hằn thù khiến các dân tộc sát hại nhau. Hỏi rằng có con đường nào giúp người này hiểu người kia để cùng nhau xây dựng hoà bình chăng? Ðiều trở nên minh nhiên nơi nội tâm thầy Roger là cần phải chữa trị trái tim con người. Thầy nghe tiếng nói thúc giục thầy rằng: "Nếu quả thật có con đường hoà giải đó thì tôi hãy bắt đầu dấn thân bước theo con đường đó đi." Kể từ ngày thầy Roger nghe thấy lời thúc giục đó, thầy quyết tâm tận hiến cả cuộc đời để đạt cho được mục đích lý tưởng nầy đ36 có được sự hoà giải và đại kết trong cộng đồng nhân loại. Nay thầy đã 84 tuổi và quyết định ấy càng thêm khởi sắc.


Hỏi rằng tinh thần hoà giải và đại kết mà thầy Roger khơi dậy nơi các Kitô hữu Aâu Châu và trên thế giới, nhất là nơi người trẻ, có liên quan gì đến bài Tin Mừng hôm nay nói về dân làng Nadarét từ khước Ðức Kitô?
Khởi sự ta nên cùng với Ðức Gioan Phaolô II, nhìn toàn bộ lịch sử Kitô giống như một con sông duy nhất có nhiều nhánh sông mang nước về. Năm 2000 mời gọi chúng ta gặp gỡ nhau với một sự trung thành mới và bằng một sự hiệp thông sâu xa trên bờ sông của con sông lớn này, con sông Mạc Khải, con sông Kitô giáo và con sông Giáo Hội chảy qua lịch sử nhân loại, bắt đầu bằng biến cố xảy ra ở Nadarét, rồi ở Bêlem, cách đây 2000 năm. Ðúng đây là con sông với những chi nhánh của mình, theo cách nói của Thánh Vịnh, "đem niềm vui cho thành đô của Nước Trời" (45/46,5) - Tiến Tới Thiên Niên Kỷ thứ 3, số 25.
Ta lưu ý về sự hiệp thông trên bờ sông thay vì trong con sông Kitô giáo và con sông Giáo Hội. Ðức Thánh Cha có ý nói tới một sự hiệp thông trong tình thần có thể được thực hiện ngay trên bờ sông, không phải chờ cho tới khi có một sự hiệp thông hoàn toàn.
Ðối diện với Ðức Giêsu Ðấng Thiên Sai, ngay từ ban đầu đã có sự bất đồng ý kiến trong việc chấp nhận Người. Ðức Giêsu đã tỏ ra là Ðấng có uy quyền trong lời nói (Mc 4) và trong hành động (Mc 5). Thế nhưng dân làng Nadarét từng sống với Người ba mươi mấy năm lại không tin vào Người! (Mc 6,6) Vấn đề muôn thuở sẽ là: Những ai đã có định kiến về Ðức Giêsu phải là người như thế này thế kia, giống như người này người kia mà thôi, những người ấy không thể nào lãnh hội được điều được mạc khải về căn tính của Ðức Giêsu.
Vượt khỏi thành kiến và óc địa phương để có thể chung hiệp

Vậy khi Ðức Giêsu cất tiếng giảng nơi hội đường về Nước Thiên Chúa đã đến gần (Mc 1,15), thì dân làng Nadarét khởi sự thán phục (Mc 6,2) nhưng rồi trở nên nghi ngờ và chống đối (cc 2b và3a). Cuối cùng họ không tin, tức là khước từ hoàn toàn. Phép lạ mà Ðức Giêsu thực hiện chính là cách Ngài đáp ứng lại niềm tin của con người được ơn phép lạ. Vì thế Người nói với bệnh nhân được chữa lành: "Lòng tin của con đã cứu chữa con" (Mc 5,34). Ngược lại, Ðức Giêsu từ khước làm phép lạ theo lời yêu cầu của người Pharisêu bởi vì họ không tin (8,11-12). Cũng nên nói thêm rằng bài Tin Mừng hôm nay nói tới "anh em" và "chị em" của Ðức Giêsu thì nguyên văn Hy Lạp là adelphos, chỉ về họ hàng bà con nói chung, không có ý nói về anh chị em ruột thịt.


Công việc hoà giải và đại kết của thầy Roger thật đáng thán phục. Công cuộc ấy, quả thật ngược hẳn với thành kiến địa phương của dân làng Nadarét. Bước tới thiên niên kỷ thứ ba mọi người Kitô thành tâm thiện chí đều ước ao có nhiều vị ngôn sứ như thầy Roger.
Mt s câu hi gi ý

  1. Bạn tâm đắc được gì về thầy Roger: Thầy thấy cần phải chữa trị trái tim con người? Bạn hiểu như thế nào về cuộc chữa trị đó? Thầy nói "nếu quả thật có con đường hoà giải đó thì tôi hãy bắt đầu dấn thân bước theo con đường đó đi!" Nhưng thầy còn thâm tín đó là một quyết định có giá trị cho tới khi thầy chết và nay thầy càng lúc càng đến gần hơn giờ phút ấy!

  2. Bạn nghĩ gì về thái độ của dân làng Nadarét ? Nghe Ðức Giêsu giảng, ban đầu họ thán phục, kế đến họ nghi ngờ và chống đối, cuối cùng họ từ khước và hoàn toàn không tin.


Lm. Augustine, SJ
THIÊN CHÚA LUÔN LÀM VIỆC

(Ed. 2: 2-5; 2Co. 12: 7-10; Mc. 6: 1-6)

Lm. Phạm Thanh Liêm, SJ

“Cha Ta hằng làm việc, thì Ta cũng làm việc” (Ga.5: 17). Đó là câu Đức Giêsu nói với người Do Thái khi họ tra vấn tại sao Ngài chữa bệnh vào ngày sabát, tức ngày nghỉ theo luật của người Do Thái. Thiên Chúa luôn làm việc: Ngài lôi kéo con người đến với Ngài. Ngài có thể dùng biến cố này biến cố kia, hoặc người này người kia, hoặc ngay cả những giới hạn của mỗi người để giúp con người đến gần Thiên Chúa.




1. Vẫn có một tiên tri ở giữa họ

Tiên tri thường được nhiều người hiểu như người biết trước biến cố sẽ xảy ra. Một người như vậy, cho thấy người đó có quyền năng của Thiên Chúa. Thế nhưng theo đúng nghĩa, tiên tri là ngôn sứ, người đại diện Thiên Chúa nói với dân chúng, người nói với dân chúng theo lệnh của Thiên Chúa. Tiên tri, là một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa hiện diện và quan tâm đến dân Ngài.


Trong lịch sử Do Thái, Thiên Chúa luôn yêu thương và săn sóc dân. Người Do Thái đã nhận ra các thẩm phán, các vua, là những người được Thiên Chúa xức dầu, là những người thay Thiên Chúa dẫn dắt và chăn dắt dân. Môsê là người được Thiên Chúa chọn để dẫn dân ra khỏi Aicập (Xh.3: 9-10), Samson là thẩm phán được Thiên Chúa dùng để giải phóng dân khỏi cảnh đàn áp của người Philitinh (Tp.13-16), Samuel là thẩm phán được sai tới để chăn dắt dân.


Tiên tri là người biết nhìn lịch sử, nhận ra sự can thiệp của Thiên Chúa trong cuộc sống mà nhiều người khác không nhận ra. Cũng có tiên tri không muốn thi hành chức năng “nói nhân danh Thiên Chúa cho dân” vì vị tiên tri biết rằng, mình có loan báo, thì dân chúng và những người lãnh đạo dân cũng chẳng nghe; như vậy, rao giảng chẳng có ích lợi gì mà chỉ chuốc lấy sự thù ghét và tai họa. Về điều này, tiên tri Yêrêmia là một điển hình. Lời Chúa trong sách tiên tri Êdêkiel hôm nay cho thấy, cho dù dân chúng có không nghe lời cảnh báo của Thiên Chúa qua tiên tri, thì ít nhất khi một tiên tri thi hành chức năng ngôn sứ của mình, cũng làm cho con người thời đại đó biết rằng, có một tiên tri đang hiện diện giữa họ: Thiên Chúa vẫn đang quan tâm và săn sóc lo lắng cho họ, cho dù họ có vâng nghe Thiên Chúa hay không.




2. Dầu vậy Đức Giêsu cũng chữa một vài bệnh nhân

Đức Giêsu được dân chúng cho là một tiên tri, và là một tiên tri lớn (Mt.16: 14). Với người Do Thái, Môsê là một tiên tri lớn. Người Do Thái vẫn mong ước vị tiên tri lớn cỡ tầm mức Môsê xuất hiện; vì như xưa Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu qua Môsê, thì khi vị tiên tri lớn tầm cỡ của Môsê xuất hiện, Thiên Chúa cũng sẽ làm những điều trọng đại cho dân tộc Do Thái như ngày xưa Ngài đã làm.


Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ, đã chữa lành nhiều bệnh nhân, đã phục sinh người chết, đã cho kẻ điếc được nghe người câm nói được kẻ què được đi. Ngài là một tiên tri, và là một tiên tri lớn. Chính Gioan tẩy giả cũng nghĩ rằng Đức Giêsu là vị tiên tri phải đến, vị tiên tri mà dân Do Thái hằng mong ước. Có thể đó là lý do tại sao Gioan lại sai môn đệ đến hỏi Đức Giêsu: “Ngài có phải là Đấng phải đến không?” Đã có lúc dân Do Thái muốn tôn Đức Giêsu làm vua, vì họ nghĩ rằng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu dân khỏi ách thống trị của người Roma (Ga.6: 15).


Không có tiên tri nào được đón nhận nơi quê hương mình. Người ta quá thành kiến về quá khứ hoặc thành phần giai cấp xã hội của vị ngôn sứ, nên không nhận ra sứ điệp hoặc sự can thiệp của Thiên Chúa qua họ. Khi Đức Giêsu trở về làng Nadarét, dân chúng đã không tiếp đón Ngài như một tiên tri, cho dù làng Nadarét là một làng nhỏ, và dân chúng nơi đó cũng không thông thái gì hơn những người ở thành thị khác ở đất nước Do Thái. Vì họ thiếu niềm tin, nên Đức Giêsu không thể làm những dấu lạ cả thể, Ngài phải ra đi. Tuy vây, “Ngài cũng đã làm một vài dấu lạ bằng cách đặt tay chữa lành một số người ốm đau bệnh tật”. Thiên Chúa vẫn luôn chứng tỏ sự hiện diện và quan tâm của Ngài đối với con người, cho dù con người có cố tình từ chối. Đức Giêsu là sự hiện diện đặc biệt của Thiên Chúa cho con người, không chỉ đối với những người làng Nadarét, nhưng còn cả đối với tất cả người Do Thái thời đó, và còn cho tất cả con người của mọi thời đại sau nữa. Đức Giêsu là dấu chỉ và biểu tượng Thiên Chúa đang ở với con người.



3. Ơn Ta đủ cho con

Trước biến cố ngã ngựa trên đường đi Đamát, Phaolô là nỗi kinh hoàng đối với Kitô hữu. Tuy nhiên một khi được ơn trở lại, Phaolô lại là dấu chỉ của Thiên Chúa quyền năng, Đấng luôn hoạt động và làm con người trở lại với Ngài. Cả cuộc đời còn lại, Phaolô hăng say loan báo Tin Mừng Phục Sinh: Thiên Chúa đã làm những điều cả thể cho con người nơi Đức Giêsu Kitô. “Kể từ khi biết Đức Giêsu, tôi coi mọi sự như thua lỗ bất lợi cả, trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa tôi”. Với những người biết Phaolô, Phaolô là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa luôn hoạt động nơi con người.


Với cá nhân Phaolô, “cái dằm” đâm vào xác thịt của Phaolô lại là điều Thiên Chúa dùng để làm Phaolô ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa và làm Phaolô gần gũi với Thiên Chúa. “Đã ba lần tôi xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt tôi, nhưng Ngài nói: ơn Ta đủ cho con”. Thiên Chúa không cất “cái dằm” khỏi Phaolô, nhưng Thiên Chúa hứa ban ơn để Phaolô vượt lên được: “Ơn Ta đủ cho con”.


Nhiều người cũng có cái dằm nơi xác thịt mình. Có lẽ những người này cũng có kinh nghiệm xin Chúa cất cái dằm ra khỏi xác thịt mình. Nhiều người trong họ có kinh nghiệm “cái dằm” đó vẫn tồn tại cho dù họ đã thành khẩn kêu xin Chúa nhiều lần. Tuy nhiên, không biết những người này có ý thức được rằng: câu Thiên Chúa nói với Phaolô cũng là câu Thiên Chúa muốn nói với mỗi người không? “Ơn Ta đủ cho con”. Hãy tin tưởng nơi Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã khởi đầu những điều kỳ diệu nơi mỗi người, thì cũng chính Thiên Chúa là Đấng sẽ hoàn thành những gì Ngài đã khởi đầu. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài vẫn đang hoạt động nơi mỗi người qua Thánh Thần của Ngài. Chỉ cần mỗi người tin tưởng và đặt tất cả hy vọng nơi Ngài mà thôi.


Câu hỏi gợi ý chia sẻ :



  1. Xin bạn kể một kinh nghiệm Thiên Chúa đã hoặc đang tác động trên bạn, nếu được.

  2. Với kinh nghiệm của bạn, Thiên Chúa là ai?


Lm. Phạm Thanh Liêm, SJ


CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

Lm. Ignatiô Hồ Thông

 
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật nầy nêu lên những khó khăn mà tất cả các ngôn sứ hay các tông đồ gặp phải, đặc biệt khi họ loan báo sứ điệp của mình cho những người đồng hương của mình. 

 
Ed 2: 2-5 

Ngôn sứ Ê-dê-ki-en nhận được sư điệp phải loan báo cho những người đồng hương của ông, những người lòng chai dạ đá nầy, một sứ điệp cứng rắn về việc phải thay lòng đổi dạ. 

 
2Cr 12: 7-10 



Thánh Phao-lô hãnh diện về những ơn đặc sủng mà mình đã lãnh nhận, nhưng thánh nhân cũng đã gặp phải không biết bao nhiêu khó khăn trong suốt sứ vụ tông đồ của mình: thủ thách cá nhân (“như một cái dầm đâm vào thân xác”), những bách hại, chống đối, nhục mạ, vân vân. 
Mc 6: 1-6 

Đức Giê-su trở về Na-da-rét đem đến cho những người đồng hương của Ngài giáo huấn của mình, nhưng đụng phải thái độ không hiểu và ngờ vực của họ.
BÀI ĐỌC I (Ed 2: 2-5) 

Cũng như ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en là tư tế Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, đồng thời cũng lãnh nhận ơn gọi ngôn sứ. Đây là trường hợp đặc biệt. 

 
Ê-dê-ki-en đã sống trong một thời đại bi thảm: đế quốc Ba-by-lon đã chinh phục xứ Pha-lệ tinh, triệt hạ thủ đô Giê-ru-sa-lem, phá hủy Đền Thờ và vương quốc Giu-đa. Dân chúng bị đưa đi lưu đày và sống ở đất khách quê người trong cảnh nghèo khổ, trải qua từ những nghi lễ huy hoàng ở Đền Thờ đến một tôn giáo trơ trụi, nội tâm. Sứ mạng chính yếu của ngôn sứ Ê-dê-ki-en là làm cho những kẻ lưu đày hiểu ý nghĩa của sự thử thách mà họ đang phải chịu để họ thay đổi “trái tim bằng đá thành trái tim bằng thịt”

 
Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay là bài trình thuật về ơn gọi của ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Bài trình thuật nầy nêu bật quyền năng bất khả kháng của tiếng gọi Thiên Chúa và trước sự siêu việt của Thiên Chúa, con người cảm thấy mình hư vô và nhỏ bé. Tuy nhiên, bài trình thuật nầy cũng làm cho hiểu rằng dù chỉ là một phàm nhân nhưng ngôn sứ trở nên vĩ đại biết bao dưới tác động của Thiên Chúa.  

 
1. Thần Khí nhập vào tôi: 

Thần Khí không là một ngôi vị biệt phân với Đức Chúa, nhưng một sự thôi thúc đến từ Thiên Chúa, “hơi thở của Ngài”


 
Thần Khí nhập vào ngôn sứ và làm cho vị ngôn sứ đứng dậy, nghĩa là, nếu chỉ cậy dựa vào sức lực của riêng mình, con người chỉ là thọ tạo yếu đuối và nghiêng ngữa; nhưng khi được Thiên Chúa nắm bắt, vị ngôn sứ là một con người đứng thẳng, kiên cường trong sứ mạng của mình. 

2. “Hỡi Con Người”. 

Đây là đặc ngữ Do thái, không có nghĩa nào khác ngoài “con người” nhưng muốn nhấn mạnh tính chất “phàm nhân”: một sự đối lập giữa sự vô nghĩa của phàm nhân và chiều kích cao cả của Thiên Chúa. Chính luôn luôn dưới danh xưng nầy: “Hỡi con người, hãy đứng cho thẳng Ta sắp phán với ngươi” mà vị ngôn sứ được Thiên Chúa chỉ định. Một cách nào đó, Thiên Chúa đòi hỏi nơi vị ngôn sứ đức tính khiêm hạ của một kẻ vô danh, như thử Thiên Chúa trao gởi một sứ mạng càng cao trọng bao nhiêu thì thừa tác vụ của ông càng phải khiêm tốn và nhỏ bé bấy nhiêu. 

 
Diễn ngữ nầy sẽ mặc lấy một ý nghĩa khác trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, ở đó “Con Người” vừa là một thành viên của nhân loại vừa thuộc nguồn gốc thần linh. Chính theo ý nghĩa nầy mà Đức Giê-su sẽ áp dụng cho mình tước hiệu nầy. 

 
3. Một dân phản loạn. 

Lời của Đức Chúa thì cứng rắn: “Một dân phản loạn…một bọn người mặt dày mày dạn và lòng chai dạ đá”. Đây sẽ là ngôn từ của Ê-dê-ki-en, một trong những ngôn từ nghiêm khắc nhất chưa bao giờ được viết ra chống lại tội lỗi của dân Ít-ra-en. Vị ngôn sứ không khoan nhượng một chút nào. Theo ông, dân Chúa chọn đã chẳng bao giờ thật sự trung thành với Thiên Chúa của mình. Vị ngôn sứ lên án tội lỗi của vua chúa, quần thần, tư tế và của mọi người, và ông loan báo cơn giận khủng khiếp của Thiên Chúa bằng những từ ngữ rắn rõi. Từ cảnh lưu đày của mình, ông thấy thành thánh Giê-ru-sa-lem hoang tàn đổ nát: “Hỡi con người, ngươi hãy nói với con cái dân ngươi; ngươi hãy bảo: Khi Ta cho gươm đến trừng phạt xứ nào, thì dân xứ ấy sẽ chọn một người trong số họ và đặt làm kẻ canh gác cho mình” (33: 2). 

Những biến cố của 587 trước Công Nguyên sẽ sớm chứng tỏ cho dân phản loạn nầy rằng “có một ngôn sứ ở giữa họ”. Ảnh hưởng tinh thần của Ê-dê-ki-en rất sâu xa sau cái chết bất ngờ của ông ở giữa cảnh lưu đày vào năm 571 trước Công Nguyên. 

 
BÀI ĐỌC II 2Cr 12: 7-10 

Trong vô vàn những khó khăn nảy sinh giữa vị tông đồ và các tín hữu Cô-rin-tô, đáng kể là những lời chỉ trích phê bình về chức vụ tông đồ của thánh nhân, đến từ “các Tông Đồ siêu đằng” (11: 5), “những kẻ đội lốt tông đồ của Đức Ki tô” (11: 13), họ sửa sai giáo huấn của thánh nhân, và vu khống hoạt động của thánh nhân là “sống theo tính xác thịt” (10: 2). 

 
Để lấy lại niềm xác tín của các tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô buộc phải tự biện hộ cho chính mình. Thánh nhân trình bày những đau khổ mà mình phải chịu và những ơn đặc sủng mà mình đã đón nhận (thị kiến, xuất thần, “được nghe những lời khôn tả mà không được phép nói lại” [12: 4]).  

 
1. “Cái dằm đâm vào thân xác”. 

Thánh nhân không muốn để cho mình bị mắc vào thói tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường đã nhận được nầy, vì thế, “để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dầm đâm vào”.

 
Các nhà chú giải luôn luôn tự hỏi lời nầy ám chỉ đến cái gì. Họ đã so sánh bản văn nầy với một đoạn văn của thư gởi tín hữu Ga-lát: “Anh em biết: nhân khi thân xác tôi đau ốm, tôi đã loan báo Tin Mừng cho anh em lần đầu tiên. Mặc dầu thân xác tôi là một dịp thử thách cho anh em, anh em đã không khinh, không tởm; trái lại anh em đã tiếp đón tôi như một sứ giả của Thiên Chúa, như Đức Giê-su Ki tô” (Gl 4: 13-14). Người ta đã nghĩ đến một khuyết tật bẩm sinh nào đó. Khoa ảnh tượng xưa trình bày thánh nhân lúc thì với đôi mắt lồi, lúc thì với đôi mắt lé. Người ta cũng đã gợi lên những xao xuyến tâm lý, như nỗi buồn phiền của thánh nhân vì đã không hoán cải được những người Do thái, đồng bào của thánh nhân, “anh em trong xác thịt của ngài”.  

 
2. “Đã ba lần, tôi xin Chúa…” 

Con số “ba” xem ra chỉ cường độ lời cầu nguyện của thánh nhân; cũng như Đức Giê-su ở trong vườn Ô-liu đã cầu nguyện ba lần. 

 
Thánh nhân đã luôn luôn cầu nguyện với Thiên Chúa. Thánh nhân không cầu nguyện với Đức Ki tô, nhưng luôn luôn cầu nguyện với Chúa Cha mà ngài gọi ở đây là Chúa, tước hiệu mà thánh nhân thích gán cho “Đức Giê-su Ki tô, Chúa chúng ta” hơn. 

 
3. “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh”. 

Chúng ta nhận ra rất rõ văn phong của thánh Phao-lô ở nơi biện chứng mạnh mẽ-yếu đuối. Càng xóa nhòa công sức của kẻ làm việc cho Thiên Chúa, càng bày tỏ quyền năng Thần Khí ở nơi mình. Hể có dịp là thánh Phao-lô lập lại tư tưởng nầy.

 
Lời kết của thánh nhân vừa khái quát vừa ám chỉ đến những xúc phạm và những xao xuyến mà các tín hữu Cô-rin-tô đã bắt ngài phải chịu; ngài cho họ hiểu rằng thái độ của họ sẽ không làm thay đổi thái độ của ngài luôn luôn cậy dựa vào Thiên Chúa.  

Chương 12 nầy, mà chúng ta chỉ đọc một đoạn trích, là một chứng liệu duy nhất để hiểu biết thánh Phao-lô. Không có những lời thú nhận nồng nàn nầy, chúng ta chỉ có một cái nhìn đại thể rất bất toàn về những thử thách của thánh nhân và những kinh nghiệm thần bí của ngài. Tâm tính bốc lửa của thánh nhân được bày tỏ ở đây rõ hơn nơi nào khác – một sự trộn lẫn đáng ngạc nhiên của tính tự phụ và đức khiêm hạ - và niềm tin bất trị của thánh nhân vào Đức Ki tô.  

 
TIN MỪNG Mc 6: 1-6 

Đây là lần đầu tiên Đức Giê-su có dịp trở lại nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài kể từ khi Ngài thi hành sứ mạng công khai của mình. Làm thế nào Ngài có thể bỏ quên những người mà Ngài đã chia sẻ cuộc sống trong nhiều năm mà không mang Tin Mừng đến cho họ được chứ? 

 
Chắc chắn Ngài không mong chờ họ sẽ hồ hỡi đón tiếp Ngài. Mới đây thân nhân của Ngài từ làng Na-da-rét đến thành Ca-phác-na-um toan tính bắt Ngài về, vì cho rằng Ngài mất trí. Đức Giê-su đã không bận lòng đến cách hành xử của họ; Ngài cũng đã ám chỉ một sự đoạn tuyệt: “Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12: 49-50; Mc 3: 35; Lc 8: 21).  

Quả thật, chuyến viếng thăm Na-da-rét của Ngài kết cục là một sự thất bại. Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều trình thuật biến cố nầy, bài tường thuật của Lu-ca cung cấp nhiều tình tiết nhất (Lc 4: 16-30). 

 
1. Thân thế và nghề nghiệp. 

Đến ngày sa-bát, Đức Giê-su vào giảng dạy trong hội đường”. Đây là phương thức rao giảng của Ngài. Ngài đã làm như vậy ngay từ đầu sứ vụ công khai của Ngài trong hội đường Ca-phác-na-um (1: 21). Đây cũng là phương thức mà thánh Phao-lô sẽ chọn. Phương thức nầy thành công đến mức các văn sĩ Do thái ghi nhận rằng không có các hội đường, Ki tô giáo sẽ không tràn lan… Chúng ta nên biết rằng hội đường là nơi tụ họp chứ không tế tự, bởi vì những hy lễ chỉ được tiến dâng ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Các tín đồ quy tụ ở đây để cầu nguyện, đọc và giải thích Kinh Thánh, hát những bài Thánh Vịnh, đặc biệt vào ngày sa-bát.  

 
Người đọc và giải thích Lời Chúa được chỉ định trước hoặc được chọn ở giữa những người tham dự. Vào ngày sa-bát nầy, trong hội đường Na-da-rét mà Đức Giê-su đã thường lui tới, Ngài là người đọc và giải thích (Lu-ca xác định bản văn mà Ngài đã đọc và giải thích). Giáo huấn của Ngài làm mọi người kinh ngạc: “Ông ta được khôn ngoan như thế, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì?” Người ta khâm phục tư tưởng của Ngài, và ngưỡng mộ những phép lạ mà Ngài đã thực hiện ở những nơi khác. Nhưng rồi người ta xúc phạm Ngài khi nghĩ đến thân thế và nghề nghiệp trước đây của Ngài. Mọi người trong làng nầy ai không biết gia đình của Ngài; bạn bè, họ hàng, bà con thân thích của Ngài hiện đang sinh sống ở giữa họ: Đức Giê-su đã là một con trẻ sinh ra và lớn lên trong làng nầy; Ngài là con bà Ma-ri-a. Còn về nghề nghiệp của Ngài, Ngài chỉ là một anh thợ mộc trong làng. Làm thế nào đôi tay mà họ đã từng thấy Ngài cưa, bào, đục, đẻo vân vân, lại có thể thực hiện những phép lạ được? Lẽ ra họ phải khởi sự tin vào Ngài, thì từ ngạc nhiên thán phục họ lại bổng trở nên thù địch công khai với Ngài. 


2. Con bà Ma-ri-a. 

Mác-cô không nhắc đến cha của Ngài, ông Giu-se. Phải chăng từ đó suy ra rằng ông Giu-se đã qua đời? Lý do nầy chưa đủ, vì để xác định căn tính của một người, công thức quen thuộc là phải trích dẫn tên cả cha lẫn mẹ, cho dù nếu một trong hai người, hay thậm chí cả hai đã qua đời đi nữa. Có lẽ đúng hơn, khi thánh Mác-cô soạn cuốn Tin Mừng nầy, Giáo Hội tiên khởi đã tin vào việc Đức Giê-su được thụ thai bởi người mẹ đồng trinh rồi (Mt 1: 18-20; Lc 1: 30-35); vì thế, khi tránh nêu tên cha Ngài, ông Giu-se, thánh ký muốn nhấn mạnh một cách kín đáo đức đồng trinh của Đức Ma-ri-a. 

 
3. Anh em của Ngài:  

Những “anh em” nầy là những anh em họ của Đức Giê-su. Từ “anh em” theo ngôn ngữ Hy bá có một phạm vi ngữ nghĩa rất rộng (tiếng Hy bá không có từ ngữ riêng biệt để chỉ anh em họ). Trong Kinh Thánh, từ “anh em” có thể để chỉ mối quan hệ họ hàng thân thích gần xa giữa bác hay chú và cháu (St 13: 8), hay anh em chú bác, cô cậu, hay con dì (Lv 10: 4; 1Sb 23: 21). Chúng ta biết hai trong số “anh em” nầy của Đức Giê-su: ông Gia-cô-bê, người sau nầy lãnh tụ Giáo Hội Giê-ru-sa-lem và ông Giô-xê mà mẹ của họ là bà Ma-ri-a, vợ ông Cơ-lô-pát đứng dưới chân thập giá (Mt 27: 56; Mc 15: 40-41; Ga 19: 25). 

 
4. Giá trị lịch sử của câu chuyện: 

Thân thế và hoàn cảnh sống của Ngài đã là “chướng ngại làm cho họ không tin vào Ngài”. Phản hứng nầy, về phương diện nhân loại có thể hiểu được, dâng hiến cho chúng ta một lợi ích lớn lao. Không kể đến giai thoại về Đức Giê-su lên mười hai tuổi ở giữa các tiến sĩ Luật trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, phản ứng của dân làng Na-da-rét nầy là ánh sáng duy nhất soi sáng cho chúng ta về cuộc đời ẩn dật của Đức Giê-su trong suốt ba mươi năm: một cuộc đời bình lặng không có gì trổi vượt như cuộc đời của bao nhiêu người Na-da-rét khác.  

Không ai có thể nghi ngờ căn tính đích thật của Ngài sống ở giữa họ, một cuộc sống của một con người thi hành nghề nghiệp của mình và đã chu toàn công việc của mình; không có bất kỳ một hành động phi thường nào. Thái độ của những người đồng hương của Ngài là một bằng chứng có giá trị. 

 
Trước sự từ chối của họ, Đức Giê-su trả lời bằng trích dẫn câu thành ngữ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình”. Câu thành ngữ nầy đã thường được kiểm chứng trong lịch sử Ít-ra-en. Bài đọc I đã cung cấp cho chúng ta một ví dụ về ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Nhưng biết bao nhiêu ngôn sứ khác có thể được nhắc đến! Ngôn sứ Ê-li-a bị hoàng hậu I-de-ven bắt bớ phải trốn chạy; ngôn sứ I-sai-a, thất vọng trước sự cứng tin của dân Ít-ra-en, cuối cùng dành riêng sứ điệp của mình cho chỉ các môn đệ của mình; ngôn sứ Giê-rê-mi-a bị nhục mạ, bị bách hại, vân vân. 


Dân Na-da-rét từ chối những dấu chỉ của Nước Trời. Đức Giê-su không thể làm được phép lạ nào tại đó, vì Ngài không gặp thấy niềm tin ở nơi họ. Chỉ vài bệnh nhân hưởng được lòng thương xót của Đức Giê-su. Trong Tin Mừng Mác-cô, không chỗ nào nêu rõ mối tương quan Chúa Giê-su đặt ra giữa đức tin và các phép lạ Chúa làm cho bằng bài trình thuật nầy. 

 
Với bài trình thuật nầy, giai đoạn thứ hai của Tin Mừng đã hoàn tất (3: 7-6: 6). Giai đoạn nầy đã nêu bật chủ đề nền tảng của Tin Mừng. Chúng ta đã gặp thấy nhiều thái độ khác nhau của những người đến và gặp gỡ Ngài, dù dân chúng, môn đệ hay các bà con họ hàng của Ngài, đều đặt ra cho mình “câu hỏi gai góc nhưng then chốt về thân thế sâu xa của Ngài”

 
Lm. Ignatiô Hồ Thông

CON MẮT ĐỨC TIN

Lm. Anphong Trần Đức Phương
Các Bài Đọc trong Chúa Nhật hôm nay cho chúng ta thấy phải có con mắt Đức Tin mới dễ nhận ra và chấp nhận những con người Chúa sai đến giữa chúng ta. Vì những người Chúa gọi và chọn cũng đều xuất thân từ những gia đình ở giữa chúng ta. Có người xuất thân từ gia đình giầu có, danh giá, trí thức; nhưng nhiều người lại xuất thân từ những gia đình khó nghèo, thuộc tầng lớp bình dân, lao động, nông dân…

 

Các Tiên Tri Chúa sai đến cũng thường bị nhìn nhận cách sai lầm và thường bị bạc đãi do người ta đánh giá các Ngài  theo con mắt người đời hơn là với con mắt Đức Tin nơi Thiên Chúa. Tiên tri Ezekiel trong bài Đọc I hôm nay (Ezekiel 2: 2-5) cũng chỉ là một người tầm thường nhưng đã được “Thánh Thần Chúa thánh hóa và sai đi để can đảm làm nhiệm vụ rất khó khăn, đầy thử thách giữa nghững người có tính kiêu căng, phản nghịch. Vị Tiên Tri đã phải chấp nhận những thái độ chống đối, coi thường ; nhưng luôn can đảm thi hành và rao giảng những mệnh lệnh của Chúa cho Dân Chúa; dù đôi khi những mệnh lệnh đó đi ngược với những thói quen, tật xấu của họ.



 

Trong Bài Đọc II (2 Corintô 12: 7-10), Thánh Phaolô thú nhận Ngài cũng chỉ là con người mang những yếu đuối của con người, nhưng lời Chúa hứa “Ơn Chúa đủ cho con”, đã giúp Ngài can đảm để đến với Dân Chúa và rao giảng, sửa dạy, ban hành những giới răn tình thương của Chúa. Nhiều khi Ngài cũng bị chống đối, dèm pha, nghi kỵ, vì lời khuyên giảng của Ngài đi ngược với sở thích và nếp sống theo thói tục thế gian của họ. Trong mọi hoàn cảnh, Thánh Phaolô luôn cố gắng để sống như một chứng nhân, một ngôn sứ trung thành của Chúa giữa mọi người.


Bài Phúc Âm (Matcô 6:1-6) nói về việc Chúa Giêsu trở về quê hương để giảng dạy. Mặc dù thán phục về những điều Ngài giảng dạy, và ngỡ ngàng trước cách Ngài giảng dạy, nhưng nhiều người vẫn không bỏ được lối đánh giá Ngài theo con mắt trần tục, và coi thường Chúa; vì trước đó, Ngài cũng đã từng sống với họ, cũng “chỉ là một người thợ mộc bình thường, cha mẹ và anh em họ hàng cũng chẳng có gì sáng giá hơn ai; Vì thế, họ coi thường và xúc phạm đến Chúa.” Chính Chúa Giêsu cũng phải “ngạc nhiên về sự cứng lòng tin của họ!” Vì họ thiếu lòng tin, nên Chúa Giêsu đã không làm một phép lạ đặc biệt nào ở chính quê hương của Ngài.

 

Những con người Chúa chọn và sai đến giữa chúng ta, dù là các Tiên Tri trong Cựu Ước, dù là các Tông Đồ như Phêrô, Phaolô…, các Linh Mục, Tu Sĩ, tất cả đều là những con người. Tất cả vẫn là những con người với những đức tính tốt, và cả những yếu đuối và khuyết điểm. Nhưng Chúa đã chọn và thánh hiến để sai đến giữa chúng ta, chúng ta chỉ có thể nhìn ra và chấp nhận họ với con mắt Đức Tin và lòng khiêm nhường mà thôi.



 

Hôm nay, chúng ta mừng Lễ Chúa Nhật vào thời gian toàn thể Giáo Hội đang cầu nguyện cách riêng cho các Linh Mục. Trong “Năm Linh Mục” (từ 19/6/2009 đến 19/6/2010), Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn vào gương mẫu Linh Mục rạng ngời của Cha Thánh Gioan Vianney. Xét về gia cảnh, Ngài cũng xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo; chính bản thân Ngài cũng là một người thợ, một người bình dân, trí khôn tầm thường, nhưng Chúa đã chọn và thánh hóa, biến cải Ngài trở nên một Linh Mục tuyệt vời. Trong “Năm Linh Mục”, chúng ta hãy cầu nguyện nhiều cho các Linh Mục đang âm thầm hoạt động khắp nơi trên thế giới để phục vụ Chúa và nhân loại. Xin Chúa ban ơn thánh hóa và gìn giữ các Linh Mục, và những người Chúa sai đến giữa chúng ta, luôn đủ ơn Chúa để sống xứng đáng những chứng nhân của tình thương xót Chúa giữa mọi người, kể cả những người vô thần chống đối Chúa và Giáo Hội Chúa. Xin cho các ngài luôn tin tưởng vào ơn Chúa trợ giúp, vì “Ơn Chúa đủ cho con!”


Lm. Anphong Trần Đức Phương
Trân trỌng con ngưỜi

vì phẨm chẤt cỦa hỌ

Mác-cô 6, 1-6

Lm. Ignatiô Trần Ngà

Tagore (1861-1941) là một đại thi hào của Ấn Độ, đoạt giải Nobel về văn chương năm 1913, có tài làm thơ ngay khi còn nhỏ tuổi. Lúc còn niên thiếu, thỉnh thoảng Tagore làm một vài bài thơ gửi đăng trên tờ báo do thân phụ của mình đảm trách phần biên tập. Khi thấy những bài thơ gửi đến ký tên con mình, người cha chẳng thèm đọc thơ mà quẳng ngay vào sọt rác vì cho rằng con mình còn nhỏ dại thì biết gì thi ca. Khi hiểu rõ sự tình, Tagore chép lại những bài thơ mà cậu đã gửi đăng báo, không ký tên thật của mình nữa mà lấy một bút hiệu khác rồi gửi lại cho toà báo.


Lần nầy, thân phụ của Tagore nhận thấy đây là những bài thơ có giá trị và cho đăng ngay lên báo mà không hề hay biết đó là những bài thơ của con trai mình, những bài thơ mà trước đây ông đã quẳng vào sọt rác.

Đúng là: "Bụt nhà không thiêng", hay nói như Chúa Giê-su: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi" (Mc 6, 4).


Ngay cả Chúa Giê-su cũng phải chịu cùng một số phận đó. Mặc dù danh tiếng Chúa Giê-su đã vang dội nhiều nơi nhờ những lời rao giảng khôn ngoan, nhờ việc chữa lành nhiều người bệnh tật và nhờ những phép lạ Người làm, thế nhưng khi trở về quê quán, những người đồng hương nhìn vào gia thế thanh bần của Chúa Giê-su, nhìn đến anh chị em họ hàng của Người thuộc hàng dân dã, và ngay cả bản thân Người trước đây cũng chỉ là một anh thợ mộc bình dị trong làng, nên họ không còn quý trọng và đặt niềm tin vào Người nữa.

Họ xì xào bàn tán với nhau: "Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a, và anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao? Và họ vấp ngã vì Người" (Mc 6,3)

Bấy giờ Chúa Giê-su nêu lên một nhận định có phần chua xót: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi."

Thế là Chúa Giê-su chẳng làm được phép lạ nào tại Na-da-rét (Mc 6, 5) cho người đồng hương. Người rời bỏ quê nhà đi rao giảng nơi khác.


Tiếc thay, vì đánh giá Chúa Giê-su theo lớp vỏ bên ngoài, dân làng Na-da-rét đánh mất dịp may đón nhận những hồng phúc mà Chúa Giê-su ưu ái dành cho họ.

Việc đánh giá Chúa Giê-su dựa vào gia thế, nghề nghiệp mà không dựa vào phẩm chất của Người đã chứng tỏ cho thấy dân thành Na-da-rét đề cao giá trị vật chất mà xem nhẹ giá trị tinh thần.

Có giai thoại kể rằng một người thù ghét chủ tiệm buôn lớn, đã lợi dụng sơ hở của chủ nhân nên lẻn vào cửa tiệm giữa đêm khuya. Y tháo gỡ miếng giấy ghi giá bán của những mặt hàng có giá trị cao, đem dán vào những mặt hàng rẻ mạt, rồi gỡ miếng giấy ghi giá bán những mặt hàng rẻ mạt gắn vào những món hàng quý báu. Thế là các món hàng quý báu bị mất giá nghiêm trọng còn những món hàng rẻ mạt thì được nâng cao giá trị gấp trăm lần. Hành động quái ác nầy khiến khách hàng không thể nhận ra đâu là giá trị đích thực của các món hàng nên đã mua lầm một cách tai hại (ý tưởng của Frère Phong trong cuốn “mắm muối cho bữa ăn hằng ngày”)


Ngày nay, các giá trị của đời sống con người cũng đang bị đảo lộn y hệt như thế, khiến nhiều người đua đòi chạy theo những điều phù phiếm mà rời xa những giá trị tinh thần và văn hoá cao đẹp.


Vì đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị tinh thần nên giới trẻ ngày nay đua đòi ăn mặc hợp thời trang, dù phải mặc những loại y phục thiếu nết na và kỳ quái, và cho rằng có như thế mới khẳng định được giá trị của mình!


Vì đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị tinh thần nên nhiều người sẵn sàng hiến thân làm nô lệ cho tiền bạc, cố tìm cách trở nên giàu sang bằng mọi giá, cho dù phải bán rẻ lương tâm, danh dự và ngay cả thân xác mình!

Vì đề cao giá trị vật chất và xem nhẹ giá trị tinh thần nên người ta đánh giá con người dựa theo số lượng của cải mà người đó sở hữu chứ không dựa vào phẩm chất cao đẹp bên trong.

Trước thực trạng đó, Công Đồng Vaticano II nhắc nhở mọi người: “Giá trị con người không hệ tại những gì người ta sở hữu nhưng tuỳ thuộc phẩm chất của mỗi người"


Nguyện xin Chúa Giê-su giúp chúng ta đừng theo vết dân thành Na-da-rét ngày xưa, đánh giá con người theo hình tướng bên ngoài, nhưng biết tôn trọng con người vì phẩm chất cao quý của họ và vì họ là chi thể của Chúa Giê-su và là hiện thân của Thiên Chúa.


Và xin cho nhân loại hôm nay biết nhận ra đâu là giá trị tinh thần cao quý đáng theo đuổi suốt đời và đâu là điều xa hoa phù phiếm không nên quyến luyến ham mê.


Lm. Ignatiô Trần Ngà
HỌ khưỚc tỪ Ngài

Lm Giacôbê Tạ Chúc
Nhìn nhận một Đức Giêsu của lịch sử, người ta dễ dàng chấp nhận. Thế nhưng khi đối diện với một Giêsu của niềm tin, con người như rơi vào hòan cảnh lúng túng. Liệu Đức Giêsu thành Nazareth có phải là Đấng Messia không? Não trạng của dân Do Thái ngày xưa cũng chẳng khác gì con người trong thời đại ngày hôm nay. Mãi mãi Ngài vẫn là một ẩn số trong một phương trình hoặc có một nghiệm, nhiều nghiệm hay vô nghiệm. Con người không thể tự sức mình mà khám phá hết về Chúa Giêsu, chỉ khi nào họ biết khiêm nhường và biết nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu với tâm tình tin tưởng và lắng nghe, lúc đó họ mới có thể biết về Ngài.

Tiên tri Êdêkien sống vào khỏang năm 593-571 trước công nguyên, ông có kinh nghiệm về một dân tộc bội ước quên thề, trong thời lưu đày Babylon, Thiên Chúa sai ông đến với nhà Itrael, đến với một dân tộc ương nghạnh:”Người phán với tôi:”Con người hỡi, Ta sai ngươi đến với nhà It-ra-el, đến với những dân phiến lọan, đã từng dấy lọan chống lại Ta, chúng và cha ông chúng đã từng làm nghịch với Ta, cho đến mãi ngày hôm nay”(Ed 2, 3). Quả là bi đát cho số phận của các Tiên tri, họ luôn phải sống với những con người lọan tặc, và tâm trạng của các Tiên tri là khiếp sợ, vì bị chống đối, bị ruồng bỏ. Chúa Giêsu số phận của Ngài cũng chẳng khác gì với những Tiên tri trong thời cựu ước. Ngài trở về quê hương Nazareth, nơi sinh trưởng của mình. Nhưng lạ lùng thay, dân ở đây không tin vào Ngài. Một cuộc tranh luận xảy ra, Đức Giêsu thành Nazareth là ai? Do đâu mà Ngài có quyền năng trên bệnh tật, thiên nhiên và con người. Các phép lạ xảy ra một cách nhãn tiền. Lý luận mãi cũng không xong, sau cùng người ta quy về thân thế của Ngài:” Ông ta không phải bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giuse, Giuda và Simon sao?”( Mc 6,3). Như thế một cách có chủ ý, người ta phủ nhận một Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, điều này được chứng tỏ khi họ không đón nhận và tin vào Ngài. Chi tiết mà thánh Marcô ghi nhận là Ngài bị xem thường ở chính tại quê hương mình. Dân Do thái ngạc nhiên về những việc làm của Chúa Giêsu, nhưng tiếc thay họ vẫn cứng lòng. Chúa Giêsu cũng biết được điều này khi Ngài thốt lên:”Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính tại quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi”(Mc 6, 4).Thiên Chúa đến với con người, nhưng con người vẫn không đón nhận và tin vào Ngài. Trái đất này là quê hương của Chúa, nhưng khi Chúa đến con người vẫn chối từ Ngài. Ngài là Con Thiên Chúa, nhưng người ta vẫn khăng khăng khẳng định Ngài chỉ là con ông thợ mộc Giuse và Mẹ Maria là Mẹ Ngài.


Thế giới ngày nay cũng có vô số những con người không nhìn nhận Thiên Chúa có chủ quyền trên cuộc đời mình. Từ chỗ khước từ Thiên Chúa, họ cũng phủ nhận anh em mình. Vì không có niềm tin, con người sẵn sàng hành động theo bản năng của mình. Một khi sống và làm việc theo bản năng hạ đẳng con người không còn biết tôn trọng phẩm giá của mình và anh chị em xung quanh. Chúa Giêsu đến để kêu mời nhân lọai cộng tác với Ngài xây dựng một cuộc sống chan hòa tình yêu thương.



Lm Giacôbê Tạ Chúc

BỤt Nhà Không Thiêng

Lm. Jos Tạ duy Tuyền

Trong truyện cổ Trung hoa có kể rằng: Dương Phủ lúc còn nhỏ nhà nghèo, nhưng hết sức cấy cầy để phụng dưỡng cha mẹ. Một hôm ông nghe bên đất Thục có ông Võ Tề đại sư rất nổi tiếng, ông liền xin song thân đến tầm sư học đạo. Đi được nửa đường, ông gặp một vị lão tăng bảo ông rằng:



  • Được gặp Võ Tề đại sư chẳng bằng gặp Phật

Dương phủ hỏi:

  • Phật ở đâu?

Lão tăng bảo rằng:

  • ngươi cứ quay trở về, gặp người nào quấn vải trên người, đi dép ngược là chính Đức Phật đó.

Dương phủ nghe lời quay về, đi đường chẳng gặp ai cả. Về tới nhà, đêm khuya, trời tối, ông gọi cửa. Mẹ ông nghe tiếng con mừng quá, chạy vội ra, quấn vội chiếc mền vào người, đi đôi dép ngược ra mở cửa cho ông. Bấy giờ ông nhìn kỹ, giống như hình dáng Đức Phật mà lão tăng đã mô tả.

Từ đó, ông mới hiểu ra rằng: Phật chẳng ở đâu xa mà là chính cha mẹ ở trong nhà. Đúng như cha ông ta vẫn nói: “Tu đâu cho bằng tu nhà – Thờ cha kính mẹ mới là đạo con”. Thế nhưng, thói đời thì vẫn thường là: “Bụt nhà không thiêng” hay “Gần Chùa gọi Bụt bằng anh”. Người ta xem thường những con người đang chung sống với mình. Ít ai nhận ra điều hay, cái đẹp mà những người thân nhất đang cống hiến cho chúng ta. Có khi còn dửng dưng, xem thường và cư xử thiếu kính trọng với những con người đang sống vì chúng ta. Có nhiều người ở ngoài đời thì nhẹ nhàng, tao nhã, lịch sự, về nhà lại gắt gỏng, chửi chồng đánh con hay đánh vợ chửi con. Có nhiều người thì dễ dàng mở miệng khen ngợi hàng xóm láng giếng, kể cả người dưng nước lã, thế mà, người trong gia đình lại suốt ngày cau có, phàn nàn. Có nhiều người luôn nghĩ cách làm vui lòng hàng xóm nhưng lại tàn bạo thô thiển với gia đình dòng tộc. Có nhiều người luôn tỏ ra đáng yêu trước người dưng nước lã, nhưng lại đáng ghét với người thân họ hàng.Họ chính là những người dại khờ mà cha ông ta bảo rằng: “khôn nhà dại chợ”, hay “làm phúc nơi nao để cầu cao rách nát”.


Đó cũng là thái độ của những người đồng hương với Chúa Giêsu. Họ đã vấp phạm với Chúa. Vì họ quá biết về gốc gác, gia cảnh của Chúa. Con bác thợ mộc và bà Maria đang chung sống giữa họ. Đầu óc thủ cựu, lại nặng thành kiến nên không thể nhận ra thiên tính nơi con người của Chúa Giêsu. Dù rằng họ thán phục về tài ăn nói lưu loát của Chúa. Dù rằng họ thán phục vì sự hiểu biết Kinh Thánh của Chúa. Dù rằng họ đã chứng kiến biết bao phép lạ mà Chúa đã làm để cứu chữa các bệnh nhân khỏi đau khổ bệnh tật và khỏi cái chết đã định. Nhưng vì sự kiêu ngạo, cố chấp, dân Do Thái đã không chấp nhận một vì Thiên Chúa quá giản dị như Giêsu con của bác thợ mộc thành Nagiarét. Đối với một dân tộc đã từng tự hào có Thiên Chúa ở cùng. Có cánh tay quyền năng của Chúa đã giúp họ đánh bại quân thù. Tâm trí họ chỉ trông đợi một Đấng Messia oai hùng, Đấng sẽ đến trị vì muôn nước và sẽ giúp họ làm bá chủ hoàn cầu. Chính vì lẽ đó, người đồng hương đã không nhận ra Chúa là Đấng Messia và còn có những lời nói, cử chỉ bất kính. Với thái độ cực đoan đó, Chúa Giêsu đã vạch trần tâm ý của họ với một lời thật xót xa “Không một tiên tri nào được kính trọng tại quê hương mình”.


Đó là cách cư xử bất công của con người ngày hôm qua cũng như hôm nay. Họ đánh giá nhau theo định kiến có sẵn trong đầu. Đôi khi còn bị ác cảm, yên trí về địa vị, gia tộc và quá khứ của một người, khiến chúng ta đánh giá sai lệch và nông cạn về nhau. Thực tế là vậy, khi chúng ta đã không có cái nhìn khách quan sẽ dẫn đến những nhận định bất công và thiếu trung thực. Vì “Yêu ai thì nói quá ưa – Ghét ai nói thiếu nói thừa như không”. Người tốt hay xấu tùy thuộc vào cái nhìn của chúng ta. Có người ở đây được coi là xấu, ở nơi khác lại được đánh giá là tốt. Có người ở nhà được coi là vô tích sự nhưng ở ngoài lại hoạt bát nhanh nhẹn. Có người ở đây được tán thưởng, ngợi khen, về nhà bị khinh bỉ, xem thường.


Phải chăng Lời Chúa hôm nay là lời nhắc nhở về thái độ vô ơn và bất cập của chúng ta? Tại sao chúng ta không khuyến khích nhau vươn lên thay vì kèn cựa và nói hành nói xấu lẫn nhau? Tại sao chúng ta không có cái nhìn cái tốt về nhau để sống vui tươi lạc quan, thay cho cái nhìn thiển cận và thiếu yêu thương chỉ dẫn đến đau buồn và thất vọng? Xin Chúa giúp chúng ta đủ khôn ngoan nhận ra giá trị lớn lao của nhau, để có thái độ tôn trọng và tri ân. Xin Chúa ban cho chúng ta một tâm hồn rộng mở và giầu lòng quảng đại để chúng ta đón nhận nhau trong yêu thương, và nhất là biết đối xử tốt với nhau khi còn đang sống bên nhau, đừng để thời gian trôi qua trong sự tiếc nuối xót xa.. . vì mình đã không một lần đối xử tốt với những người thân yêu mà nay đã không còn. Amen




Lm. Jos Tạ duy Tuyền

THÌ RA CHÚA VẪN CÓ Ở ĐÂY

Lm. Giuse Trương Đình Hiền


DẪn nhẬp đẦu lỄ :

Anh chị em thân mến,

Sứ điệp phụng vụ hôm nay muốn nhấn mạnh với cộng đoàn chúng ta ý nghĩa nầy : nhịp sống cơ bản của cộng đoàn Giáo hội, của đời sống đích thực là kitô hữu đó chính là qui tụ nhau lại chung quanh Đức Kitô để lắng nghe Lời Ngài, để tái diễn Hiến Tế của Ngài, để gặp gỡ và chia sẻ chính Thân Mình Ngài. Chính vì thế, Lời Chúa hôm nay sẽ giúp chúng ta tự vấn thường xuyên về thái độ nghiêm túc hay không của chính mình khi đứng trước Lời Chúa và sự hiện diện của chính Chúa.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta …..



GiẢng LỜi Chúa :

1. Sự kiện thường tình nhân loại : Chuộng cái lạ, thích cái mới…

Tâm lý của con người thường giống nhau điểm nầy; thích cái gì mới lạ, chuộng cái gì ở xa, quí cái gì ít gặp, ít thấy; và dĩ nhiên, hay có thái độ ngược lại; coi thường cái ở gần, coi rẽ cái thường gặp, thường thấy, thường đụng chạm trong cuộc sống.


Trong đời sống đức tin cũng không thoát khỏi cái lề thói không hay nầy. Thật vậy, người tín hữu thường hay chuộng hay kiếm tìm những hiện tượng lạ lùng, những biến cố mầu nhiệm hãn hữu, những phép lạ động trời…mà thường lãng quên, lãnh đạm đối với các mầu nhiệm trọng đại đang hiện diện nơi đây, lúc nầy.


Bằng chứng là năm vừa rồi, chỉ với vài vết nhăn trên bức tượng đá cẩm thạch Nữ Vương Hòa Bình trước Nhà Thờ Đức Bà Sài đã lôi kéo hàng vạn con người đổ về để chiêm ngưỡng, cầu nguyện, tôn kính…Trong khi đó, ở phía sau lưng tượng đá Đức Mẹ đó, có Nhà Tạm với Thánh Thể Chúa Kitô hiện diện từng ngày, từng giờ thì vẫn cứ leo lét chiếc đèn chầu với một ít ông già bà già lặng lẽ cầu nguyện…


Vì thế chúng ta cũng chẳng lấy làm lạ khi tại những nơi vào những ngày đại hội giới trẻ quốc tế, khi ĐGH hiện diện thì có hàng triệu người nô nức đón chào, tập họp để sau đó, cũng tại nơi nầy, có biết bao ngôi thánh đường trống không, hoang vắng, dầu cho nơi những thánh đường nầy có chính Đức Kitô đang hiện diện đầy ắp quyền năng và thân thương, Người mà vị giáo hoàng kia, cho dù thánh đến đâu, thông minh đến mấy, tài giõi dường nào, cũng chỉ là kẻ đại diện thấp hèn, bất xứng.


Tôi có thể đánh cá với anh chị em rằng : mai mốt, hay một ngày nào đó, có Đức Giáo Hoàng ở Rôma hay một Đức Hồng Y của Giáo triều sang thăm chính thức Việt nam tại Tuy Hòa nầy, thì chắc chắn có rất nhiều người bỏ công ăn việc làm, hy sinh mọi thứ để đi đón rước “Đấng Nhân Danh Chúa mà đến”…Nhưng ở đây, trong nhà thờ nầy, nơi Nhà tạm nầy, chính Con Thiên Chúa đang hiện diện trọn vẹn, đầy ắp …thì hỏi thử có được bao nhiêu người đến tôn thờ, cung chiêm bái kính ?


2. Sự kiện trong lịch sử cứu rỗi :

Thái độ xem ra đáng trách nầy Không chỉ có trong Giáo hội hôm nay, mà tận xa xăm vào thời sứ ngôn Ê-dê-ki-en, Dân ưu tuyển của Chúa, Ít-ra-en, cũng đã từng trãi nghiệm một thái độ đức tin thiếu nền tảng và thiếu trưởng thành, như chúng ta vừa nghe công bố qua một trích đoạn sách sứ ngôn Ê-dê-ki-en trong BĐ 1 : “Những đứa con mặt dày mày dạn, lòng chai dạ đá…chúng có thể nghe hoặc không nghe, nhưng chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng”.


Nhưng cụ thể nhất là câu chuyện về cuộc “hồi hương về làng” của chính Chúa Giêsu do Mác-cô kể lại : Khi nghe Chúa giảng dạy trong hội đường quê hương vào ngày sabat, dân Na-da-rét đã “khinh mạng dể duôi: “Ông Ta không phải là bác thợ, con bà Maria và là anh em của các ông Gia-cô-bê, Gio-xết, Giu-đa và Si-mon sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?” và họ vấp ngã vì Người. Đức Giêsu bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở quê hương mình, hay giữa đám thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi”…


3. Những bài học cho đời sống đức tin hôm nay :

- Hãy trở nên nghèo, khiêm hạ để đón nhận Lời và sự hiện của Đức Kitô :


Như vậy, không thể gặp được một Đức Kitô, không thể tin được một Thiên Chúa khi con người mang theo trên mình cả “bộ giáp sắt” kiêu căng hợm hĩnh của mình. Hêrôđê, Philatô, các tư tế Do Thái, những đại gia tiền của, thế lực kếch xù…những hạng người đó không có trong hàng ngũ nhưng kẻ tin vào Đức Kitô Đấng Cứu Thế. Quan hệ với Ngài nếu có chỉ là để theo dõi, rình chờ cơ hội hãm hại, bắt bẻ trong lời nói việc làm, phê bình chỉ trích thái độ hành động và ứng xử…và nhất là để kết án, loại trừ.

Muốn đến với Thiên Chúa, muốn gặp gỡ Đức Kitô để nhận được hồng ân, để “ăn mày phép lạ”, thì phải bước theo lộ trình của Tin Mừng. Đó chính là những con đường mà Đức Kitô đã vạch lối chỉ đường :



  • Hãy trở nên như một em bé : “Nếu không trở nên như em sẽ không được vào nước trời”.

  • Hãy khiêm hạ như mẹ Maria : “Nầy tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền”

  • Hãy trung thành gắn bó như Phêrô và các tông đồ : “Bỏ Thầy con biết đến cùng ai. Thầy có những lời ban sự sống đời đời”.

  • Hãy phó thác và để Lời dẫn đưa cho dù đói khát nơi hoang mạc như đám dân nghèo khố rách áo ôm nơi hoang mạc : “Ta thương đám dân nầy, vì họ bơ vơ tất tưởi như chiên không kẻ chăn”.

  • Hãy quỳ xuống với những giọt nước mắt sám hối như những người tội lối hối cải; Người thu thuế, M.Mađalêna, Giakê, tên trộm…”Lạy Chúa xin thương xót con vì con là người tội lỗi”.

  • Hãy tin tưởng phó thác đầy lòng trông cậy vững vàng như những người xấu số bạc mệnh : mù què đuôi điếc, bệnh hoạn tật nguyền…”Tôi chỉ đụng vào gấu áo của Người thôi”

  • Và hãy như Thánh Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay ý thức thân phận hèn yếu của chính mình : “Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sĩ nhục hoạn nạn, bắt bớ ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh”

Đón nhận Lời và sự hiện hữu của Đức Kitô ở đâu :



  • Không phải chỉ ở những đại lễ long trọng với âm thanh to, ánh sáng rạng rỡ, trang trí hoành tráng…mà trong mọi thánh lễ hàng ngày, nơi tòa giải tội giản đơn, nơi các buổi sáng âm thầm rửa tội cho các trẻ em và những buổi hoàng hôn cử hành bí tích xức dầu bệnh nhân cho những ông bà già yếu liệt…

  • Không phải chỉ ở nơi những thánh điện, thánh đường nguy nga to lớn đồ sộ với các cuộc lễ đại trào với các chức sắc cao cấp của Giáo hội, nhưng cũng còn ở những mái tranh lá ọp ẹp của buôn làng dân tộc, những ngôi nhà nguyện xa xôi hẻo lánh của những thôn làng nghèo khổ của những anh chị em nông dân tay lấm chân bùn…

  • Đó chính là sự hiện diện êm đềm, bình dị như đứa bé oa oa trong máng cỏ hang lừa thuở nào ở Bê Lem, như chàng thợ mộc ở mái tranh nghèo của Giuse và Maria thành Na-da-rét, của vị Thầy mệt mõi ngủ gà ngủ gậc trên chiếc thuyền tròng trành biển động của Phêrô, như người khách lạ trên đường Emmau sẵn sàng chén tạc chén thù với các môn sinh bên quán nhậu bên đường, hay như một tên tội đồ trần trường bị đóng đinh giữa hai người trộm cướp…

  • Và sự hiện diện của Lời Chúa và của chính Chúa vẫn đang hiện diện nơi đây, trong Nhà Thờ nầy, trong nhà tạm nầy, trong những con người linh mục mõng dòn yếu đuối nầy, trong cộng đoàn còn mang bao dấu vết của bất toàn, khiếm khuyết nầy…

  • Chính vì thế, điều quan trọng không phải cứ mãi miết đi tìm một hình tượng Giêsu vinh thắng khải hoàn uy nghi trên mây trời hay trong vương quyền chính trị hùng oai…mà hãy đến cúi đầu thờ lạy Chúa Giêsu ở đây trong hình bánh và hình rượu sắp sửa biến thành mình và máu để nuôi dưỡng và ở lại với chúng ta.

Tóm lại, nếu phép lạ đã không xảy ra nơi quê hương Na-da-rét vì nơi đó dân không đón nhận Lời và sự hiện diện của Đức Kitô với niềm tin khiêm hạ, thì ước gì hôm nay, sự kiện nầy sẽ không tái diễn ở đây, nơi quê hương Tuy Hòa nầy, với chúng ta khi chính nơi đây, giờ phút nầy, cũng chính Đức Kitô đó, cũng chính Thầy Giêsu Na-da-rét đó lại một lần nữa đang trở về công bố Lời Chúa cho ta và tái diễn hy tế cứu độ để đem ta vào hạnh phúc vĩnh cửu.


Chúng ta phải reo lên : “Thì ra Chúa vẫn có ở đây. Ôi !

Chúng con thật có phúc vì đã tin”.


Lm. Giuse Trương Đình Hiền

THÀNH KIẾN LÀM CẢN TRỞ ÐỨC TIN

Ed 2:2-5; 2 Cr 12:7-10; Mc 6:1-6

Lm Trần Bình Trọng

Trong thời Cựu ước, Thiên Chúa phán với loài người qua các ngôn sứ và các tổ phụ. Các ngôn sứ được Chúa sai đến thường bị bạc đãi và tẩy chay như ngôn sứ Êdêkien được: Sai đến với dân phản nghịch đang nổi loạn chống lại (Ed 2:3) Thiên Chúa. Cuối cùng Thiên Chúa sai chính Con Một Người đến mạc khải trực tiếp cho nhân loại về tình yêu và đường lối của Người


Thánh Phaolô cũng chịu chung một số phận như các ngôn sứ: Bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Ðức Kitô (2Cr 12:10). Khi Ðức Giêsu về thăm quê nhà như Phúc âm hôm nay thuật lại, Người gặp thái độ nghi ngờ và tẩy chay của người đồng hương. Dân chúng không phàn nàn vì lời Người giảng dạy có tính cách nông cạn. Trái lại họ phải sửng sốt về những lời giảng dạy sâu sắc của Người. Dân chúng cho rằng họ biết tất cả về gia cảnh, thân thế và sự nghiệp của Người. Họ biết Người là con bà Maria nội trợ, con nuôi ông thợ mộc Giuse, không được đi học trường đạo tạo giáo sĩ hay kinh sư. Thế thì tại sao Người lại có thể biết nhiều về Kinh thánh như vậy? Vì thế họ không chấp nhận Người.


Những thành kiến của họ có tính cách cố định. Thành kiến đã làm trở ngại cho những cuộc tiếp xúc giữa Ðức Giêsu và người đồng hương. Chính những thành kiến đó làm cản trở ơn thánh đến với họ. Họ nuôi quan niệm sai lầm về Ðấng Cứu thế. Theo họ thì vị thiên sai phải là một nhà lãnh đạo chính trị lỗi lạc, một nhà cải cách xã hội tài ba, một vị tướng lãnh tài giỏi, bách chiến bách thắng, có thể đưa dân tộc họ lên hàng bá chủ hoàn cầu. Khi họ nhận ra Ðức Giêsu không thích hợp với với quan niệm họ sẵn có về Ðấng cứu thế, thì họ từ khước Người. Vì thế đối với họ, Ðức Giêsu không thể là Ðấng cứu thế. Thành kiến của họ đã làm cản trở cho đức tin vào Chúa, vào lời Chúa và quyền năng của Chúa như Chúa muốn họ tin tuởng. Do đó Ðức Giêsu nói với họ: Ngôn sứ có bị coi rẻ thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình (Mc 6:4). Phúc âm hôm nay ghi lại: Người đã không thể làm phép lạ nào tại đó, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân (Mc 6:5). Sở dĩ Ðức Giêsu không làm phép lạ nào được vì như lời Phúc âm ghi lại họ cứng lòng tin (Mc 6:6).


Ta có thể thầm trách đám đông trong Phúc âm hôm nay đã tẩy chay Chúa. Tuy nhiên ta có thể mang tội giống như người trong Phúc âm hôm nay. Nếu ta chỉ đi tìm Chúa nơi những người quyền cao chức trọng, hay ở những nơi huy nga tráng lệ mà thôi, ta sẽ khó tìm thấy Chúa. Thiên Chúa còn hiện diện nơi những người bình thường mà ta thường gặp, cũng như những sự việc xẩy ra thường ngày. Ta khó nhận ra những dấu vết của Chúa nơi người khác cũng như sự việc ta gặp hằng ngày nếu ta để cho thái độ quen quá hoá nhàm xâm chiếm đời sống tư tưởng của ta.


Thiên Chúa không những hiện diện ở những nơi tầm thường như phố nhỏ Nadarét, mà còn ở nơi dơ bẩn, hôi hám như trong máng cỏ Bêlem. Ta có thể tìm thấy Chúa nơi người đau yếu, bệnh tật, nghèo khổ và tù đầy. Ðó là điều Chúa nói trong Phúc âm thánh Mát-thêu: Khi Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn (Mt 25:35). Ðể có thể tin, người ta phải giữ tâm hồn rộng mở. Nếu ta để cho thành kiến về đạo giáo làm mù quáng, thì những thành kiến có thể làm cản lối Chúa vào nhà tâm hồn. Nếu ta vịn cớ nọ cớ kia để đóng cửa nhà tâm hồn, thì Chúa cũng chịu, không vào được, vì Chúa đã ban cho loài người được tự do và Chúa tôn trọng tự do của loài người. Ân huệ và quyền năng của Chúa tuỳ thuộc vào việc mở rộng tâm hồn của mỗi người. Chúa không ép buộc ai theo Chúa và sống theo đường lối đức tin. Chúa chỉ mời gọi. Việc chấp nhận hay không là tuỳ thuộc vào mỗi người.


Nếu ta để cho thành kiến và tính ganh tị lấn át, ta sẽ không nhìn thấy những ưu điểm và khả thể nơi tha nhân. Nếu ta phán đoán lời nói hay việc làm của người khác chỉ dựa trên bằng cấp, sự nghiệp, chức quyền và gia cảnh của họ là ta để cho thành kiến len lỏi vào óc phán đoán của ta. Lời nói hay việc làm có giá trị thường mang tính chất khách quan chứ không tuỳ thuộc vào bằng cấp, sự nghiệp, chức quyền hay gia cảnh của người nói hay làm. Nghe những lời nói hay việc làm mang khuyết điểm của người khác mà đóng cửa lòng lại, không tìm đến với họ, không cho họ cơ hội để bầy tỏ lí do, thì có phải là quan niệm hẹp hòi chăng? Gặp người khác lướt qua một vài lần, nói mấy lời xã giao mà đã kết luận người đó tốt xấu, thì không phải là nhận xét nông cạn sao? Bỏ việc thờ phượng hay nghe lời giảng dậy ngày Chúa nhật chỉ vì thắc mắc về khả năng hoạt bát và trình độ học vấn của linh mục cử hành thánh lễ và rao giảng thì có phải là một quyết định không dựa trên đức tin chăng? Buồn giận một linh mục nào đó mà không tìm đến thờ phượng ở bất cứ nhà thờ công giáo nào khác thuận lợi, thì có phải là hành động giận cá băm thớt không?


Hôm nay mỗi người cần cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho ta được ơn nhận lãnh đức tin. Ta cần cảm tạ Chúa cho cha mẹ và người đỡ đầu, đã gieo vãi hạt giống đức tin vào tâm hồn ta khi đưa ta đến giếng nước rửa tội. Ta cần cảm tạ Chúa cho những người đã nuôi dưỡng và nâng đỡ đời sống đức tin của ta để hôm nay ta có thể bầy tỏ đức tin vào Chúa, vào lời Chúa và quyền năng Chúa. Ta cũng xin Chúa ban cho mình biết mở rộng trí óc và tâm hồn đón nhận lời Chúa.


Lời cầu nguyện xin cho được mở rộng tâm hồn: Lậy Ðức Giêsu, con xin tạ ơn Chúa đã ban cho con được ơn nhận lãnh đức tin qua bí tích Rửa tội. Xin tha thứ những lần con để cho thành kiến vể đạo và người giảng đạo, làm cản trở đức tin vào Chúa. Xin cho con biết loại bỏ thành kiến sai lầm và ban cho con một tâm hồn rộng mở để con biết nhìn người và sự vật trong nét trung thực, dưới ánh sáng chân lí soi dẫn. Amen.



Lm Trần Bình Trọng

VẤP NGÃ VÌ CHÚA, TẠI SAO?

Mc 6, 1-6

Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

Khi đánh giá và nhận định về một ai đó, dường như có một quan niệm “bất thành văn” đã, đang và sẽ còn tồn tại trong tâm trí con người. Đó là nhìn họ ở dáng vẻ bên ngoài hay lưu ý đến bảng khai lý lịch, thân thế và sự nghiệp hơn là nhìn ra bản chất bên trong của họ. Quan niệm “thâm căn cố đế” này, bằng nhiều cách, đi sâu vào trong từng quốc gia, từng phong tục tập quán của mỗi dân tộc và không buông tha bất cứ người nào. Nạn nhân tiêu biểu hứng chịu “búa rìu dư luận” này không ai khác chính là Chúa Giêsu – người đến từ Thiên Chúa để mang lại ơn cứu độ cho nhân loại.


Sau thời gian miệt mài rao giảng ở Caphácnaum và quanh biển hồ Galilê, Chúa Giêsu trở về Nazarét- quê hương dấu yêu. Những tưởng sự hiện diện cũng như những lời rao giảng trong Hội đường Dothái của Người sẽ được người thân cũng như dân làng Nazarét đón nhận hay ít nữa cũng có điều gì đó tự hào về người con của dân làng. Nhưng không. Mặc dù lời giảng dạy của Chúa Giêsu khiến không ít người ngạc nhiên nhưng điều đó không đủ khiến họ thay đổi cách nhìn về nhân thân của Người. Lý do hết sức đơn giản là họ biết quá rõ nguồn gốc xuất thân của Người. Hãy xem cách họ đặt vấn đề cũng đủ hiểu đối với họ, Chúa Giêsu chẳng có gì đặc biệt. “Bởi đâu ông ta được như thế?... Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?”.


Thế đấy. Chính vì họ nhìn Chúa Giêsu là một con người hết sứ bình thường, một con người cụ thể bằng xương bằng thịt đã từng chung sống quanh họ; công việc của Người cũng hết sức tầm thường, quanh năm suốt tháng lam lũ với nghề mộc – một nghề thời đó không chỉ làm ra các vật dụng bằng gỗ mà còn có thể xây nhà và làm ra các vật dụng từ các vật liệu khác nữa. Thế mà giờ đây, sau một thời gian rời xa quê làng, cái ông thợ mộc này lại làm được những điều “quái lạ”, thật chẳng thể nào tin được!


Từ cách nhìn nhận và đánh giá thiển cận ấy, thay vì hãnh diện, người dân Nazarét lại vấp ngã vì Người. Họ vấp ngã vì Người, bởi gia thế của Chúa Giêsu không sáng giá; Họ vấp ngã vì Người, bởi trước mắt họ, Chúa Giêsu chỉ là một người phàm không hơn không kém; Họ vấp ngã vì Người, bởi gia đình ông thợ mộc này nghèo nàn quá, tầm thường quá từ lý lịch xuất thân cho đến nghề nghiệp cũng như địa vị xã hội; Họ vấp ngã vì Người, bởi, dù không nói như các Kinh sư rằng Chúa Giêsu “dựa vào thế quỷ vương” để làm những việc “quái dị”, nhưng chính thái độ khinh thường ra mặt cũng đủ nâng họ lên ngang hàng với mấy ông Kinh sư của họ. Cũng từ những lý do đó mà sau này không chỉ dân làng Nazarét mà còn nhiều người khác nữa đã quay lưng lại với Chúa Giêsu, cùng với sự kiêu ngạo và nổi loạn để rồi cuối cùng kéo bè kéo phái đóng đinh Người vào thập giá.


Dân làng Nazarét đã không nhìn ra sứ mệnh thần linh vẫn âm thầm tiềm ẩn bên trong con người Chúa Giêsu. Có thể nói chính vì quá chú trọng hình thức bên ngoài, chú trọng đến gia thế, địa vị xã hội, chú trọng đến bảng kê khai lý lịch, … đã làm cho tâm hồn của họ trở nên chai cứng, trở nên chướng ngại vật không dễ gì vượt qua để tìm đến chân lý vẹn toàn. Còn chúng ta thì sao, những Kytô hữu của thời đại hôm nay? Rất có thể chúng ta cũng đang đánh giá và nhìn nhận Chúa Giêsu và Tin mừng của Người qua lăng kính do chúng ta dựng nên. Rất có thể chúng ta đang tìm một điều gì đó hấp dẫn hơn nằm bên ngoài Chúa Kytô, nên ngoài Tin mừng bởi cho rằng Chúa Kytô và Tin mừng của Người trải qua hơn hai ngàn năm nên chẳng có gì mới mẻ và thật là nhàm chán. Đây là lúc chúng ta cần phải nhìn lại thái độ và lập trường của mình đối với Chúa Kytô cũng như Tin mừng của Người để từ đó thay đổi cách nhìn, cách đánh giá hầu có thể mang đến cho chúng ta sự bình an và ơn cứu rỗi.


Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa đã đến thế gian mặc lấy thân phận yếu hèn như chúng con, sống cuộc đời đạm bạc và lam lũ kiếp người để chia sẻ cuộc đời khốn khó của chúng con và cuối cùng đã dùng cái chết để mang lại ơn tha tội và cứu rỗi cho chúng con. Xin cho chúng con được biết nhìn ra Chúa trong thân phận kiếp người ấy để không ngừng yêu mến, quý trọng và nhìn ra những giá trị cao quý nơi anh em đồng loại.



Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

SỰ YẾU ĐUỐI LÀ NỖI TỰ HÀO

Lm Nguyễn Khoa Toàn

“Vạch phân chia tốt xấu xuyên thâu qua trái tim mỗi người. Và có lòng dạ nào lại nỡ đâm nát chính trái tim mình?” Alexander Solzhenitsyn.


Surah Luqman đã viết rằng nếu đuợc chọn giữa tài tiên tri và óc khôn ngoan, ông ta sẽ không ngần ngại chọn khôn ngoan vì ông không thể chịu đựng đuợc gánh nặng của sự tiên tri. Nếu biết trước những việc tốt xấu có thật sẽ xảy đến và nếu phải gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh thì quả thật ơn tiên tri kia là một gánh nặng khôn cùng.


Tôi linh cảm đuợc gánh nặng ngàn cân kia vào những ngày đầu tu học. Hình ảnh về một linh mục “siêu nhân” trong tuổi ấu thơ và ngay cả lúc còn trai trẻ đã vội vàng tan biến như khói như mây khi gẫm suy bài viết rất thâm sâu của Cha Giáo Tập Michael Buckley thuộc Dòng Tên ở Hoa Kỳ với tựa đề “Are you weak enough to be a priest?”


Vị tiên tri thời đại, nếu có thể mạnh dạn gọi như thế, trong một Thánh Lễ truyền chức, đã nhắn nhủ cùng các ứng viên rằng câu hỏi cần thiết nhất và duy nhất họ phải thành thật tự hỏi lòng mình là “bạn có đủ yếu đuối để là Linh Mục không?” Yếu đuối không thôi cũng chưa đuợc! Điều kiện ắt có và đủ để trở thành môn đệ Chúa Kitô là cần hội đủ yếu đuối. Không cần một ngoại hình tốt. Cũng chẳng phải một đài trán cao. Cần đủ yếu đuối: lời khuyên thật chân thành của một linh mục đàn anh dày dạn kinh nghiệm đạo đời kia phải là hành trang cho những thế hệ chủ chiên mai hậu.


Không như những nghành nghề khác, thiên chức linh mục đòi hỏi phải sống cùng sống với những yếu đuối của tha nhân như lời Solomon ben Meir ha-Levi: “Nếu bạn muốn cứu một người ra khỏi vũng bùn nhơ hôi thối, đừng một phút giây nào nghĩ rằng bạn chỉ cần đứng trên đất cao và đưa tay cho người kia nắm với. Chính bạn phải nhảy vào vũng bùn nhơ hôi thối kia và bằng vòng tay rắn chắc của bạn, ôm chặt người ấy và tự kéo cả hai lên bờ cao ánh sáng.” Hoặc nói như thánh Phaolô: “Với những người yếu đuối, tôi đã nên yếu đuối để đem lợi ích cho những người yếu đuối” (1Cor 9.22).


Một Mẹ Bề Trên Dòng Biển Đức đã chia sẻ cùng các tân tập sinh là một nữ tu cần phải dùng sức mạnh tinh thần mình đạt đến những điều hoàn thiện nhưng cũng không nên ngại ngùng sợ sệt và thậm chí che giấu những hạn hẹp yếu đuối của mình. Và điều nguy hiểm tệ hại nhất cho đời sống cộng đồng là tìm đủ mọi lý do để bênh vực chống chế cho những thiếu sót của mình, vì đó là dấu hiệu của một nội tâm còn rất bề ngoài non yếu. Và cách duy nhất biểu lộ trung trực tình yêu Chúa Kitô là công khai chân thành nhìn nhận những yếu hèn của mình là những yếu hèn có thật và cố gắng vượt qua lướt thắng mỗi ngày.


Không ai biết đuợc “cái dằm đâm vào thịt” của Phaolô là gì nhưng điều cần lưu tâm suy nghĩ là thánh nhân chẳng những không che giấu mà trái lại tự hào “vui thoả về những yếu hèn”kia. Hơn ai hết, Phaolô biết rằng ngay chính Đức Kitô cũng bị khinh bỉ ruồng rẫy về lý lịch nguồn gốc gia phả Người. Và cũng hơn ai hết, Phaolô đã hiểu rằng trong giây phút cô đơn yếu đuối tuyệt vọng nhất trong vườn Cây Dầu và trên cây thập tự cũng chính là lúc Người đạt đến tột đỉnh toàn thiện vinh quang.


Lm Nguyễn Khoa Toàn

Quê nhà bẠc bẼo

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Đức Giêsu trở về thăm quê nhà. Ngày Sabbat, ngày lễ nghỉ hàng tuần, dân làng đến hội đường nghe đọc sách thánh và hát thánh ca từ 9 giờ đến 12 giờ trưa. Đức Giêsu và các môn đệ cùng tiến vào hội đường cầu nguyện. Đọc sách luật và thánh vịnh xong, Đức Giêsu đăng đàn giảng thuyết như một giáo dân tham dự vào chức tư tế. Vẻ uy nghi trang trọng của Người khác thường. Gương mặt Người luôn tỏa ra nét dịu hiền, mến yêu, đầy thiện cảm. Giọng điệu tự nhiên của Người càng hấp dẫn dân chúng hơn. Ý tứ Người trình bày đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người. Họ cảm thấy thấm thía sự kỳ diệu của nước Thiên Chúa, của lòng nhân ái Chúa Cha trên trời, của tình yêu. Ngài đòi hỏi mọi người phải sống thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Họ ngạc nhiên thì thầm với nhau: “Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta được khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ như thế nghĩa là gì ?”.

Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu bởi đâu ? Họ tìm về nguồn gốc chỉ thấy “Mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giosê, Giuđa và Simon”. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nagiarét này, một thôn ấp nhỏ bé chỉ có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông lại là anh thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, lang thang từ nhà này sang nhà khác, đóng bàn sửa ghế, ráp giường ghép tủ, đục đẽo cầy bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ thấy ông nói năng, làm được gì hay lạ đâu ? Ông bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi chóng thế !

Ở Việt Nam, hồi năm 1945-1950, cũng có những ông canh điền, đầy tớ, mõ làng đi vắng hai ba tuần, trở về diễn thuyết rất hùng hồn. Bởi đâu các ông đã ăn nói thao thao bất tuyệt như vậy? Sau này, người ta mới biết các ông được đi huấn luyện học thuộc lòng mấy bài để về ra mắt dân làng, hô hào đấu tranh chống thực dân Pháp, chống bù nhìn Bảo Đại trói gà không nổi.

Còn Đức Giêsu, ai đã huấn luyện Ngài ? Ai đã ban quyền phép làm những việc kỳ diệu như thế ? Thân nhân bảo Ngài mất trí, kinh sư chụp mũ Ngài nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ. Dân chúng chỉ biết ngạc nhiên: chưa từng thấy ai ăn nói, hành động có uy quyền lạ lùng như vậy. Môn đệ đi theo sát Ngài cũng chỉ biết hỏi: Ngài là ai mà bão biển phải tuân lệnh. Chẳng thấy ai huấn luyện Ngài, chẳng thấy Ngài học tập kinh sư nào. Chỉ thấy Ngài vào nơi thanh vắng, ngửa mặt lên trời cầu nguyện. Trong âm thầm Ngài cầu nguyện cùng Chúa Cha trên trời. Đó chính là bí quyết làm cho Ngài khôn ngoan và đầy quyền phép để trừ hàng ngàn quỷ dữ, chữa hàng trăm bệnh nhân mà loài người phải bó tay, cho kẻ chết sống lại, bắt cuồng phong lặng yên.


Dân làng biết Ngài khôn ngoan. Kinh sư thấy Ngài trừ quỷ. Môn đệ được Ngài cứu khỏi chết giữa biển cuồng phong. Nhưng họ chẳng biết Ngài là con một Thiên Chúa, chẳng biết Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa, vì thương yêu loài người, đã xuống thế làm người sống với họ như anh em, như bạn bè, để cứu họ khỏi chết đời đời.


Còn Ngài, Ngài âm thầm, kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ: “Không ai là tiên tri cho xứ sở mình” vì “Gần chùa gọi bụt bằng anh”.

Họ chỉ biết nhìn Ngài theo lối nhìn bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật.

Chính những điều xâu xa bí ẩn mới làm ích rất lớn cho con người. Chính những chất mầu mỡ nằm ẩn trong đất mới làm cho cây trái, hoa mầu trổ sinh tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc, nuôi sống muôn người, muôn vật. Chính những kho tàng nằm sâu trong lòng đất, như mỏ dầu, mỏ vàng, mỏ bạc, đồng, sắt, kim cương, đá quý mới là nguồn tài nguyên phong phú giúp phát triển nền văn minh nhân loại. Chính những tài năng thượng đẳng, thiêng liêng trong con người như: tinh thần tự do, trí khôn sáng suốt, ý chí mạnh mẽ, tình cảm nhân từ mới có sức thăng tiến con người hơn chân tay, mắt mũi. Thế nhưng loài người vẫn thích thờ bò vàng óng ánh hơn thờ Thiên Chúa siêu việt. Lòng nghĩ “cái nết đánh chết cái đẹp”, mắt vẫn liếc lia lịa người đẹp hơn chiêm ngắm tượng Chúa trên thập giá.


Khi Đức Hồng Y Roncalli được bầu làm Giáo hoàng Gioan 23, một Giám mục khóc cho Giáo hội sắp đến ngày tàn. Giáo Hội không còn ai lên lãnh đạo, phải bầu một ông già 77 tuổi về hưu lên đỡ vậy. Nhưng chỉ vài ngày sau, báo chí đã đưa những tin giật gân về ông già hồn nhiên, vui vẻ, đang lo canh tân ngôi giáo triều cổ kính, bệ vệ và chẳng bao lâu Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho Ngài tuyên bố họp Công Đồng Vatican 2, thực hiện cuộc canh tân vĩ đại cho Giáo Hội và cả thế giới.


Tương tự như thế, những người ở làng quê Nagiarét hôm nay cũng đã để lỡ cơ hội đón tiếp Đấng Cứu Thế. Con Thiên Chúa giả dạng làm một người thường đến sống giữa họ mà họ không biết. Họ chỉ biết đó là con ông thợ mộc Giuse. Họ chỉ biết gia đình Người rất nghèo, chẳng có danh giá gì trong làng. Họ coi thường Người. Họ không tin Người. Họ hất hủi Người. Họ đã để lỡ cơ hội nghìn năm một thuở. Đức Giêsu không làm một phép lạ nào ở đó. Người bỏ Nagiarét đi đến các làng chung quanh. Và Người sẽ chẳng bao giờ trở lại Nagiarét nữa. Đó là cơ hội cuối cùng cho họ.


Hằng ngày chúng ta cũng đã bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội như thế. Ta đã bỏ lỡ không tiếp đón Chúa đến thăm khi ta bịt mắt không nhìn thấy những cảnh khổ chung quanh; khi ta bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc; khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay lưng trước những nạn nhân của thiên tai hoạn nạn. Nhất là ta bỏ lỡ không nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối. Chúa đã nhắc nhở ta nhiều lần nhiều cách: qua các vị bề trên; qua các tai nạn; qua lời khuyên của những người thân; qua lời phê phán của những người thù ghét ta. Hôm nay, Chúa còn tiếp tục nhắc nhở. Nếu ta không nghe, biết đâu hôm nay sẽ là lần cuối cùng. Chúa sẽ không bao giờ nhắc nhở nữa. Chúa sẽ bỏ ta mà đi như đã bỏ làng Nagiarét và không bao giờ trở lại. Như thế thì thật nguy hiểm cho linh hồn ta. Để nhận biết Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một đức tin mạnh mẽ. Ánh mắt đức tin giống như ngọn đèn soi chiếu vào đêm đen giúp ta nhận ra Chúa trong anh em, trong những biến cố Chúa gửi đến.


Để đón tiếp Chúa, ta phải rèn luyện cho mình một trái tim luôn luôn rộng mở yêu thương. Một trái tim yêu thương sẽ rất bén nhạy để nghe được tiếng nói của Chúa, dù tiếng nói ấy chỉ thì thầm trong sâu thẳm lòng mình; hiểu được những dấu chỉ của Chúa, dù những dấu chỉ ấy chỉ mơ hồ thoáng qua; nhận được khuôn mặt của Chúa, dù khuôn mặt ấy đã bị biến dạng qua những đau thương của cuộc đời.


Lạy Chúa, xin cho con tỉnh thức để nhận ra và đón nhận Chúa mỗi lần Chúa đến với con.


Lạy Chúa Giêsu, xin mở con mắt đức tin cho mọi người được thấy những sự khôn ngoan, quyền phép lạ lùng của Thiên Chúa đang âm thầm hoạt động trong Giáo Hội, trong thế giới và cả trong vũ trụ, mà con mắt phàm trần không thể thấy được, để họ biết ca ngợi Chúa muôn đời. Amen.



Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chúa NhẬt 14 mùa ThưỜng niên
Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

 

Nếu đích thực ta là con cái Chúa, ta cần phải nhận ra lòng yêu thương của Người trong việc Người dạy dỗ và sửa bảo ta.  Mặc dù Thiên Chúa đã ban cho ta Lề Luật của Người trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước, nhưng vẫn cần xuất hiện những người nhắc nhở ta phải sống sao cho đúng với chân tính của ta.  Những người đó là các vị ngôn sứ, những người nói thay cho Thiên Chúa.  Khi Chúa Ki-tô được sai đến trần gian thì thời các ngôn sứ chấm dứt và Người là chính Lời của Thiên Chúa nói với nhân loại.  Đề tài ngôn sứ được trình bày qua Phụng vụ Lời Chúa hôm nay.



 

1.  Chức phận của một ngôn sứ (bài đọc Cựu Ước – Ê-dê-ki-en 2:2-5)

Đã có một thời người ta gọi các ngôn sứ là các tiên tri và từ ngôn sứ xem ra còn xa lạ đối với nhiều người Công giáo Việt Nam.  Ta vẫn quen gọi tiên tri I-sai-a, tiên tri Ê-dê-ki-en... hơn là ngôn sứ I-sai-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en...  Ta gọi các ngài là tiên tri, vì các ngài thường tiên báo tương lai sẽ xảy ra.  Nhưng đó chỉ là một phần nhỏ thuộc sứ vụ của các ngài, mà trước hết các ngài phải là những người nói thay cho Thiên Chúa, chuyển sứ điệp của Chúa đến cho một cá nhân hay cộng đồng dân Chúa.  Vì lý do đó, ngày nay sử dụng từ “ngôn sứ” xem ra hợp lý hơn.


Ê-dê-ki-en là một trong bốn vị ngôn sứ lớn và cũng là vị ngôn sứ của thời lưu đày tại Ba-by-lon.  Ở đây, ngài được Chúa trao cho sứ vụ giúp dân Chúa hiểu biết ý nghĩa của những gì đã và đang xảy ra cho họ, nhờ đó họ giữ vững lòng tin và niềm hy vọng đợi chờ một tương lai sáng sủa.  Vậy Ê-dê-ki-en ý thức thế nào về việc thi hành sứ vụ của ngài?


  • Trước hết Ê-dê-ki-en phải là người hành động dưới ảnh hưởng và hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa.  Thánh Thần là sức mạnh của Thiên Chúa làm cho vị ngôn sứ được “đứng vững” (Ed 2:2).  Thánh Thần “làm cho chân tôi đứng vững”, vì sứ vụ sẽ gặp đầy những chống đối thử thách.  Có mấy ai muốn người khác nói ra những lầm lỗi của họ đâu!  Cho nên mỗi lần vị ngôn sứ nói lên những lỗi phạm của dân Ít-ra-en đối với Chúa là mỗi lần ngài phải chịu đựng những phản ứng bất lợi do những nhà lãnh đạo và dân chúng gây ra.  Sách Tin Mừng Mát-thêu dành hẳn ra chương 23, ghi lại những lời Chúa Giê-su tố cáo các kinh sư và Pha-ri-sêu cũng như tổ tiên họ đã bách hại các vị ngôn sứ, chỉ vì các ngài nói thẳng nói thật. 

  • Điểm thứ hai là Ê-dê-ki-en “đã nghe tiếng Chúa phán” (Ed 2:2).  Vì là người nói thay cho Thiên Chúa, chuyển sứ điệp của Chúa đến người khác, nên vị ngôn sứ cần lắng nghe rõ ràng sứ điệp.  Sứ điệp càng rõ, càng ngắn gọn thì sức mạnh của sứ điệp càng lớn, nhất là khi những kẻ phải đón nhận sứ điệp lại là những người “mặt dầy mặt dạn, lòng chai dạ đá, phản nghịch, nổi loạn chống lại Thiên Chúa”. 

  • Thứ ba, Ê-dê-ki-en đã “được Thiên Chúa sai đi”.  Vị ngôn sứ phải ra đi, dấn thân vào chốn nguy hiểm để thi hành sứ vụ.  Khi đã tới nơi Thiên Chúa chỉ định, vị ngôn sứ phải ở lại đó.  “Chúa Thượng phán:  ‘Còn chúng, vốn là nòi phản loạn, chúng có thể nghe hoặc không nghe, nhưng chúng phải biết rằng có một ngôn sứ đang ở giữa chúng’” (Ed 2:5).  Sự hiện diện của ngôn sứ biểu tượng cho sự hiện diện của Thiên Chúa để nhắc nhở, kêu gọi, đôi khi còn “nài nỉ” dân Chúa thi hành điều Người dạy họ phải làm.  Do đó, vị ngôn sứ không được trốn chạy hoặc tránh né khó khăn.

Những điều ngôn sứ Ê-dê-ki-en nêu lên ở đây chắc chắn phải làm cho ta ý thức lại chức phận ngôn sứ mà ta được chia sẻ với Chúa Giê-su, từ những vị lãnh đạo là các giám mục, linh mục cho đến thành phần giáo dân. Điều người ta có lẽ phải suy nghĩ nhiều nhất, đó là thái độ hèn nhát.  Cha mẹ không dám dạy con, sợ chúng hỗn láo với mình.  Truyền thông báo chí sợ làm ăn thua lỗ nên không dám truyền bá sự thật.  Chính trị gia sợ thua phiếu đành phải đồng lõa với những thứ luật lệ thiếu đạo đức.  Nhiều vị lãnh đạo giáo hội địa phương do cơ chế xã hội nên không dám biểu lộ gương mặt mục tử nhân lành của Chúa Giê-su.  Tóm lại, xét lại ý thức chức phận ngôn sứ của Ki-tô hữu quả thực là vấn đề nhức nhối, nhưng vẫn phải làm.



 

2.  Nhìn ngắm Chúa Giê-su, vị Ngôn Sứ đích thực và gương mẫu, được Thiên Chúa sai đến trần gian (bài Tin Mừng – Mác-cô 6:1-6)



Cuộc đời ngôn sứ của Chúa Ki-tô không có gì khác với các ngôn sứ trong Cựu Ước.  Hơn thế nữa, Người còn là tuyệt đỉnh mặc khải của Thiên Chúa và cũng ở tột độ của hy sinh để nói lên sứ điệp tình yêu Thiên Chúa qua cái chết trên thập giá.  Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc bách hại Đức Ki-tô Ngôn Sứ phải chịu ngay tại quê hương Na-da-rét của Người.
Sau những tháng ngày thi hành sứ vụ cứu độ ở khắp miền Ga-li-lê, có lẽ toàn thể Pha-lét-tin nữa, Chúa Giê-su có dịp trở về Na-da-rét và tới giảng dạy tại hội đường.  Dân chúng Na-da-rét phản ứng rất mâu thuẫn:  một đàng họ công nhận Chúa Giê-su “được khôn ngoan” và “làm được những phép lạ như thế”;  đàng khác họ lại có ý khinh thường xuất xứ của Người, coi rẻ cả cha mẹ, bà con họ hàng của Người.  Tựu chung cũng chỉ vì lòng ghen tị mà thôi!  Chúa Giê-su là con người trầm tĩnh đến thế mà cũng phải mở miệng nói thẳng với họ:  “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi!” (Mc 6:4).
Điều làm chúng ta vô cùng cảm phục ở đây là phản ứng của Chúa Giê-su trước sự tiếp đón không thân thiện và đầy miệt thị của dân làng Na-da-rét.  Ngoài câu nói thẳng thắn ta vừa kể trên, tuyệt nhiên không thấy một lời cay đắng nào khác.  Thêm vào đó, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục thi hành sứ vụ, không tránh né, không hờn dỗi.  Dân chúng Na-da-rét “rất đỗi ngạc nhiên” về Người một cách khinh dể, thì Người chỉ “lấy làm lạ vì họ không tin”.  Người muốn dạy dỗ họ thật nhiều, làm thật nhiều cho họ, nhưng họ không đón nhận.  Vì thế “Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó”, mà “chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ” (Mc 6:5).  Có lẽ ta cũng nên thắc mắc là giữa việc “làm được phép lạ” và việc “đặt tay chữa lành”, có sự khác biệt nào không?  Để trả lời, ta nên hiểu mục đích của sứ vụ ngôn sứ là giúp người ta thay đổi tâm hồn và cuộc sống, đó là những “phép lạ” đích thực nhưng khó nhận thấy cần phải được thể hiện và tiếp diễn nơi mỗi người, chứ không phải chỉ ba cái việc chữa lành thể xác.  Nói như thế, ta có thể nghĩ rằng Chúa Ki-tô đã thất bại trong sứ vụ ngôn sứ ngay tại quê nhà.  Nhưng thành công của Người là Người đã cho dân chúng Na-da-rét biết rằng “có một ngôn sứ đang ở giữa họ” (Ed 2:5).  Và thành công khác của Chúa Giê-su là Người không nản lòng bỏ cuộc, nhưng vẫn tiếp tục thi hành sứ vụ bằng cách “đi các làng chung quanh mà giảng dạy” (Mc 6:6).
Quả thực, Chúa Giê-su đã chu toàn sứ vụ ngôn sứ một cách tuyệt hảo không chỉ tại Na-da-rét, mà còn ở bất cứ nơi nào Người đến, và kết thúc sứ vụ bằng cái chết thập giá để nói lên tình yêu bao la và vô điều kiện của Thiên Chúa.  Đó cũng là sứ vụ Người mời gọi ta tiếp tục và tiếp tay với Người để làm cho nhân loại biết Thiên Chúa yêu thương ta và muốn cứu độ ta.  Thi hành sứ vụ ngôn sứ trong cuộc sống hằng ngày là bổn phận của mọi Ki-tô hữu không miễn trừ ai.  Thánh Phao-lô đã đi theo con đường của Chúa Ki-tô và ngài đã trở thành một tấm gương sáng chói về việc thi hành sứ vụ ngôn sứ.

 

3.  Thánh Phao-lô vui sướng khi bị sỉ nhục, bách hại vì làm ngôn sứ cho Chúa Ki-tô (bài đọc Tân Ước – 2 Cô-rin-tô 12:7-10)

Với những điều ta học được nơi ngôn sứ Ê-dê-ki-en và nơi Chúa Giê-su, ta có thể nhìn vào cuộc đời tông đồ của Phao-lô để học hỏi qua cách thi hành sứ vụ ngôn sứ của ngài.  Những gì sách Công vụ Tông Đồ và chính những thư của thánh Phao-lô thuật lại, ta biết cuộc đời chứng nhân của thánh Phao-lô đầy gian nan và ngài phải chịu đau khổ rất nhiều trong khi thi hành sứ mệnh.  Nhưng đặc biệt ở đây, qua đoạn thư trích thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô đã chia sẻ một điều khá riêng tư về đời tông đồ của ngài.
Ngài được Chúa gọi làm Tông đồ và ban cho “những mặc khải phi thường”.  Trong số các Tông đồ, ngài là một “siêu sao” với nhiều đức tính hiếm quý và trình độ trí thức rất cao.  Nhưng đó cũng là điều khiến ngài phải “thức tỉnh” và đề phòng để khỏi trở thành kiêu căng khinh thường người khác.  Ngài tự thú là có một “vấn đề” nào đó, hoặc yếu đau thể xác [“thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào”], hoặc một vết thương về tâm lý hay tinh thần [“thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi”], làm cho ngài phải rất đau khổ.  Tuy nhiên ngài xác tín mục đích của “vấn đề” khiến ngài đau khổ, đó là để giúp ngài khiêm tốn trong sứ vụ.  Do đó, bài học ngài dạy ta trong điều này là phải giữ lòng khiêm tốn khi thi hành sứ vụ ngôn sứ.  (Ta mở một cái ngoặc nhỏ ở đây:  nếu trong bài giảng, ta có nghe cha “quát mắng, lên lớp”, thì ta cứ cắt nghĩa tốt cho ngài là vì ngài quá sốt sắng muốn nhắc nhở giáo dân thôi).  Cha mẹ mà lúc nào cũng “lấy quyền phụ mẫu” sử dụng những lời lẽ không thích hợp với cách dạy dỗ con cái thì đó cũng là một hình thức thiếu khiêm tốn trong sứ vụ ngôn sứ của cha mẹ rồi.
Điều thứ hai ta học nơi thánh Phao-lô là biết cậy vào “ơn Chúa”.  Thi hành sứ vụ ngôn sứ là điều gây đau khổ, nản lòng cho ta.  Nhưng ta phải xác tín rằng tự sức riêng, ta không thể chu toàn nổi sứ vụ ấy.  Cần phải có ơn Chúa, là sức mạnh giúp ta thắng vượt khó khăn.  Lúc thánh Phao-lô cảm thấy mình yếu đuối nhất thì lại là lúc ngài nhận thấy sức mạnh của ơn Chúa rõ rệt nhất.  Ngài dí dỏm nhận xét:  “Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12:10).
Điều thứ ba, từ thái độ khiêm nhượng biết mình yếu đuối và biết ơn Chúa mạnh mẽ, ta sẽ “vui mừng và tự hào” với sứ vụ ngôn sứ của ta.

 

4.  Sống Lời Chúa

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay để lại những bài học vô cùng thực tế, đơn giản, nhưng cũng hết sức sâu sắc và cảm động.  Theo chân Chúa Ki-tô, tất cả chúng ta đều là “ngôn sứ” của Thiên Chúa, giuíp Người làm cho thế giới và nhân loại mỗi ngày một tốt đẹp hơn.  Ý thức những khó khăn và thiệt thòi một ngôn sứ phải lãnh chịu khi thi hành sứ vụ, ta học hỏi nơi Chúa Giê-su, nơi các ngôn sứ trong Cựu Ước, nơi thánh Phao-lô và nơi những ngôn sứ thời đại đang âm thầm sống bên cạnh ta, để chính ta cũng trở thành dụng cụ Chúa sử dụng cho việc xây dựng Giáo Hội và xã hội hôm nay.

 

Suy nghĩ



  • Trong chức phận hiện thời, là bậc cha mẹ, giáo viên, công chức, công nhân... tôi đang thi hành sứ vụ ngôn sứ như thế nào? 

  • Tôi có giúp cho Tin Mừng của Chúa Ki-tô được rao giảng không? 

  • Tôi có đóng góp gì để thay đổi gia đình, xứ đạo, khu xóm trở nên tốt hơn không?

Cầu nguyện:  Lạy Chúa, Chúa cho kẻ lầm lạc thấy ánh sáng chân lý của Chúa để họ được trở về nẻo chính đường ngay;  xin ban cho những người xưng mình là Ki-tô hữu biết tránh mọi điều bất xứng và theo đuổi những gì thích hợp với danh nghĩa của mình.  Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con.  A-men.  (Lời nguyện Nhập lễ, Chúa Nhật 15 mùa Thường niên).
 

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi
CHÚA GIÊSU TRỞ VỀ NA-DA-RÉT

Mc 6, 1 – 6

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi,  CSsR

 

Người ta thường nói :” Gần Chùa gọi bụt bằng anh “. Điều này có thể áp dụng cho trường hợp của Chúa Giêsu bởi vì trong ba năm đi rao giảng cùng với các môn đệ ở khắp nơi nào Galilêa, Giêrusalem, Palestina, Capharnaum và nhiều nơi khác, nơi nào đặt chân đến, Chúa Giêsu cũng được nhiều đám đông đón tiếp, trầm trồ khen ngợi vì những lời giảng dạy hết sức ấn tượng của Ngài, những phép lạ hết sức thuyết phục của Chúa. Nhưng, cái trớ trêu vẫn là người dân làng Na-da-rét, quê hương của Chúa Giêsu đã có thái độ hết sức thờ ơ, lãnh đạm đối với lần đầu tiên Ngài trở về quê nhà. Tại sao những người đồng hương với Chúa Giêsu lại có thái độ đó ?


DÂN LÀNG NA-DA-RÉT ĐÃ NGẠC NHIÊN VỀ CHÚA GIÊSU :

Thực tế, khi trở về làng quê, vào trong Hội Đường, Chúa Giêsu giảng dạy một cách khôn ngoan, thông thái và có thẩm quyền. Người đồng hương lấy làm lạ, nghĩa là họ vừa thán phục, vừa lấy làm kinh ngạc. Tuy nhiên, vì quá biết lai lịch của Chúa Giêsu như Ngài làm nghề thợ mộc và lại là con bác Giuse, thợ mộc. Do đó, từ thái độ thán phục kinh ngạc, họ đâm ra bỡ ngỡ, nghĩa là kinh ngạc rồi nghi ngờ. Chính vì thế, người đồng hương càng nghĩ tới lai lịch, thân thế, nguồn gốc, địa vị xã hội và họ hàng, anh em của Chúa Giêsu, họ càng đâm ra bực bội khó chịu, nên họ châm biếm gọi Ngài là thợ mộc. Họ lý luận một người như Chúa Giêsu làm thợ mộc làm sao có thể là ngôn sứ, là Đấng Mêsia được ư ?  Họ bị xúc phạm nghĩa là bị chạm tự ái. Nên, người đồng hương của Chúa không thể chấp nhận một người thợ mộc mà họ đã quá rõ nguồn gốc làm ngôn sứ, làm Đấng cứu tinh của họ dù rằng Chúa Giêsu có nói giỏi, lợi khẩu đến đâu đi nữa và làm nhiều phép lạ, họ nhất mực nghi ngờ Ngài…Dân quê Na-da-rét ngạc nhiên về Chúa, và Chúa cũng ngạc nhiên về họ. Chúa Giêsu ngạc nhiên về người đồng hương vì họ tự cao tự đại, kiêu căng, cố chấp. Do thái độ kiêu căng, cứng lòng của người đồng hương đã khiến Chúa Giêsu không thể làm phép lạ như bài Tin Mừng quả quyết :” Ngài không làm phép lạ nào được vì họ không tin “.


DÂN NA-DA-RÉT CHỈ BIẾT MÙ MỜ VỀ CHÚA GIÊSU :

Dân Na-da-rét tưởng rằng biết rõ về Chúa, nhưng quả thực họ biết Chúa cách rất hời hợt, thiển cận, mù mờ, chẳng hạn nơi sinh của Chúa họ cũng không biết. Họ cứ tưởng Chúa sinh ra và lớn lên tại cái làng nhỏ bé Na-da-rét nghèo nàn. Họ có ngờ đâu Chúa đã chọn Bêlem để sinh ra và Chúa đã nhập thể trong cung lòng trinh khiết của Đức Trinh Nữ Maria vv…Người đồng hương của Chúa biết rất mơ hồ về Chúa, họ không hề biết Ngài là Đấng Thiên sai, là Đấng Mêsia, là Đấng cứu tinh được Thiên Chúa Cha sai tới.” Thiên Chúa đã yêu thương trần gian đến nỗi đã sai Con Một của Người là Đức Giêsu Kitô, sinh bởi một người nữ…”.Dân làng Na-da-rét đã không hiểu gì về Con Một Thiên Chúa. Họ quan niệm ngôn sứ, là Đấng Mêsia phải  là những con người siêu việt khác thường chẳng hạn như Môisê với 40 năm lữ hành sa mạc, Giona với sự thiêu hủy thành Sođoma…Những con người ấy đã khắc ghi nơi tâm hồn họ hình ảnh của những con người siêu việt…


NGÀY NAY CHÚA VẪN NGẠC NHIÊN :

Xưa Chúa Giêsu đã rất đỗi ngạc nhiên về thái độ cứng tin của người Do Thái đồng hương. Ngày nay, Chúa còn ngạc nhiên hơn nữa vì có biết bao Kitô hữu đã cứng lòng tin bởi vì người tín hữu hôm nay phải biết rõ về Chúa hơn những người Do Thái xưa:” người tín hữu hôm nay được học Kinh Thánh, học Giáo lý, nghe giảng dạy, nghe những lời giáo huấn của Hội Thánh”. Tuy nhiên, ngày nay lại có biết bao Kitô hữu vẫn cố tình cứng lòng không tin Chúa Giêsu. Có nhiều người công giáo đi đạo vì gia đình là đạo dòng, vì truyền thống gia đình nhưng kỳ thực họ không hiểu giáo lý, không lắng nghe và không tuân giữ Lời Chúa.


ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ :

Chúng ta hãy tự vấn lương tâm xem chúng ta đã vững đức tin hay đức tin của chúng ta hãy còn non yếu. Chúng ta là những Kitô hữu đích thực hay chỉ mang nhãn hiệu là Kitô ? Chúng ta đã học hỏi Giáo lỹ kỹ càng, lắng nghe và tìm hiểu Kinh Thánh thấu suốt hay chỉ hời hợt bề ngoài ? Chúng ta đã sống thế nào để chứng tỏ chúng ta là Kitô hữu đích thật ?

 

Lạy Chúa xin tăng thêm đức tin cho chúng con để chúng con luôn tin nhận Đức Giêsu Kitô là Con Một Thiên Chúa. Amen.



 

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi,  CSsR


BỤt nhà không thiêng.

Lm Giuse Đinh lập Liễm

I. ĐỨC GIÊSU TRỞ VỀ NAZARETH.

 

1. Cuộc viếng thăm mục vụ.

Đức Giêsu rời bỏ quê hương Nazareth đi rao giảng Tin mừng và chọn Capharnaum làm trung tâm truyền giáo. Tại nơi đây và nhiều nơi khác, Đức Giêsu đã làm rất nhiều phép lạ như dẹp yên bão tố, chữa người bị qủi ám, chữa lành các chứng bệnh nan y, làm cho kẻ chết sống lại... Danh tiếng Ngài đã vang dội khắp nơi. Nhưng Ngài cũng không quên xứ sở của mình, Ngài cũng trở về thăm quê hương Nazareth. Đây là lần thứ hai Ngài trở về Nazareth (Lần thứ nhất : Lc 4,16-30).

 

Ngài không có ý trở về quê quán với tính cách riêng tư cốt chỉ thăm lại ngôi nhà và những người thân cũ. Ngài trở về với các môn đệ của mình,  nghĩa là Ngài về quê với tư cách một rabbi. Các rabbi vẫn đi đây đó trong xứ với nhóm môn đệ nhỏ của mình. Với tư cách giảng sư Đức Giêsu đã trở về Nazareth với các môn đệ.



 

2. Tại hội đường Nazareth.

Theo thông lệ, ngày sabbat dân làng đến hội đường nghe đọc Sách Thánh và hát Thánh vịnh từ 9 đến 12 giờ trưa. Đức Giêsu và các môn đệ cũng đến hội đường cầu nguyện với dân làng. Đọc Sách Luật và Thánh vịnh xong, ông trưởng hội đường mời một vị có thế giá và hiểu biết về Thánh Kinh lên giải nghĩa bài đọc. Đức Giêsu cũng được mời lên đăng đàn.  Vẻ uy nghi trang trọng của Ngài khác thường. Gương mặt của Ngài luôn tỏ ra nét dịu  hiền mến yêu, đầy thiện cảm. Giọng điệu tự nhiên của Ngài càng hấp dẫn dân chúng hơn, Ý tứ Ngài trình bầy đơn sơ trong sáng hợp với tâm trí mọi người. Ngài trình bầy một cách khôn ngoan và giọng nói như của Đấng có uy  quyền, làm cho họ ngạc nhiên, thì thầm với nhau :”Bởi đâu ông ta được như thế ? Sao ông ta khôn ngoan như vậy ? Ông ta làm được nhiều phép lạ như thế, nghĩa là gì”(Mc 6,2). Họ chẳng biết sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Giêsu ở đâu ? Họ muốn tìm về nguồn gốc của Ngài.

 

3. Phản ứng của dân làng Nazareth.

Trước những lời giảng dạy khôn ngoan và hấp dẫn, cùng với những phép lạ đã làm, Đức Giêsu đã làm cho dân làng Nazareth có nhiều phản ứng khác nhau, và chúng ta có thể gồm tóm những phản ứng ấy trong ba chữ :

         

a) Tín nhiệm.

Từ Nazareth người ta đã nghe đồn thổi về Ngài rất nhiều, nghe đồn về những phép lạ Ngài đã làm khắp đó đây. Hôm nay, tại hội đường, họ đã trực tiếp được nghe Ngài giảng. Trước đây nghe lời đồn thổi họ đã ngạc nhiên, bây giờ họ càng ngạc nhiên hơn :”Mọi người làm chứng cho Ngài và họ thán phục về ân sủng xuất bởi miệng Ngài”(Lc 4,22).

Những điều trên đây cho ta thấy khi Đức Giêsu trở lại Nazareth, những cảm nghĩ của họ hầu hết là tín nhiệm Ngài.

 

b) Hoài nghi.

Họ muốn tìm về nguồn gốc của Ngài. Mọi người đều biết mẹ ông là bà Maria, anh em họ hàng là Giacôbê, Giôsê, Giuđa và Simon. Tất cả bà con lối xóm đều coi ông như bạn bè từ gần 30 năm nay ở Nazareth này, một thôn ấp nhỏ bé có độ 150 gia đình nghèo nàn, tối tăm, mấy ai quan tâm đâu. Ông lại là anh thợ mộc, con nhà lao động, làm thuê làm mướn, đóng bàn sửa ghế, đóng giường tủ, đục đẽo cầy bừa, thành phần địa vị thấp kém trong xã hội. Có bao giờ ông ấy nói năng, làm được việc gì lạ đâu ? Ông bỏ quê nhà đi lang thang mấy tháng, nay trở về, sao thay đổi chóng thế ?
c) Thất bại.

Đáng lẽ những phép lạ Đức Giêsu đã làm ở những nơi khác cộng với sự rao giảng đầy thuyết phục của Ngài khiến cho dân làng Nazareth phải tin nhận Ngài, nhưng đàng này họ chỉ dựa vào nguồn gốc của Ngài, một nguồn gốc có vẻ tầm thường như họ thấy, nên họ nhìn sai lệch về con người của Ngài. Họ chỉ biết nhìn Ngài theo cái dáng vẻ bên ngoài đầy thành kiến, chẳng thấy được những điều sâu lắng bên trong, những cái tinh thần cao thượng, những mầu nhiệm thiêng liêng chân thật. Vì thế,”họ bị vấp phạm vì Ngài”(Mc 6,3). Còn Ngài, Ngài âm thầm kiên nhẫn, nhỏ nhẹ nói với họ bằng câu ngạn ngữ:”Không ai là tiên tri cho xứ sở mình” vì người ta thường nói:”Gần chùa gọi bụt bằng anh”.

 

Trước sự cứng lòng tin kèm theo sự ghen tương với thành kiến cố hữu của họ, Đức Giêsu không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa lành vài bệnh nhân. Phép lạ đòi hỏi phải có lòng tin, mà phép lạ chỉ là phần thưởng cho lòng tin ấy. Sự cứng lòng của con người như thánh Matthêu nói rõ (Mt 13,58) làm tê liệt phần nào quyền làm phép lạ của Ngài.



 

II. CĂN BỆNH THÀNH KIẾN.

Theo Đào duy Anh, Thành kiến là ý kiến cố chấp không thể lay động được. Khi đã có ý kiến tốt hay xấu về một người hay một vật gì thì khó lòng có thể thay đổi được. Thành kiến thay đổi sự thật của sự vật, không còn như nó có. Thành kiến đã bóp méo sự thật , giống như người đeo kính xanh thì vật gì cũng xanh, đeo kính đỏ thì vật gì cũng đỏ.

 

Người ta có thể nhìn sự vật với ba thái độ, đó là yêu, ghét hay dửng dưng. Nhưng thường thì chúng ta ít khi có thái độ dửng dưng, trung lập, mà thường là nghiêng về một phía yêu hay ghét. Chính thái độ yêu hay ghét này làm cho ta nhìn sự vật khác nhau :”Yêu nên tốt, ghét nên xấu”. Khi yêu thì thì coi mọi cái đều đẹp đều tốt, khi ghét thì thấy mọi cái là xấu :”Yêu ai yêu cà đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”.



 

Truyện : Thi sĩ R. Tagore.

R. Tagore là một thi sĩ nổi tiếng của Ấn độ và cả Đông phương nữa. Ông có khiếu làm thơ ngay lúc còn thơ ấu.

Một hôm, cậu bé Tagore làm một bài thơ và đưa lên cho cha xem. Ông thân sinh lắc đầu chê :

          - Thơ mày là thơ thẩn !

Tagore mới nghĩ ra một mưu : cậu đem bài thơ của mình mới làm, chép lại thật kỹ và chua xuất xứ là trích sao trong một cuốn thơ cổ. Cậu ta lại không quên đề tên cuốn thơ cổ ấy cẩn thận.
Lần này, ông thân sinh đọc xong, mắt sáng rực lên, vỗ đùi khen :”Tuyệt, tuyệt”. Rồi đem khoe tíu tít với đứa con trai lớn của ông, hiện đang làm chủ nhiệm một tờ báo văn học. Ông nói :

          - Ba đã đọc rất nhiều thơ cổ, nhưng chưa thấy bài nào hay như bài này.


Ông con trai chủ nhiệm đọc xong cũng hết mình đồng ý, xoa tay khen là hay đáo để, và muốn trích đăng lên  mặt tờ báo văn học của ông.

Bấy giờ ông anh cũng như ông thân sinh đòi Tagore phải đưa cuốn thơ cổ kia ra đối chiếu chứng minh và cũng để dễ bề chua xuất xứ trong khi đăng.


Đến đây câu truyện mới vỡ lở ra. Có ai ngờ trên đây là một cuộc dàn cảnh bịa đặt của thằng bé Tagore ! Ông thân sinh giận sôi máu lên, nhưng rồi cũng phải nhìn con với cặp mắt thán phục và hối hận cho thái độ mâu thuẫn của mình xưa nay.(Vũ minh Nghiễm, Sống sống, 1971, tr 333-335)

 

Qua kinh nghiệm hằng ngày, chúng ta phải công nhận rằng Thành kiến là một căn bệnh phổ quát chung cho mọi người. Thành kiến là chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của loài nguời, không ai thoát khỏi. Chúng ta hằng to tiếng lên án cái lối sống phô trương bên ngoài. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại hằng căn cứ vào những cái bề ngoài mà đánh giá thiên hạ.



 

Cùng một câu văn, một lời nói, một việc làm, mà do người này thì có giá trị, do người kia thì vô duyên, do người này thì hay đáo để, do người kia thì dở ẹc ra. Người có danh tiếng thì lời nói việc làm nào cũng được coi như vàng ngọc. Người vô danh tiểu tốt thì lời có đẹp như trăng sao, việc có hay như thần thánh, cũng bị thành kiến dìm xuống đến tận bùn đen. Vì thế, Đức Giêsu đã nói:”Không tiên tri nào lại được trọng đãi nơi quê hương mình (Ga 4,44).

 

Thành kiến làm cho bụt nhà không thiêng, thích những cái lạ; thích gì thì phóng đại tô mầu, ghét thì cũng thế. Nhiều khi lý luận một chiều sai lệch, cái vô lý ngớ ngẩn cũng cho là hay là đẹp, hoặc không hiểu gì cũng cho là hay. Sống hoàn toàn theo dư luận, theo cách của người đời, không dám vượt trên dư luận sai lạc, vượt trên những phán đoán thiên lệch. Ví dụ các bà tin theo thầy bói thì cái gì thầy nói ra cũng đúng, cũng hay, coi như lời sấm, như thánh phán :



Số cô không giầu thì nghèo,

Ba mươi Tết có thịt heo trong nhà.

Số cô có mẹ có cha,

Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.

Số cô có vợ có chồng,

Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.

 Các bà các cô sẽ phải thốt lên :”Thánh phán. Tuyệt !Tuyệt” !

 

III. BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG.

 

1. Đức Giêsu bị rẻ rúng nơi quê hương.

Dân làng Nazareth không thể chấp nhận một người mà họ đã quen biết : thân thế tầm thường, gia đình nghèo nàn, họ hàng chẳng có danh giá gì. Biết rõ như thế thì làm sao người đó có thể là vị Cứu tinh, là Đấng Cứu thế, là Đấng giải thoát cho dân tộc mình được ? Quả thực, họ đã bị thành kiến về giầu nghèo, về giai cấp trong xã hội làm mù quáng, không thể nhận ra bản tính Thiên Chúa, nhận ra sứ mạng cứu chuộc nơi con người Đức Giêsu. Từ thành kiến sai lầm đó họ đâm ra hoài nghi và yêu cầu Ngài làm phép lạ như đã làm những nơi khác.

 

Trước sự cứng lòng và khinh thường của dân Nazareth, Đức Giêsu chẳng biết làm gì hơn ngoài việc đưa ra nhận xét chua cay:”Tiên tri có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quêâ hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi”(Mc 6,4). Dân làng Nazareth không tin Chúa thì cũng vì họ đóng khung Thiên Chúa và tôn giáo vào trong những định kiến hẹp hòi có sẵn của họ. Đấng Cứu thế phải hiện nguyên hình như định kiến của họ, nghĩa là Đấng Cứu thế phải có đầy quyền lực theo nghĩa thế gian, họ không thể tin nhận được một Đấng Cứu thế như một con người đơn sơ khiêm hạ như họ thấy được.



 

2. Các tiên tri cũng bị khinh dể.

Trong Tin mừng thánh Luca, Đức Giêsu nhắc đến hai vị tiên tri đã không làm phép lạ ở quê nhà được mà lại làm phép lạ ở dân ngoại :”Và Ta bảo thật các ngươi : có nhiều bà goá tại Israel thời tiên tri Êlia, khi trời khoá lại ba năm sáu tháng, và xẩy ra nạn đói lớn trong toàn xứ, song ÊÙlia không được sai đến với một bà nào trong họ, mà lại đến với bà góa tại Sorepta thuộc hạt Sidon. Cũng có nhiều người phong hủi đời tiên tri Êlisê, song không người nào trong họ được lành sạch cả, trừ phi là Naaman người Syri”(Lc 4, 26-27). Tiên tri Êlisê đã làm nhiều sự lạ ở Guilgal mà không làm được ở quê nhà (2V 4,1-29t). Sự thật và thường tình, tiên tri không được tôn trọng nơi quê nhà.

 

3. Những tài năng bị coi thường.

Nhiều người có tài năng cao vời bị coi thường trước khi được chấp nhận. Chúng ta có thể đưa ra mấy trường hợp để làm chứng :

          - Giám mục Fulton Sheen, một nhà thuyết giáo vĩ đại, đã từng bị giáo sư môn biện luận trường đại học chê :”Anh đúng là diễn giả tồi nhất mà tôi từng gặp”.

          - Ernest Hamingway, một tiểu thuyết gia cự phách, đã từng bị các thầy giáo chê :”Hãy quên việc viết lách đi ! Anh không đủ tài để làm việc đó đâu”.

          - Richard Hooker, tác giả quyển sách nhan đề “Mash”, đã từng thấy quyển sách của ông bị đến 6 nhà xuất bản từ chối in để rồi cuối cùng quyển ấy đã trở thành một trong những quyển sách bán chạy nhất.

 

Thành kiến đã làm cho dân làng Nazareth phán đoán sai về Đức Giêsu. Họ đã không nhận ra Ngài là Đấng Cứu thế. Đối với chúng ta cũng vậy, thành kiến có thể làm cho chúng ta mù quáng, không nhận định và phê phán một cách khách quan đúng đắn được. Thành kiến làm cho chúng ta không thể đối thoại , cởi mở với người khác và không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi người khác. Mc Kenzie nói :”Người có tình yêu nhìn bằng viễn vọng kính, còn người ghen tị thì nhìn bằng kính hiển vi”.



 

4. Số phận người rao giảng Tin mừng.

Cho dù Thiên Chúa là Đấng toàn năng, Ngài có thể làm được mọi sự, nhưng Ngài phải bó tay trước sự cứng lòng của con người. Ngài đã trở nên bất lực trước những kẻ thiếu niềm tin. Và quả thật, “Ngài đã không làm được phép lạ nào”tại quê hương mình. Thế mới biết con người có khả năng  ngăn cản Thiên Chúa, con người có toàn quyền từ chối quà tặng của Thiên Chúa.

 

Trên con đường truyền giáo, Đức Giêsu vẫn đem các môn đệ đi theo để huấn luyện các ông. Trong việc huấn luyện cũng cần thấy sự thất bại, chứ không phải chỉ nhìn thấy thành công. Sau này trên đường truyền giáo, sự thất bại không làm cho các ông nản lòng.


Các người rao giảng Tin mừng hãy bắt chước Đức Giêsu mà đón nhận thái độ “Bụt nhà không thiêng” của những người được rao giảng. Họ có thể nghi kỵ, không ưa, hoặc chống đối chúng ta đi nữa, thì hãy vững tâm vì “chân lý sẽ thắng”. Ban đầu có thể gặp thất bại nhưng với thời gian người ta sẽ nhìn ra chân lý. Đức Giêsu đã thất bại khi còn sống nhưng đã thành công vẻ vang sau khi sống lại. Người Tông đồ cũng phải đi theo con đường ấy : phải kiên nhẫn chịu đựng, nhưng phải chịu đựng trong vui tươi vớiø tình thương mến.

 

Truyện : Chú chồn Pepe LePew.

Cách đây nhiều năm, các rạp chiếu bóng thường chiếu phim hoạt hoạ. Có một bộ phim được nhiều người ưa thích tên là Looney Tunes. Một vai được nhiều người hâm mộ trong phim là chú chồn lãng mạn tên là Pepe LePew. Pepe luôn luôn yêu mến mọi người nhưng vì chú có mùi hôi, nên mọi người đều từ chối tình thương của chú. Nhưng Pepe không nản lòng. Chú vẫn tiếp tục yêu thương dù có bị từ chối nhiều lần. Pepe không bao giờ từ chối yêu thương bất cứ một ai. Đó chính là lý do tại sao  rất nhiều người coi phim này càng quí mến Pepe.(M. Link, Giảng lễ Chúa nhật năm B, tr 264).

 

Chúng ta thấy Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta về tình yêu thương. Ngài không khước từ ai bao giờ. Ngài vẫn tiếp tục yêu thương dù biết bao lần Ngài đã bị từ chối. Chú chồn Pepe trong phim quả rất giống Chúa Giêsu. Đây là bài học cho chúng ta rút ra được từ các bài đọc hôm nay. Chúng ta phải bắt chước cách xử sự của Đức Giêsu, chúng ta có thể bắt chước chú chồn Pepe mà yêu thương mọi người dù có bị chối từ bao nhiêu lần đi nữa. Tóm lại, các bài đọc hôm nay dạy chúng ta hai điều : Trước hết, chúng có thể tin chắc rằng chúng ta sẽ nhiều lần bị người khác khước từ phản đối giống như Đức Giêsu đã từng bị trong đời Ngài. Tuy nhiên, chúng ta cứ tiếp tục yêu thương giống như Đức Giêsu. Dù bị khước từ Ngài vẫn không ngừng ban phát tình yêu của Ngài cho nhân loại.



Lm Giuse Đinh lập Liễm
Ngôn sỨ cỦa Chúa

Mc 6, 1-6

Lm. An Phong, OP
Lời Chúa hôm nay nói về thái độ của những người Nagiarét, những người đồng hương với Ðức Giêsu nhưng lại từ chối Tin mừng cứu độ của Ngài. Ðó là thái độ thường xảy ra, vì "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình".
Tuy nhiên, lời ngôn sứ Êdêkien, trong bài đọc 1, cũng cho thấy rằng, dù dân có phản loạn hay "lòng chai như đá", thì Thiên Chúa vẫn tiếp tục sai các Ngôn sứ đến nói lời của Ngài.
Ngôn sứ là những người nói Lời của Thiên Chúa cho con người. Nhưng suy nghĩ của con người lại thường khác xa hay ngược lại với tư tưởng của Thiên Chúa.

Người Nagiarét có những lý do của họ để từ chối Ðức Giêsu. Bao nhiêu người khác ngày nay cũng vậy, họ từ chối Thượng Ðế, từ chối sống quảng đại và yêu thương với người khác… Lạ một điều là người ta luôn tìm được những lý do ra vẻ chính đáng để bào chữa cho thái độ của mình. Có khi đó là sự lầm lạc, có khi đó là sự tự mãn, có khi là một thái độ bào chữa cho chính mình để khỏi phải thay đổi lối sống… Dù sao, bài học cho chúng ta là : tư tưởng của Thiên Chúa thì cao hơn tư tưởng của con người, nếu chúng ta sẵn lòng chấp nhận sự thật, khiêm tốn nhìn nhận lời chỉ giáo… chúng ta sẽ có nhiều cơ may hơn để nhận ra Thiên Chúa trong cuộc đời mình.


Các Ngôn sứ luôn là người đứng ở giữa, trong thế giằng co giữa sứ mệnh Chúa trao phó và phản ứng của con người. Là Ngôn sứ, nghĩa là chấp nhận cuộc đấu tranh gay gắt, chấp nhận bị từ chối và chấp nhận thân phận "bì xé". Chúa Giêsu, vị Ngôn sứ Cao cả, đã chịu chính những người đồng hương của mình từ chối; đó cũng là "số mệnh" của các ngôn sứ đích thực.
Mỗi người kitô hữu, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, đều được lãnh nhận đồng thời ba chức vụ : Ngôn sứ, Tư tế cộng đồng, và Hoàng vương. Do đó, người kitô hữu nào cũng có trách nhiệm loan báo Tin mừng cứu độ của Chúa Giêsu, và đều được "báo trước" những khó khăn của sứ vụ. Dù vậy, ta vẫn thấy không thiếu những kitô hữu đã can đảm sống tình yêu trong lòng một xã hội có quá nhiều ganh ghét; sống chân thật trong lòng một xã hội đầy dối trá; sống đức Tin giữa lòng một thế giới trần tục hóa.
Quả thực, sức mạnh của Thánh Thần vẫn có và vẫn tác động trong lòng Giáo hội.

Lạy Chúa,



Xin cho con luôn sống trong sự hiện diện của Chúa.

Chúa luôn luôn đi bên con,

trong những hành trình thường ngày của con;

Như bà mẹ già vẫn luôn dõi theo bước của đứa con,

bằng tình yêu thật đậm đà gắn bó.

Xin Chúa giúp con làm việc dưới sự hiện diện của Chúa,

Vui sống trong sự hiện diện của Chúa,

An nghỉ bên sự hiện diện của Chúa. Michel Quoist

Lm. An Phong, OP

Thân PhẬn Ngôn SỨ

Mc 6, l-6

Lm Giuse Đỗ Văn Lục, OP
Làm sao có thể đem lại niềm hi vọng cho con người giữa một thế giới đầy những bạo loạn và khổ thống hôm nay? Tất cả những đều bắt nguồn từ vô minh trước chân lý. Bởi đấy, cần lắng nghe ngôn sứ là những người loan báo sự giải thoát cho nhân loại.
CÓ MỘT NGÔN SỨ GIỮA CHÚNG TA

Ngôn sứ là bộ mặt quen thuộc trong Cựu Ước và truyền thống Do thái. Họ là người lặp lại những lời Giavê. Bởi đấy họ trở thành một "chuyên viên" nói về Thiên Chúa, kinh nghiệm về "vinh quang" (Ed 1:26-28), sức mạnh áp đảo (Gr 15:16), sự thánh thiện tuyệt vời của Thiên Chúa (Is 6:1-8). Bắt nguồn từ ý thức sâu xa về tôn giáo và chính trị, ngôn sứ cho thấy Giavê đang hướng dẫn về một tương lai, "ngày" cao điểm Thiên Chúa sẽ thực hiện giao ước và xuất hiện vinh quang, từ khi có một cuộc thay đổi sâu xa tự bên trong (Gr 31:31-37; Ed 34:11-30; 36:23-36).


Chính vì thế, Ðức Giêsu đã giải thích Kinh thánh và nói những lời tiên tri cho người thời đại để hoàn thành lời ngôn sứ: "Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như ngươi để giúp chúng, Ta sẽ đặt những lời của Ta trong miệng người ấy, và người ấy sẽ nói với chúng tất cả những gì Ta truyền cho người ấy." (Ðnl 18:18) "Dân chúng cho Người là một ngôn sư," (Mt 21:46) nghĩa là nhận ra Người là ngôn theo truyền thống Do thái. Nhưng những người khác lại thấy nơi Người ứng nghiệm lời sách Ðnl 18:15-18 khi nói : "Ông này thật là vị ngôn sứ." (Ga 7:40) Bởi thế, nguồn gốc của Người thật cao cả : "Chính Ta sai ngươi đến với con cái Israel." (Ed 2:3)
Hơn một ngôn sứ, Ðức Giêsu còn làm những phép lạ như những dấu chỉ diễn tả tình yêu và quyền năng của Người được Chúa Cha sai đến. Khác hẳn mọi người, Ðức Giêsu có ảnh hưởng trực tiếp trên dân chúng. Trước khi họ mở miệng, Người đã bắt ngay được những tư tưởng và bận tâm của họ (Mc 2:1; Mt 12:25; Lc 9:47). Họ không thể dấu giếm Người điều gì. Người có thể thấu suốt tâm hồn. Thực tế, Người còn ý thức mình "còn hơn" một ngôn sứ, "hơn Giona" (Mt 12:41), "cao cả hơn vua Salomôn" (Mt 12:42), "cao cả hơn Ðền Thờ." (Mt 12:16) Tuy cao cả như thế, Người vẫn không muốn che dấu thân phận bi thương khi phải đối diện với cái chết tàn bạo. Nhưng cái chết đó đã Người cắt nghĩa là việc đền thay tội ác nhân loại. Mầu nhiệm cứu độ chỉ được mạc khải hoàn toàn khi Người phục sinh.
Nếu không phục sinh, không thể nào hiểu được tại sao một ngôn sứ lại gặp bế tắc trên bước đường công bố chân lý giải thoát cho nhân loại. Những lạnh lùng của người thân dẫn đến một viễn tượng đau khổ và cái chết. Ðức Giêsu đã phải cay đắng chừng nào khi thốt lên : "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi." (Mc 6:4) Không còn kinh nghiệm nào quí báu hơn ! Không còn thực tế nào phũ phàng hơn !
Chính thực tế phũ phàng đó đã đẩy Chúa vào cõi chết. "Họ vấp ngã vì Người." (Mc 6:3) Nhưng khi phục sinh thân xác Ðức Giêsu, Thánh Linh đã biến Người thành "đá tảng góc tường" (Tv 118:22) xây nên tòa nhà Giáo hội. Như vậy, cái chết của Người đã biến thành một lời tiên tri và một bảo đảm mạnh mẽ nhất cho mọi người thấy giao ước tình yêu Thiên Chúa nên trọn vẹn.
Người ta cứ tưởng lời ngôn sứ bị đóng khung trong giới hạn thân xác hay hoàn cảnh địa dư và văn hóa. Thực tế, lời ngôn sứ hoàn toàn lệ thuộc vào niềm tin. Bởi thế, Ðức Giêsu "lấy làm lạ vì họ không tin." (Mc 6:6) Chính lòng cứng tin này đã làm cho Người bó tay "không thể làm được phép lạ nào tại đó." (Mc 6:5) Nhưng đó lại là lúc Người phá tung biên giới "quê quán của Người" (Mc 6:1) để "đi các làng chung quanh mà giảng dạy" (Mc 6:6) chân lý giải thoát muôn dân. Một số người xóm làng cứng tin. Nhưng sẽ có hàng vạn người mở lòng đón nhận Tin Mừng Cứu độ. Bởi đấy, chắc chắn kèm theo lời giảng là những phép lạ Người sẽ thi thố khắp nơi.
Cái nhìn bà con đóng khung trong những giới hạn rất trần tục, không đi xa huyết thống và những nhu cầu hằng ngày: "Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria và là anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?" (Mc 6:3) Họ nêu thắc mắc rất chính đáng về quyền uy của Người: "Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao ? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì ?" (Mc 6:2) Nhưng làm sao tìm được câu trả lời nếu đóng khung Người trong những giới hạn như thế ?
Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy Ðức Giêsu Kitô "một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân." (Lc 24:19) Người đến hoàn thành và thực hiện lời ngôn sứ xa xưa. Nhờ Người, cộng đoàn không ngừng sống trong tương quan với trào lưu ngôn sứ. Trên hết, cơ cấu cộng đoàn tiên khởi nhìn nhận nơi các ngôn sứ có một nguyên tắc căn bản làm nền tảng xây dựng sức sống Giáo hội (x. Ep. 4:11; 1 Cr 12:28). Suốt 20 thế kỷ, Giáo hội đã coi ngôn sứ là một trong những đoàn sủng để Giáo hội thi hành nhiệm vụ làm trung gian mạc khải.
NGÔN SỨ TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

Nếu ngôn sứ là một đoàn sủng, mọi người có thể xây dựng cộng đoàn (1 Cr 14:3, 29-32) dựa trên Lời Chúa. Chính Thánh Linh hướng dẫn các ngôn sứ trong công tác xây dựng cộng đoàn và cho các ngôn sứ thần hứng nói tiên tri (Cv 2:18; 11:28; 19:6; 21:11; 1 Cr 12:28; 1 Pr 1:11; 2 Pr 1:21). Sứ ngôn là "lời chứng của Ðức Giêsu," (Kh 19:10) mục đích làm cho Lời Chúa trở thành hiện thực, sống động và gần gũi với cộng đoàn. Vì thế, thánh Phaolô kêu gọi ngôn sứ "xây dựng, khích lệ và an ủi" để "xây dựng Hội Thánh." (1 Cr 14:3.4) Những kiểu đe loi, lên án và oán phạt đều biến khỏi những lời ngôn sứ trong Tân Ước.


Ngôn sứ hướng dẫn cộng đoàn hiện tại trong ánh sáng phục sinh và niềm hi vọng Người quang lâm. Muốn thế, ngôn sứ phải cẩn thận tìm hiểu lịch sử hiện tại trong nguồn mạch truyền thống và trong ý thức cánh chung. Nói khác, ngôn sứ phải chuẩn bị đọc được những dấu chỉ thời đại và tạo được những dấu chỉ mới làm cho sứ điệp cứu độ thành sống động cho nhu cầu hiện đại.
Sứ ngôn luôn luôn và tuyệt đối phải là một lời đầy khích lệ, chân thực và hi vọng. Thánh giá Chúa Giêsu là dấu chỉ mang tính ngôn sứ cao cả nhất. Dung nhan của Ðấng chịu đóng đinh chiếu tỏa vinh quang Chúa Cha chính là sứ điệp cuối cùng nói lên ý muốn cứu độ của Thiên Chúa. Khi sang thăm Croatia, ÐGH Gioan Phaolô II đã "mời gọi người dân hãy trở nên "nhân chứng trung thành và tông đồ quảng đại" (Zenit 09.06.2003) cho tình yêu Thiên Chúa. Người còn nói : "Trên khuôn mặt in hằn dấu vết chiến tranh, tôi biết anh chị em rất đau khổ. Nhưng tôi cũng biết anh chị em cương nghị, can đảm và tràn đầy hi vọng. Chắc chắn tương lai sẽ khá hơn."
Là một ngôn sứ, "giáo dân hăng say dấn thân làm việc tông đồ dưới mọi hình thức … Hãy học cùng Ðức Maria để trở nên những chứng nhân trung thành và những tông đồ quảng đại … để góp phần riêng vào công cuộc tân phúc âm hóa." Ðể hoàn thành sứ mệnh cao cả đó, họ phải nguyện xin Mẹ Maria "phù giúp chúng ta làm chứng cho tình yêu đâm hoa kết trái và cuộc đời đầy ý nghĩa đích thực, xin dạy chúng ta cùng Mẹ xây dựng Vương quốc Thánh Tử, Vương quốc công chính, tình yêu và hòa bình." (Zenit 09.06.2003)

Lm Giuse Đỗ Văn Lục, OP
TrỞ VỀ Quê Hương

Mc 6, 1-6

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP
Hãy thử đặt mình vào tâm trạng của những người sống cùng thời với Ðức Giê-su, cùng sống tại một làng quê và là bà con với Ðức Giê-su.
Từ thời niên thiếu, chúng tôi đã biết rõ về Người : chúng tôi cùng thuộc về một cộng đoàn, một "hệ thống xã hội". Chúng tôi cùng có một nền đạo đức, cùng có chung những giá trị : hội đường, ngày sa-bát. Chúng tôi sống với Người rất thân tình. Ðã có những cuộc gặp gỡ tại nhà cô Ma-ri-a, tại nhà ông Giu-đa, ông Si-mon và những người khác. Chúng tôi là những người bà con, những người quen biết nhau cùng sống trong ngôi làng nhỏ bé. Ðức Giê-su đã gây được ấn tượng tốt : dân làng nghĩ rằng Ðức Giê-su là người kín đáo, hay giúp đỡ, siêng năng, "khôn ngoan" ... Nói chung, người ta có thể tin cậy được.
Bỗng nhiên, sau ba mươi năm bình lặng, yên ổn, có một điều gì đó rất lạ lùng. Không còn là anh bạn Giê-su quen thuộc "của chúng tôi nữa". Lời anh nói, việc anh làm, chúng tôi không hiểu nỗi. Một điều gì đó đã xảy ra, và chúng tôi phải thay đổi cách nhìn về anh, về sự việc.
Ðối với chúng tôi, thật là khó để nhận ra người bà con, người bạn này, người đã từng sống với chúng tôi trong suốt quãng thời gian dài. Lời anh nói, việc anh làm làm xáo trộn cuộc đời, cách suy nghĩ của chúng tôi. Khó quá !
Cũng thật là khó khi phải nghĩ rằng nhờ con người đơn giản, bình thường và thân quen này, Thiên Chúa lại có thể nói với chúng tôi một điều gì đó. Anh làm chúng tôi sững sờ : điều anh loan báo về Nước Thiên Chúa, về Ðấng Mê-si-a hoàn toàn khác hẳn quan niệm xưa nay của chúng tôi. Anh quả là người gây khó khăn cho chúng tôi và chúng tôi không chấp nhận nổi.
Theo Tin Mừng, Ðức Giê-su "lấy làm lạ vì họ không chịu tin". Rồi Người "đi khắp các làng chung quanh mà giảng dạy".

Tại những nơi xa lạ, chẳng ai rõ về nguồn gốc của Người, nhờ đó, lời Người nói có thể được dân chúng đón nhận. Các cư dân ở những miền này chẳng thắc mắc gì về nguồn gốc, về thói quen, về nghề nghiệp của Ðức Giê-su ; họ dễ dàng đón nhận lời Người nói và tin vào Người.


Về phần mình, Ðức Giê-su đi hết chỗ này đến chỗ kia : lời của Người không còn bị đóng khung trong Hội đường hay trong vòng bà con thân thuộc, nhưng vang xa hơn. Lời ấy đến với một người nghèo, một người bệnh và họ được giải thoát. Lời của Người không chỉ là những từ ngữ, nhưng còn là hành động cứu người nghe khỏi tình trạng khốn khổ. Họ tín nhiệm vào Người, họ "tin" vào Người. Họ nhận ra lời Người thật "sống động" và họ hiểu rõ : đó là lời Thiên Chúa. Họ nhận ra tính cách thần linh ẩn giấu nơi một con người bình thường
Chuyến đi không thành công

"Hành hương về nguồn", tìm về nguồn cội là một trong những đề tài quen thuộc trong xã hội hiện tại. Thất bại của Ðức Giê-su tại chính quê hương của mình cho thấy những giới hạn của một cuộc ra đi như thế. Ki-tô hữu là người cắm rễ trong lịch sử, nhưng tự bản chất vẫn là người của tương lai, của điều sẽ đến.


Ðức Giê-su bị giam hãm

Theo cái nhìn bình thường, việc Ðức Giê-su xuất hiện trong hội đường của quê hương sẽ là điều kiện thuận lợi để lời giảng của Người có thể tác động đến các thính giả.


Thế nhưng, những người đồng hương với Ðức Giê-su lại muốn xác định, đánh giá "người con của quê hương", thay vì để cho những lời giảng thúc đẩy. Dù những lời Người nói rất chân tình và sống động, nhưng hình như chúng vẫn đủ làm họ quên đi những ấn tượng về nguồn gốc và quá khứ của Người.
Do đó, Ðức Giê-su không thể giảng dạy cho họ điều gì cả. Họ bị giam hãm trong những thói quen và xác tín của mình, nên cũng đóng khung Ðức Giê-su vào trong tình trạng "anh thợ mộc, con của ...". Ðối với các thính giả của Ðức Giê-su, xưa nay Người đã xuất hiện bên họ với tình trạng như thế, thì giờ đây Người cũng chỉ thế thôi. Người không thể nào khác đi được, Người không phải là vị ngôn sứ. Vì vậy, họ thẳng thừng chối bỏ những lời giảng của Ðức Giê-su mà họ cho là không thể lọt tai.
Ðức Giê-su bị ngăn cản

"Người đã không làm được phép lạ nào."

Ðó là chuyện hợp lý, chuyện bình thường sau những sự kiện mới xảy ra. Hoạt động của Thiên Chúa không bức bách con người. Phép lạ, đó là trao ban sự sống, sự sống mới, là làm cho phục sinh. Thiên Chúa không thể làm phép lạ khi con người không muốn. Thiên Chúa không thể bày tỏ uy quyền của Người trước những kẻ có thái độ lãnh đạm đối với lời Thiên Chúa.
Do lòng yêu thương và tôn trọng, Thiên Chúa để con người tự do lựa chọn. Con người phải bày tỏ thái độ là mở ra trong đức tin. Thiếu đức tin của con người, Thiên Chúa không thể làm gì được, và điều đó có thể làm Thiên Chúa ngạc nhiên.

Như thế cuộc trở về Na-da-rét của Ðức Giê-su là một thảm kịch biểu hiện cho thảm kịch của toàn bộ Tin Mừng. Sự từ chối của dân làng Na-da-rét báo trước sự từ chối của nhân loại trước mầu nhiệm Thiên Chúa, trước tình yêu của Ðấng muốn trao tặng tất cả. Thái độ này cũng đã hé mở số phận của Ðức Giê-su, tức là mầu nhiệm thập giá.


Nỗi kinh ngạc của Ðức Giê-su trước thái độ quyết liệt của những người đồng hương cũng là nỗi kinh ngạc của một vị Thiên Chúa mang đến tất cả và bị từ chối tất cả. Ðó cũng là nỗi kinh ngạc của các sứ giả Tin Mừng, khi lời nói và hành động của họ không chiều theo sở thích của con người thời đại.

Thiên Chúa luôn có những đường lối bất ngờ và con người phải chọn lựa, phải đáp lại bằng đức tin. Khi con người muốn đóng khung Thiên Chúa vào những thành kiến hẹp hòi của mình, thì cũng là lúc họ đóng lại con đường ân sủng.


Phải biết hy vọng

Từ trình thuật Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể rút ra hai bài học.



  • Trước hết, cách đơn giản nhất để làm cho người khác bị tê liệt, không hoạt động gì được là không tin vào họ, là giam giữ họ trong những ý tưởng tiên thiên, những phạm trù có sẵn nơi mình. Biết bao năng lực bị bỏ quên, biết bao tài năng bị dở dang, biết bao niềm hạnh phúc phải tắt ngúm vì những phán đoán, những định kiến về những người mà ta tưởng rằng biết rất rõ. Trong cái nhìn của chúng ta về người khác, phải biết hy vọng.




  • Sau nữa, Thiên Chúa gọi chúng ta, ngỏ lời với chúng ta, không phải qua những con người có dáng vẻ siêu đẳng, nhưng qua những con người rất bình thường. Thiên Chúa vẫn thường bày tỏ những chân lý siêu việt qua những phương tiện đơn sơ, tầm thường. Chính Thiên Chúa vẫn hiện diện nơi những con người yếu đuối, mỏng manh. Họ là những sứ giả của Thiên Chúa và chúng ta phải nhận ra sự hiện diện kỳ diệu của Người. Họ có thể là người khách trọ hay người bà con, họ có thể là một người bệnh, một người xa lạ, hay là một người thân ; họ có thể là một người bạn thân thiết hay có khi là một người chống lại chúng ta ... Con đường ân sủng vẫn mở rộng nếu chúng ta luôn giữ trong lòng niềm hy vọng sống động.

Quả thật, để tự bày tỏ chính mình, Thiên Chúa cần đến con người.

"Thiên Chúa đi những bước trước, nhưng Người đợi chúng ta đáp trả. Người gõ cửa, nhưng Người chỉ bước vào khi chúng ta lên tiếng mời. Người kêu gọi, nhưng chỉ ban ơn khi chúng ta thực sự ước muốn. Chính vì vậy, Ðức Giê-su chỉ bày tỏ công trình cứu độ của Người cho những ai đón nhận Người trong lòng tin.


"Ðức tin chính là thái độ cởi mở của tâm hổn mà Thiên Chúa chờ đợi để biết chắc rằng những kẻ tìm kiếm Thiên Chúa chỉ kiếm tìm Người vì một mình Người, và được thúc đẩy do lòng mến."
Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP
NgẠc nhiên

Mc 6,1-6

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP
Người ta thường nói “không nơi đâu đẹp bằng quê hương”, “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Khi nói những điều đó là người ta muốn minh chứng rằng : bất cứ ai cũng yêu mến quê hương, yêu mến nơi sinh trưởng, nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đây là xét về tình cảm cá nhân mỗi người dành cho quê hương, còn về chính quê hương, đối lại với cá nhân, tức là tình cảm của những người đồng hương dành cho cá nhân, thì phải chấp nhận chân lý bất hủ của Chúa Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay là “không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”. Đây cũng là một quan niệm cố hữu bình dân : “Bụt nhà không thiêng”. Chúa Giê-su đã tuyên bố chân lý bất hủ này về chính bản thân Ngài tại quê hương Na-da-rét của Ngài.
Ngài trở về quê hương Na-da-rét sau hơn một năm đi giảng dạy khắp nơi. Hôm ấy đúng vào ngày Sa-bát, mọi người đến hội đường để nghe đọc Kinh Thánh và nghe diễn giảng. Chúa Giê-su cũng vào đây để dự phụng vụ lời Chúa. Hôm nay, sau bài đọc, như luật cho phép, Ngài diễn giảng lời Chúa. Kết quả : dân chúng không nhận ra Ngài là ai và họ khinh khi Ngài, họ có thái độ hiểu lầm Ngài, hiểu lệch lạc về con người của Ngài. Bởi vì Ngài nói như một người có uy quyền, như bậc thầy nói với học trò, như một người muốn gây dựng cho mọi người lòng tín nhiệm nhau để tiến tới tin nhau. Điều Ngài dạy vượt mọi khuôn phép cổ truyền đến nỗi mọi người phải thắc mắc.
Nghĩa là trước những lời giảng dạy của Chúa Giê-su, dân làng Na-da-rét ngạc nhiên, vì họ thấy Ngài không đi học ở trường lớp nào mà sao lại có những lời lẽ khôn ngoan, cao siêu, mới lạ. Mặt khác, họ thấy Ngài chỉ là con bà Ma-ri-a và bác Giuse thợ mộc, bản thân Ngài cũng chỉ là một anh phó mộc, mà sao có thể đảm nhận chương trình đại sự của Thiên Chúa được ? Họ không thể ngờ được giữa bụi đất lại có kim cương, họ không thể hiểu được nơi Chúa có hai bản tính, họ không thể nhận ra yếu tố Thiên Chúa và con người, hữu hạn và vĩnh cửu, trời và đất, hạnh phúc và đau khổ giao hòa lại trong một thực tại duy nhất, là nơi con người Chúa Giê-su. Đó là điều làm cho họ vấp phạm, họ khinh thường Chúa và không thiết nghe lời chân lý của Ngài.
Nói rõ hơn, dân làng Na-da-rét đã ngạc nhiên về Chúa Giê-su khi thấy Ngài giảng dạy một cách khôn ngoan, thông thái và có thẩm quyền, nghĩa là họ vừa thán phục vừa kinh ngạc. Nhưng vì biết quá rõ về Chúa : thợ mộc, con thợ mộc, từ thán phục kinh ngạc họ chuyển sang thái độ bỡ ngỡ, nghĩa là kinh ngạc nhưng nghi ngờ. Càng nghĩ đến thân thế, nguồn gốc, địa vị xã hội và họ hàng Ngài, họ càng thấy khó chịu, nên họ có vẻ châm biếm khi gọi Ngài là thợ mộc. Một người như vậy mà có thể là ngôn sứ, là Đấng Mê-si-a ư ? trăm lần không, ngàn lần không, và họ đã bị vấp phạm, có nghĩa là bị xúc động mạnh vì bị chạm tự ái. Họ không thể công nhận một người như thế làm ngôn sứ, làm Đấng Mê-si-a của họ, cho dù Ngài ăn nói giỏi hay làm được phép lạ cũng thế. Từ đó, sự hiện diện của Ngài khiến họ không thể chịu nổi.
Dân làng Na-da-rét ngạc nhiên về Chúa, và Chúa cũng ngạc nhiên về họ, Ngài ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin, kiêu căng và cố chấp. Chính thái độ kiêu căng, cứng lòng đó đã làm tê liệt năng lực làm phép lạ của Chúa như Tin Mừng đã quả quyết : “Ngài không thể làm được phép lạ nào tại đó vì họ cứng lòng tin”.
Chúa Giê-su ngạc nhiên vì dân làng Na-da-rét cứng lòng tin, ngày nay chắc Ngài vẫn còn phải ngạc nhiên hơn nữa vì sự cứng lòng tin của nhiều người Công giáo, vì dù sao người Công giáo cũng phải biết Chúa rõ hơn dân làng Na-da-rét. Dân làng Na-da-rét tưởng rằng họ biết rõ Chúa, nhưng kỳ thực họ biết rất hời hợt, thiển cận, chẳng hạn : ngay nơi sinh của Chúa họ cũng không biết, họ cứ tưởng Ngài sinh ra và lớn lên ở chính Na-da-rét, một làng nhỏ bé, nghèo nàn. Nhiều người Công giáo cũng thế, đi đạo vì truyền thống gia đình, vì sinh ra trong gia đình Công giáo, giữ đạo vì thói quen, cho nên tưởng rằng biết Chúa, biết đạo lý, nhưng kỳ thực không biết gì hay biết không được bao nhiêu. Thế nên, mỗi người cần suy nghĩ : Chúa có ngạc nhiên về đức tin non yếu của chúng ta, về sự hiểu biết Chúa quá ít, hiểu biết về kinh Thánh, giáo lý quá ít, và nhất là có phải Chúa rất ngạc nhiên về cách sống của chúng ta không ?

Đàng khác, bài Tin Mừng hôm nay còn đặt ra cho chúng ta một điều nữa cần suy nghĩ, đó là từ chối hay đón nhận Chúa là thái độ hoàn toàn tự do của con người. Người ta có quyền chối bỏ cũng như có quyền chấp nhận, Thiên Chúa không áp đặt ai hay cố tình đưa ai vào một thế triệt buộc nào đó. Nhưng thời nào cái quyền tự do kia cũng là con dao hai lưỡi khiến phải đề phòng, người khôn ngoan bao giờ cũng dè dặt.


Giả như chúng ta thử đặt mình vào số những người có mặt trong hội đường Na-da-rét hôm ấy để nghe Chúa, chúng ta sẽ phản ứng thế nào ? Chúng ta có quyền trách dân làng Na-da-rét quá vội vàng hoặc tiếc thay cho họ vì họ đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta sẽ tự trách mình, và còn tiếc nuối biết bao cơ may trong đời chúng ta đã đánh mất vì quan niệm hay cái nhìn hẹp hòi của chúng ta.
Nói rõ hơn, thái độ từ khước Chúa Giê-su một cách hấp tấp, hồ đồ, chỉ vì thành kiến của dân làng Na-da-rét. Thái độ đó nhắc nhở chúng ta kiểm điểm về cách chúng ta phán đoán và đánh giá trị người khác, chúng ta cũng đã nhiều lần phán đoán hay đánh giá người khác hoặc vội vàng, hấp tấp, hồ đồ, hoặc không trung thực vì thành kiến, vì tự ái, vì ganh tị, đôi khi còn bài bác, dèm pha nữa. Chúng ta hãy kiểm điểm và sửa chữa lại tật xấu này để mối tương giao của chúng ta với mọi người được tốt đẹp hơn. Chúng ta hãy nhớ : người hay phán đoán, nhất là phán đoán hồ đồ, không sống được với ai, không chơi được với ai, và cũng không ai dám chơi với họ, họ bị mất niềm tin nơi mọi người.
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP
Không Làm ÐưỢc Phép LẠ

Manna 

Lời Chúa: (Mc 6, 1-6)

1 Hồi ấy, Ðức Giêsu trở về quê nhà, có các môn đệ đi theo. 2 Ðến ngày sabát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói: "Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì? 3 Ông ta không phải là bác thợ, con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Gioxê, Giuđa và Simon sao? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?" Và họ vấp ngã vì Người.

4 Ðức Giêsu bảo họ: "Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi."

5 Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. 6 Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy.

 

Suy NiỆm

Ðức Giêsu giảng dạy ở hội đường tại quê nhà. Phản ứng của dân làng là hết sức ngạc nhiên trước sự khôn ngoan trong lời Ngài giảng. Nếu họ chân thành tìm kiếm họ có thể nhận ra khuôn mặt thật của người họ quá quen.
Tiếc thay người làng Nazareth đã không đủ vô tư. Họ bị ám ảnh bởi quá khứ của Ngài, và họ không sao ra khỏi những định kiến sẵn có. "Ông ta không phải là bác thợ sao?" Một bác thợ sống bằng đôi tay như bao người. Một bác thợ trong làng, âm thầm và khiêm tốn, sống bao năm ở đây không một chút hào quang.

Họ cũng bị ám ảnh bởi cái hiện tại trước mắt: Bà Maria và các anh em, chị em của ông, tất cả vẫn đang sống rất đỗi bình thường, như những người láng giềng gần gũi. Một quá khứ và hiện tại như thế đã khiến họ vấp phạm. Họ không tin Ngài là một Ngôn Sứ, lại càng không thể tin Ngài là Mêsia, và chắc chắn họ chẳng bao giờ dám nghĩ rằng mình là người đồng hương với Ngôi Hai Con Thiên Chúa.


Không chắc chúng ta đã khá hơn người làng Nazareth. Hôm nay chúng ta vẫn có thể bị đóng khung trong một cái nhìn nào đó về Ðức Kitô, khiến chúng ta chỉ thấy một phần khuôn mặt của Ngài. Có những người chúng ta rất quen, sống sát bên ta, nhưng chúng ta chẳng hiểu mấy về họ. Những gì tôi biết về họ là đúng, nhưng không đủ. Mỗi người là một mầu nhiệm cần khám phá suốt đời.

Cần phải ra khỏi mình, ra khỏi cái nhìn khô cứng để gặp được mầu nhiệm tha nhân, để thấy người khác bằng cái nhìn luôn luôn mới.


Chúng ta thường nói đến một Thiên Chúa toàn năng, nghĩa là Ðấng làm được mọi sự. Nhưng Ðức Giêsu tại Nazareth lại cho ta thấy hình ảnh một Thiên Chúa yếu đuối và bất lực. Ngài bó tay trước sự cứng lòng của con người. Ðức Giêsu đã không thể làm được phép lạ nào ở đó. Thế mới hay con người có khả năng cản trở Thiên Chúa, có thể dùng chính tự do Ngài ban để khước từ Ngài.

Phép lạ là quà tặng cần được đón nhận với lòng tin. Phép lạ không phải là phù phép áp đặt trên người nhận. Có bao điều lạ lùng Thiên Chúa định làm cho đời ta, mà Ngài không làm được, vì không được làm. Nên thánh là để cho Ngài yêu thương ta, để cho Ngài tự do hoạt động trong đời ta. Lúc đó đời ta sẽ trở nên một kỳ công của Thiên Chúa, và nhờ Ngài, ta có thể làm được những kỳ công.

 

GỢi Ý Chia SẺ


  • Quá khứ của một người có thể làm chúng ta không thấy sự thật về người đó. Bạn có khi nào giống như người Nazareth không?

  • Có khi nào bạn thấy Thiên Chúa bị bó tay, chỉ vì bạn khăng khăng từ khước không?

 

CẦu NguyỆn

Lạy Chúa Giêsu,

dân làng Nazareth đã không tin Chúa

vì Chúa chỉ là một ông thợ thủ công.

Các môn đệ đã không tin Chúa

khi thấy Chúa chịu treo trên thập tự.

Nhiều kẻ đã không tin Chúa là Thiên Chúa

chỉ vì Chúa sống như một con người,


Cũng có lúc chúng con không tin Chúa

hiện diện dưới hình bánh mong manh,

nơi một linh mục yếu đuối

trong một Hội Thánh còn nhiều bất toàn.


Dường như Chúa thích ẩn mình

nơi những gì thế gian chê bỏ,

để chúng con tập nhận ra Ngài bằng con mắt đức tin.
Xin thêm đức tin cho chúng con

để khiêm tốn thấy Ngài

tỏ mình thật bình thường giữa lòng cuộc sống.

Manna 

Kinh NghiỆm CỦa Tiên Tri

Ed 2,2-5; 2Cr 12,7-10; Mc 6,1-6

Gm.Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Phúc Âm: Mc 6, 1-6

"Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương".

Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người. Ðến ngày Sabbat, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Và họ vấp phạm vì Người.

Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình". Ở đó Người không làm phép lạ nào được, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh mà giảng dạy.

 

Suy NiỆm:

Chúa nhật trước các bài Kinh Thánh đã nói với chúng ta về đức tin. Hôm nay Lời Chúa nhắc lại những kinh nghiệm trong cuộc đời của dân Israel, của Ðức Yêsu và của thánh Phaolô để khuyến khích đức tin của chúng ta trong những hoàn cảnh đặc biệt. Ước gì chúng ta hiểu những lời Kinh Thánh vừa nghe đọc. Và cho được như vậy chúng ta cần tìm hiểu thêm.

 

1. Kinh Nghiệm Của Israel



Bài sách Ezekiel đưa chúng ta trở về đợt lưu đày đầu tiên của dân Israel, vào khoảng năm 597 trước Ðức Yêsu ra đời. Nhà tiên tri ở trong đám dân khổ sở đó. Bị đày xa quê hương và đền thờ ông cũng như mọi người tưởng rằng như vậy là hết rồi. Giao ước giữa Chúa và dân không còn nữa. Họ đã bất tín đến nỗi Người phải trừng trị. Hoàn cảnh lưu đày này làm chứng Người đã bỏ dân.
Ðang khi họ suy nghĩ như vậy thì này đột nhiên Ezekiel được một thị kiến ngay nơi đất khách. Sự kiện làm ông bàng hoàng tự nghĩ: làm sao Thiên Chúa có thể hiện ra với ông nơi dân ngoại? Yavê có quyền cả ở địa phương này sao? Và hơn nữa Người chưa hoàn toàn bỏ dân ư?
Rồi không những có thị kiến, mà còn có tiếng nói. Lời Chúa nói với Ezekiel và sai ông đi đến với dân phản loạn. Rõ ràng Thiên Chúa không bỏ kẻ có tội. Người ta bất tín, nhưng Người vẫn tín thành.
Người sai Ezekiel đến với họ như đã sai Môsê đến với Pharaon: vì Israel lúc này cũng lòng chai đá, mặt trơ tráo như vua Aicập ngày trước (Xh 7,13). Và như vậy, đoạn Kinh Thánh hôm nay ám chỉ Chúa đã bắt đầu nghĩ đến truyện cứu dân lưu đày. Và cuộc giải cứu này một cách nào đó sẽ lập lại cuộc giải phóng khỏi Aicập mà Israel vẫn nhớ lại với lòng khâm phục cảm mến.
Do đó Ezekiel cũng phần nào đó giống như Môsê. Ông được đặt làm tiên tri đến với dân nhân danh Chúa. Ông sẽ nói với những người đang làm tôi mọi dân ngoại rằng: đừng quên Chúa: Người phán như thế này; Người sẽ ra tay uy hùng cứu kẻ tin vào Người.
Dĩ nhiên bắt đầu người ta sẽ không tin lời cứu độ đâu, cũng như xưa Pharaô từ chối lời của Môsê. Nhưng Chúa sẽ ở với Ezekiel như đã ở với Môsê. Ezekiel sẽ là khí cụ để Chúa biểu dương quyền lực của Người trước mặt dân ngoại. Ông sẽ không làm những việc lạ kỳ như Môsê ở trước nhan Pharaô, vì đối với dân ngoại cần có những dấu hiệu đó để họ nhận biết quyền năng của Chúa. Nhưng còn đối với Israel, dân đã từng thấy những việc kỳ diệu, không cần phép lạ nữa và những phép lạ này cũng không đủ nữa. Ðối với những kẻ đã "thấy", bây giờ phải làm cho họ "biết" và "hiểu". Và vì thế Ezekiel phải mạnh về "Lời", về mạc khải, nói với lòng dân thay vì với mắt họ trước đây, để Israel sẽ thay lòng đổi dạ hầu có một trái tim thịt máu thay vì trái tim chai đá hiện nay.
Do đó Chúa không đặt Ezekiel làm người lãnh đạo dân như Môsê, nhưng làm tiên tri. Và như vậy không phải chính trị sẽ hướng dẫn, nhưng là Lời Chúa sẽ đưa dân đến giải thoát cứu độ. Dân sẽ không thấy có thẩm phán, vua quan hay lãnh tụ ở với mình thay quyền Chúa như trước nữa, nhưng sẽ có tiên tri của Người ở giữa dân và giúp dân đi theo đường lối của Chúa. Sự hiện diện của nhà tiên tri nói lên sự hiện diện của Chúa thay thế cho sự hiện diện của Người nơi đất Thánh và chốn đền thờ, thay thế cho sự có mặt của hoàng đế và tư tế, từng lãnh đạo dân trong nhiều thế kỷ trước đây.
Bài sách Ezekiel, vì thế, mở ra trước mắt dân lưu đày một viễn tượng hoàn toàn mới mẻ. Họ có thể thấy Chúa chưa bỏ họ trong cảnh lầm than. Người đang đi trước họ, giới thiệu con đường cứu độ mới. Từ nay Người sẽ dùng tiên tri và dùng Lời của Người để dạy dỗ và hướng dẫn dân, để ai tin thì sẽ được cứu độ.
Chúng ta không được an ủi sau khi hiểu bài sách Ezekiel như thế. Ðền thờ và hàng tư tế vẫn quý và cần thiết cho đời sống đạo. Nhưng có những lúc Chúa muốn hướng dẫn chúng ta nguyên bằng Lời của Người, tức là bằng sách thánh, và bằng những tiên tri biết đem lời của Chúa trình bày cho anh em. Chúng luôn muốn kêu gọi những tiên tri như vậy. Ai đáp lời không những sẽ như Ezekiel mà còn giống như Ðức Yêsu nữa, vì chính Người mới là vị tiên tri tuyệt diệu của Thiên Chúa mà Ezekiel và mọi tiên tri khác chỉ như bóng sánh với hình. Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta cơ hội chiêm ngưỡng vị tiên tri tuyệt diệu ấy.

 

2. Kinh Nghiệm Của Ðức Yêsu



Cho đến nay người ta vẫn không ngớt thắc mắc về đoạn sách Marcô này. Nó đâu có làm vẻ vang gì cho Ðức Yêsu mà tác giả sách thánh đã viết ra? Và như vậy có lợi gì đâu mà phụng vụ ngày nay còn đem nó ra đọc trong thánh lễ? Nó cho chúng ta thấy một Ðức Yêsu bị thất bại và bất lực ngay nơi các người đồng hương bà con của Người. Nó liệt Người vào thân phận của mọi tiên tri chẳng bao giờ được quý trọng nơi quê quán, nếu không muốn nói rằng Người còn thua kém họ nữa, vì chắc chắn đã có nhiều vị tiên tri tuy không được kính trọng nhưng cũng không đến nỗi bị chống đối, phủ nhận nơi bà con của mình.
Marcô hôm nay cho chúng ta thấy vị tiên tri thành Nadarét bất lực quá: chẳng làm được phép lạ nào trước sự cứng lòng tin của họ hàng thân thuộc. Người còn là vị tiên tri không tự chủ ngay nơi bản thân Người nữa. Vì khi thì như Người thừa hiểu hoàn cảnh; lúc lại như thể Người ngạc nhiên về thái độ của người ta. Hay là Marcô đã dùng những từ ngữ không chỉnh và mâu thuẫn? Trong một câu ông khẳng định cả việc Ðức Yêsu không làm được phép lạ nào, cả việc Người chữa lành một số ít người đau ốm. Những việc chữa lành này không phải là phép lạ sao?
Nhận thấy những lời văn khó hiểu, và nhất là thấy ý tưởng chung bất lợi cho Ðức Yêsu quá, nhiều người thắc mắc không hiểu tạo sao có đoạn văn này trong sách Marcô. Và người ta đưa ra không biết bao nhiêu lý lẽ và giả thiết. Nhưng mọi cố gắng làm suy yếu đoạn văn này đều vấp phải một sự hiển nhiên: đoạn văn nằm đó trong sách của Marcô với những lời lẽ mà chẳng ai có thể tẩy xóa hay sửa chữa được nữa. Và bổn phận của chúng ta bây giờ là phải chấp nhận và tìm hiểu nó.
Nhìn vào vị trí của đoạn văn trong sách của Marcô, chúng ta thấy đã đến lúc Ðức Kitô sắp bỏ Galilêa để xuống thi hành sứ vụ ở Yuđêa. Và như vậy cũng là lúc để có một cái nhìn tổng quát về sứ vụ ở Galilêa, nếu không muốn nói rằng tác giả Marcô đã muốn lợi dụng lúc này để cho chúng ta một cái nhìn chung về những năm giảng đạo của Ðức Kitô. Có thể Marcô cũng muốn tựa vào kinh nghiệm của vị tiên tri thành Nadarét để nói về thân phận của Hội Thánh nói chung và của từng tông đồ nói riêng. Dù sao, đây cũng là một cái nhìn tổng quát về đời hoạt động của một tiên tri.
Thế nên tác giả Marcô có thể lấy lại một cái nhìn cổ điển của Cựu Ước: mọi tiên tri trong các thời đại trước đều đã không được số phận may mắn. Ezekiel chẳng hạn. Hôm nay sách thánh viết rõ ông đã được sai đến với dân phản loạn mặt trơ tráo và lòng chai đá. Nhưng người ta vẫn phải biết ông là tiên tri. Ðức Yêsu cũng là tiên tri và hơn mọi tiên tri nữa. Ở nơi Người các nét tả chính yếu về bậc tiên tri phải nổi hơn, nổi nhất. Người phải đối diện với một dân lòng chai dạ đá. Hơn nữa, họ phải phản đối kình địch với Người hơn mọi tiên tri khác. Sự cay đắng chua xót của Người phải nhiều hơn. Người gặp thấy nó ngay trong hàng bà con thân thích để Yoan có thể viết rằng: Người đã đến nhà của Người, nhưng gia nhân Người đã không chấp nhận Người. Ðó là điều Cựu Ước thường viết về Yavê Thiên Chúa: Người ra tay làm bao việc lạ cho dân mà dân vẫn tỏ lòng chai đá bội bạc.
Nhưng nơi nhà tiên tri không phải chỉ có thất bại. Ðúng hơn nữa, sự chống đối ông gặp phải nói lên tội lỗi của người ta chứ không tố cáo sự bất lực của ông. Nơi ông vẫn có "dấu tay uy quyền của Chúa". Chính vì vậy mà Ðức Yêsu vẫn chữa lành được cho một số ít bệnh nhân khi họ có điều kiện mà đa số không có. Họ có lòng tin đang khi những người khác cứng lòng tin. Nói theo loài người, Ðức Kitô có thể ngạc nhiên về thái độ của đa số: thấy giáo lý khác thường và các phép lạ Người làm mà họ không mềm lòng ra. Nhưng với cái nhìn của Thiên Chúa hay của đức tin, thì điều này cũng không lạ, bởi vì cả lịch sử thánh cho thấy loài người luôn luôn cưỡng lại tình thương của Thiên Chúa. Trừ một số ít. Số ít này là những kẻ được cứu vớt. Họ sẽ làm thành đàn chiên nhỏ. Họ sẽ thừa tự Nước Trời vì họ tin rằng: có nhà tiên tri của Chúa ở giữa họ, mặc dù bề ngoài có nhiều điều cản trở niềm tin này.
Do đó bài Tin Mừng hôm nay là cả một bài học quý giá cho chúng ta. Không nên căn cứ vào câu "chẳng tiên tri nào được kính trọng tại quê nhà" để bao biện cho các khuyết điểm và thất bại trong đời sống tông đồ. Tin Mừng của Chúa không bao giờ muốn an ủi kiểu như vậy. Luôn luôn nó muốn chất vấn lương tâm người ta thường có thái độ nào đối với một Ðấng Thiên Chúa và một Ðức Kitô Người sai đến như vậy? Người ta có sẵn sàng tin sứ điệp tình yêu và cứu độ mà Thiên Chúa gửi đến nơi Lời Kinh Thánh, nơi vị tiên tri, nơi Hội Thánh của Người không? Hay người ta luôn luôn là những người Dothái ở thời Ezekiel và ở thời Ðức Kitô, chỉ muốn tin vào sứ điệp và sứ giả nào hứa hẹn những lợi ích trước mắt? Thiết tưởng bài thư Phaolô cũng phải được hiểu theo chiều hướng này.

 

3. Kinh Nghiệm Của Phaolô



Người đang nói với giáo dân Côrintô yêu quý của người. Họ đã được nhiều tông đồ có óc Dothái đến viếng thăm. Những người này gièm pha Phaolô đủ điều, cốt để người Côrintô đừng tin vào giáo lý cứu độ của Phaolô nữa. Nhưng nếu bỏ niềm tin này, thì làm sao được cứu độ? Phaolô phải can thiệp ngay. Người gửi thư không phải để chữa mình hay để lấy lại uy tín. Người quá tâm lý để biết rằng làm như vậy sẽ chỉ thêm thất bại. Nhất là lòng đạo đức và tinh thần tông đồ đã giết chết khuynh hướng tự tôn ở nơi người từ lâu rồi. Người viết thư hôm nay là để thi hành sứ vụ tiên tri, rao giảng ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Người không khoe khoang, mặc dù người có rất nhiều điều hay để nói về mình. Không những gia thế, học lực và những nét Dothái cao quý ở nơi người; mà cả những thành quả, lao công trong cuộc đời tông đồ; thậm chí những thị kiến và mạc khải cao siêu nữa... Tất cả đều không được người để ý và gán cho một chút vinh quang nào. Ngược lại, người nhấn mạnh đến một cái "dằm" ở trong thân xác người. Nó làm đau, làm nhục người triền miên. Nó là cái gì người không xác định; nên ai có ý tưởng nào cũng chỉ là suy đoán. Ðiều quan trọng mà Người muốn nói là cái dằm trong xác thịt ấy luôn luôn tố cáo sự yếu đuối của người ở trước mặt Chúa để người ý thức không phải mình sống nhưng là Ðức Kitô sống trong mình, không phải mình mạnh nhưng là quyền năng của Ðức Kitô đậu lại ở nơi mình. Và như thế người sẽ như Ðức Kitô, như Ezekiel, như mọi tiên tri.
Cuộc đời của những vị này luôn mang hình thức yếu đuối, bất lực, thất bại trước mắt thế gian, nhưng dưới cái nhìn của đức tin lại là nơi quyền năng cứu độ của Thiên Chúa đang hoạt động.
Như vậy chúng ta có phải bắt chước các ngài không, tức là tạo ra trong đời sống của mình một hình dạng yếu đuối nào đó? Không cần như vậy. Ðiều cần trước hết là chúng ta phát triển niềm tin vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, cho dù có bao nét bề ngoài của kế hoạch đó dường như muốn làm chúng ta nản lòng. Chúa đã đòi dân Dothái thời Ezekiel phải tin vào Lời Người và vào vị tiên tri khi họ không còn quê hương, đền thờ. Người đã đòi bà con thân thuộc của Ðức Yêsu lướt thắng những cản trở bên ngoài thuộc gia thế và địa vị xã hội của nhà tiên tri thành Nadarét để đón nhận ơn cứu độ. Hằng ngày Chúa vẫn đòi chúng ta phải có niềm tin như vậy qua mọi thử thách trần gian. Hơn nữa Chúa lại muốn chúng ta trở nên các tiên tri của Người để giúp anh em đồng bào nhận ra Tin Mừng cứu độ. Chúng ta có sẵn sàng đi vào đường lối của Ezekie, của Phaolô và của Ðức Kitô không?
Tất cả những điều này sẽ diễn ra trong thánh lễ. Ở đây niềm tin đòi mọi người phải lướt thắng nhiều nét bên ngoài để đạt tới các mầu nhiệm thâm sâu. Ở đây chúng ta phải đón nhận một Ðức Yêsu Kitô tử nạn và phục sinh. Và chính Người lại là Ðấng Cứu thế... Người kêu gọi chúng ta tin vào đường lối của Người, trở thành tông đồ của Người, sống như Người để làm lan rộng ơn cứu độ. Chúng ta có nhiệt tình đáp lại chờ mong của Người không, để Lời Chúa và Mình Thánh Chúa hôm nay đem lại hiệu quả thật sự trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

Gm.Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm









Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương