GIỚi thiệU: TÒa-thánh tây ninh tòa thánh tây ninh I- giới thiệu tổng quát



tải về 379.7 Kb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích379.7 Kb.
1   2   3   4   5

2- HỘ PHÁP ĐƯỜNG

Đây là Tòa nhà của Đức Hộ-Pháp (Hình bên ngoài nhìn vào), tức là nơi làm việc của Hộ Pháp - Giáo chủ Đạo Cao Đài về phương diện hữu hình Còn Giáo chủ về vô vi (Thiêng liêng) thì do quyền hành của Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Hộ Pháp Đường là tòa nhà lớn dành làm văn phòng làm việc của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và cũng là nơi nghỉ ngơi của Đức Ngài ngoài giờ làm việc.
Hộ Pháp Đường được xây dựng trong Nội Ô Tòa-Thánh, bên cạnh Báo Ân Từ và Văn phòng Hiệp-Thiên-Đài của chư vị Thời Quân, cùng nằm trên đại-lộ Phạm Hộ-Pháp.

■ Đôi liễn nơi cổng Hộ Pháp Đường khi xưa, khởi đầu bằng hai chữ HỘ PHÁP:

- HỘ chấp Thiên cơ quản suất Càn Khôn an thế giới,
- PHÁP quyền xử định hòa bình thiên hạ tổng hoàn cầu.

護 執 天 機 管 率 乾 坤 安 世 界
法 權 處 定 和 平 天 下 總 寰 球

Nghĩa là:

- Che chở và gìn giữ Thiên cơ, cai quản Càn Khôn Vũ Trụ, làm cho thế giới an ổn,


- Quyền hành chưởng quản pháp luật, phán đoán sắp đặt hòa bình cho nhơn loại khắp hoàn cầu.

■ Đôi liễn nơi cổng Hộ Pháp Đường hiện nay là đôi liễn

của Phạm Môn, nên khởi đầu bằng hai chữ PHẠM MÔN:

-PHẠM giáo tùy nguơn cứu thế độ nhơn hành chánh pháp


-MÔN quyền định hội trừ tà diệt mị hộ chơn truyền.

梵 教 隨 元 救 世 度 人 行 正 法
門 權 定 會 除 邪 滅 魅 護 眞 傳

Nghĩa là:

- Phật dạy tùy theo thời gian mà cứu độ người đời, thi hành chánh pháp,


- Quyền hành nơi cửa Đạo là định ra khoảng thời gian để diệt trừ tà mị yêu quái, bảo hộ chơn truyền

■ Trên lầu Hộ Pháp Đường, trước bàn thờ Đức Phạm Hộ Pháp, quí vị công quả Phạm Môn có làm đôi liễn ghi nhớ công ơn vĩ đại của Đức Phạm Hộ Pháp:

- Đại đức từ bi thủy sáng hoằng cơ chơn pháp tuyên dương truyền chánh giáo,

- Vĩ công cứu thế vĩnh hoài minh huấn chúng sanh sùng bái ngưỡng Tôn sư






Nghĩa là:

- Đức từ bi lớn, đầu tiên gây dựng nền tảng sâu rộng về giáo lý chơn thật, tuyên dương và truyền bá chánh giáo.


- Công lao to lớn cứu đời, ghi nhớ mãi những lời giáo huấn rõ ràng, chúng sanh kính phục tôn thờ, chiêm ngưỡng Đấng Tôn sư.

Với những lời khắc ghi thành liễn đối nơi Tòa nhà của Đức Hộ-Pháp đủ thấy rằng một sự nghiệp vĩ đại mà Ngài đã cống hiến cho Đạo nghiệp của Chí-Tôn thật là vô đối, từ tuổi thanh xuân 35 cho đến ngày nhắm mắt lìa đời là 70 tuổi nhẹ tách thang mây. Thay vì người đời thì trối trăn dặn dò, nhưng với những bậc đại căn trong nguơn hội Cao Đài dùng Huyền Cơ Diệu Bút thì sau khi qui Tiên Đức Ngài giáng đàn cho ngay bài Thài để làm bài hiến lễ:



Bài Thài hiến Lễ Ðức Hộ Pháp:

(Ngoài ra còn Cúng Tế vào Hàng Tiên vi)

Sinh ngày: 05-05-Canh Dần (1890)

Qui ngày: 10-04-Kỷ Hợi (1959)

Trót đã ba năm ở xứ người,
Ðem thân đổi lấy phút vui tươi.
Ngờ đâu vạn sự do Thiên định,
Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi.
Nhớ tiếc sức phàm thừa chống chỏi,
Buồn nhìn cội Ðạo luống chơi vơi.
Rồi đây ai đến cầm Chơn Pháp,
Tô điểm non sông Ðạo lẫn Ðời.

Đúng 35 năm Đức Ngài phụng sự đại nghiệp của Đức Chí-Tôn bằng cả tinh thần và thể xác, thế mà khi cỗi bỏ xác trần Ngài vẫn còn “Nhớ tiếc sức phàm thừa chống chỏi”. Một tinh thần vì Thầy, vì Đạo, vì nhân sanh đến như thế là cùng! Vì sao? Bởi vì sự luyến tiếc của Đức Ngài là có duyên cớ: “Buồn nhìn cội Ðạo luống chơi vơi”.

Chứ suy kỹ ra cuộc đời này có gì mà Ngài phải luyến tiếc. Hãy nghe lời phân trần của Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước bày tỏ trước kỳ Hội nghị ở Tokyo (Nhựt):

“Hồi tưởng lại việc đã qua trong các thời xưa, nhứt là thời cận đại và lấy kinh-nghiệm xét-đoán, chúng tôi nhận thấy hễ nơi nào sôi-nổi phong-trào náo loạn lôi cuốn con người vào chốn diệt vong thì cập theo đó sản-xuất một mối Đạo mới để cứu vớt sanh-linh khỏi cơn đồ thán.

Như trước kỷ-nguyên Thiên-Chuá giáng sanh, nhơn-loại cơ hồ bỏ qua lời truyền của Đức Phật Thích-Ca vạch rõ con đường Bát-chánh để làm phương giải khổ.

Quên hẳn lời dạy của Đức Khổng-Tử giữ Đạo Nhân-luân, tạo nhân kết nghĩa để làm cửa điều-hoà xã-hội và vì khinh-thường Huấn-ngôn của các Đấng ấy, nên cơ Đời thuở nọ lâm cơn hỗn-độn thì Cơ-Đốc-Giáo ra đời Cứu-Thế. Chưa mãn hai ngàn năm hoằng khai Công-giáo thì nhơn-loại lần lần không quan-tâm đến lời của Đấng Christ tiên-tri số-phận điêu-linh của loài người trong khoảng đời mạt kiếp này. Lời tiên-tri đã ứng-nghiệm thì ĐẠI-ĐẠO CAO-ĐÀI xuất hiện.

Giống như nhiều vị Giáo-Chủ đã qua vì sứ-mạng thiêng-liêng phải chịu hãm thân vào vòng thương-khổ, lấy khổ-hình đổi làm phúc-hậu cho chúng-sanh. Chức-sắc lãnh-đạo của chúng tôi không thoát khỏi nạn khảo nặng nề dường ấy, nên có người phải tử vì Đạo, có kẻ vào khám ra tù, chính Đức Hộ-Pháp Phạm-Công-Tắc cũng phải bị đồ lưu năm năm nơi Hồng-Đảo, chỉ vì TỘI THƯƠNG-YÊU chớ không phạm tội gì khác”.

3- GIÁO TÔNG ĐƯỜNG 教 宗 堂

E: The office of the Pope
F: L’office du Pape.

Giáo-Tông Đường là tòa dinh thự dùng làm nơi làm việc của Đức Quyền Giáo-Tông Lê văn Trung. Sở dĩ gọi là “Quyền Giáo Tông” vì Đức Ngài chưa phải là Giáo Tông chánh vị. Quyền hành Giáo-Tông chánh vị thuộc về vô vi do Đức Lý Thái Bạch Kim Tinh kiêm nhiệm. Đây là điểm đặc biệt của Đại-Đạo Tam-kỳ Phổ-Độ ngày nay, ấy là thể theo tinh thần Trời – Người đồng trị: Người trị xác, Trời trị hồn.

Bước vào tòa GIÁO TÔNG ĐƯỜNG này du khách sẽ thấy nơi cổng vào có đôi liễn đối. Giá trị liễn đối là lời tôn tặng một bậc đại công của nền Đại-Đạo đã dành trọn cuộc đời cho Đạo pháp. Đây là đôi liễn đối đặt ngay cổng vào Giáo Tông Đường, nhưng hạnh phúc nhứt là ngay



ngày Lễ Đại Tường của Đức Ngài, được đồng Đạo ngưỡng mộ công đức cao dày của Đức Ngài đã tám năm khó mỏi với việc Đạo mới hoằng khai. Thế mà Ngài đủ phương chước điều đình những kẻ phá rối cốt làm lọan Đạo; kẻ trong người ngoài không thiếu. Đấy cũng là phương thử gan kiên trì thiết thạch của bậc Anh Cả nhơn sanh mà Đức Chí Tôn đã lựa chọn, nhất định không lầm.

Đôi liễn này do ông Giáo Sư Thượng Hoài Thanh giáng cơ đặt ra, được Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung chấp nhận trong đàn cơ tại Giáo Tông Đường ngày 16-10-Ất Hợi (dl:11-11-1935)

Phò loan: Hộ Pháp - Tiếp Đạo.



- GÍÁO hóa nhơn sanh nhựt nhựt trung tâm qui thiện quả.

- TÔNG khai tăng chúng thời thời trọng Đạo hiệp chơn truyền

敎 化 人 生 日 日 中 心 歸 善 果

宗 開 僧 眾 時 時 重 道 合 眞 傳

Giải thích:

Câu 1: Việc Giáo hóa nhơn sanh cho mỗi ngày mỗi giữ được cái tâm trung dung để được trở về ngôi vị nơi cõi thiêng liêng. (Giáo hóa: dạy bảo để biến đổi con người từ xấu thành tốt. Nhựt nhựt: ngày ngày, ý nói mỗi ngày mỗi... Trung: ở giữa, không thiên lệch, là đạo Trung Dung của Đức Khổng Tử. Tâm: lòng dạ, cái tâm của con người. Qui: trở về. Thiện quả: trái lành, ý nói ngôi vị thiêng liêng của người đắc đạo đạt được).

Câu 2: Đạo mở ra cho dân chúng tu hành, luôn luôn tôn trọng đạo đức cùng với chơn truyền. (Tông: tôn giáo, đạo. Khai: mở ra. Tăng chúng: những người tu hành. Thời thời: luôn luôn. Trọng đạo: tôn trọng đạo đức. Hiệp: hợp với. Chơn truyền: giáo lý chơn thật được truyền lại).

Hãy nghe lời tường thuật về đám Đại Tường của

Đức Ngài vào ngày 13-10-Âm lịch (1937) do Tạp chí Ðại

Ðạo số 5 Janvier 1937 tường thuật:

“Tới Tòa Thánh đã thấy được một cái cửa vô đồ sộ, kế ở bên trong hai nhà kỷ niệm Nam Nữ rất ngộ nghĩnh. Từ cửa vô tới Ðại Ðồng Xã, tới Giáo Tông Ðường, Hộ Pháp Ðường, Báo Ân Từ.. thì cờ Ðạo phất phới xem rất vui mắt. Công cuộc sắp đặt tại Ðại Ðồng Xã có trật tự và oai nghiêm lắm. Ngang qua cái hầm Bát Quái trước Tòa Thánh có bắc một cái cầu rộng lớn mà Ðạo Hữu đều gọi là Ngân Hà Kiều. Qua cầu rồi tới một cái cửa Tam Quan bề cao trên bảy thước, bề dài 12 thước, trên hết có vẽ thật lớn mấy chữ "Ðại Ðồng Xã” và “Place de la Fraternité universelle". Trên đầu cửa giữa có đề năm “1925 – 1936” hai bên là hai câu liễn Giáo Tông như trên

Hai cửa vô hai bên là cửa "Nữ Phái" và "Nam Phái" trên có vẽ nhành Nho có lá, trái, thể Tinh- Khí-Thần hiệp nhứt. Hai bên cửa giữa có treo những hình của Ðức Quyền Giáo Tông một bên về phần đời, một bên về phần Ðạo của Ngài. Hai bên cửa Nam Nữ thì treo hình lễ an táng của Ngài. Cả lịch sử vẻ vang của Ngài đều bày giải rõ tại đó cho mỗi người đều được biết. Vào khỏi cửa Ðại Ðồng Xã rồi thì thấy chính giữa sân một cây cờ Ðạo rất lớn, cờ màu trắng có ba vòng xanh, vàng, đỏ kết tréo ngang thể Tam Giáo qui nhứt. Ở mút đầu sân Ðại Ðồng là đài Cửu Trùng Thiên bề cao 9 thước, bề dài 20 thước, chính giữa có một chữ VẠN màu vàng thật lớn, trên hết là bức chơn dung của Ðức Quyền Giáo Tông vuông vức mỗi bề tám thước. Hai bên Cửu Trùng Thiên từ hai góc bức chơn dung, hơn 16 thước bề cao, có giăng qua hai bên rừng Thiên Nhiên hai hàng cờ Pháp Quốc và Vạn Quốc.



Đức Hộ-Pháp nói: “Thưa cùng chư Chức-sắc Thiên Phong Cửu Trùng Đài Nam Nữ ! Cái ngôi của Ngài tạo dựng, cái ngôi Giáo Tông-Đường của Ngài đã ngồi trên ấy, đầu tiên hết, cái ngôi ấy nó sẽ để nơi đất Việt-Nam này một cái báu vật quí giá vô cùng, từ thử tới giờ chưa hề có. Bần-Đạo ngó qua Vatican, cái Ngai của Đức Giáo-Hoàng Saint Pière thế nào, thì Bần-Đạo có lẽ nói rằng và cũng có thể mơ-ước: cái ngôi của Thượng-Trung Nhựt lưu lại nơi thế này nó sẽ trở nên thế ấy.”




Hiện tại nền tảng phong-hoá đã bị lung-lay

Đức Chí-Tôn cho người con trưởng của Người đến là Đức Quyền Giáo-Tông.

Đức Hộ-Pháp nói:

Giữa thế kỷ hai mươi nầy, toàn địa cầu nhơn sanh đều xu hướng về đường vật chất, đua tranh náo nhiệt, mạnh đặng yếu thua, khôn thì còn, dại thì thác, làm cho cả cá nhơn hay là trọn xã hội nào cũng vì sanh hoạt khó khăn mà quên hẳn tinh thần vi chủ.



Hại thay! Cơ quan của đời hiện hữu lại do nơi quyền năng vật dục mà thành hình, đến đỗi trừ tinh thần ra thì trí thức con người cũng lậm nhiễm lấy quyền duy vật, đạo đức tinh thần xem ra càng ngày càng mòn-mỏi. Nếu chúng ta thấy cơ quan hành động của các Tôn-giáo còn mảy-may duy trì lại có đặng là nhờ khuôn viên tập tục chớ chẳng phải nơi tâm lý chuẩn-thằng.

Qua trận sát khí Âu-Châu, những bậc ưu thế mẫn thời để tâm nghiên cứu nguyên thủy sự bất hòa của toàn cầu do đâu mà sản xuất thì đã thấy đặng hiển nhiên rằng: Tại dân quá khiếm phần đạo-đức, những Tôn-giáo đương thời hoặc là bị buộc ràng vào tôn-chỉ hẹp hòi, hay là bị triết-lý oai-nghiêm mà làm cho phân chia tâm lý, nên không thể dung hòa làm môi giới cho Đại-đồng thiên hạ. Thuyết giao tình các Tôn-giáo là thuyết trọng-yếu của nhà hiền triết Á-Âu buổi nầy.

Ôi ! Hạng trí thức nhơn sanh ấy, khi xem đặng con đường nguy hiểm của văn minh duy vật dong ruổi thẳng tới chừng nào thì lại càng âu lo khủng khiếp cho tương lai nhơn loại buổi sau kia chừng nấy.

Ðời chẳng khác nào như chiếc thuyền chịu sóng gió ba đào lênh-đênh khổ hải. Những khách giang hồ của tạo công ai lại chẳng phập-phồng rơi châu đổ ngọc. Trong cơn khổ não tâm hồn ngẫu nhiên lại gặp cứu tinh giải nạn là Ðại Ðạo Tam-Kỳ Phổ Ðộ của Thượng-Ðế chấn hưng Tôn-giáo. Người đến đặng nhìn nhận các Ðạo là phương giáo-hóa của Người và dung hợp các triết-lý của đời dưới phép lương tâm làm chủ. Dầu ai để chút tâm nghiên cứu thì đủ hiểu cơ quan chuyển-thế rõ ràng nên không cần luận giải.

Từ năm Bính-Dần (1926) là năm Ðạo mở tại Nam Kỳ, đến nay Anh Cả chúng tôi là Lê-Văn-Trung Ðạo-tịch Thượng-Trung-Nhựt ra đảm nhiệm vai tuồng rất lớn lao, quan hệ là phổ-độ dìu dắt nhơn sanh vào đường Chánh giáo. Một mối Ðạo rất cao thâm mầu-nhiệm mà chính mình Ðức Thượng-Ðế đem gieo truyền trong nước nhỏ nhen như Việt-Nam ta đây, thiết tưởng sự khó khăn chẳng nhỏ, mà Anh Cả chúng tôi trọn chịu 9 năm trường, chẳng quản nhọc-nhằn, ra tay chống vững Ðạo thuyền, bền chí lướt qua khổ hải.

Ðạo mở vào buổi nhơn sanh đang khuynh hướng về đường vật-chất thì cái Tôn-chỉ Ðạo tất phải có thiệt lực gì cực kỳ mãnh liệt mới dung hòa nỗi hai thuyết duy tâm và duy vật, mà phải hạp thời thì nhơn sanh mới chịu hoan nghinh mà bước vào cửa Ðạo. Nếu Ðạo mà không có cái Tôn-chỉ duy-tân cải cách theo trình-độ tiến hóa của nhơn sanh thì Ðức Thượng-Ðế chẳng cần nhọc công tái lập, vì Ðạo vẫn có từ tạo Thiên lập Ðịa mà trong nhân-gian cũng đã lập thành nhiều nền Tôn-giáo để tùy thời mà tế độ quần linh. Trong các Tôn-giáo ấy như Phật-giáo, Lão-giáo, Nho-giáo, Cơ-Ðốc-giáo, cũng có nhiều triết-lý cao siêu, có thể cứ do theo đó mà hành Ðạo cũng đặng tiến-hóa, nhưng mỗi Tôn-giáo ấy đều có một Tôn-chỉ đặc biệt, có thể hạp với mỗi phong hóa tùy mỗi thời đại, chớ không đặng một Tôn-chỉ thống nhứt hạp theo thời đại buổi bây giờ. Ðạo đã có những điều kiện tối tân như thế thì tất phải có người tài đức ra làm hướng đạo mới hiểu rõ Tôn-chỉ của Ðạo mà truyền bá cho nhơn sanh khỏi lầm đường lạc lối và cũng phải có đại hùng đại lực mới gánh vác nỗi trách-nhiệm lớn lao của Ðại-Ðạo.

Anh Cả chúng tôi đây, trước khi vào Ðạo vẫn là người duy vật cũng như mọi người khác, ngoài đời vì đường danh lợi, Người cũng chẳng nhượng chi ai, kịp khi Ðạo mở Ðức Thượng-Ðế kêu đích danh Người mà phú thác Ðạo Trời.

Phong-trào duy vật đang sôi nổi, người lại đương thời phấn đấu, mà Người cũng vui lòng phế hết việc đời để hiến thân cho Ðạo. Buổi ban sơ mới có vài ba anh em trong Ðạo, cũng có kẻ trắng người đen, không đồng tâm chí, lẫn nghịch cùng nhau, rồi nào ai dám chắc sẽ ra làm sao đâu? Nhưng vì lòng háo đức của Người sẵn có, nên Người không chút ngại-ngùng bạo gan chí-sĩ mà hiến mình trọn vẹn lập Ðạo mới thành: công ấy, thưởng nầy làm Anh Cả chúng sanh cũng đáng.

Vào Ðạo rồi, khi thì lập Ðàn thỉnh giáo cùng các Ðấng Thiêng-Liêng, khi đi phổ-độ khắp Nam Kỳ, không nói ra ai ai cũng rõ, những nỗi khó khăn về sự hội hiệp ở xứ mình cho nên lúc khai Ðạo phải gặp nhiều nỗi tân khổ, lại còn nhiều nỗi cam go đối với Ðạo-hữu các nơi. Khi Ðạo đã có mòi hoằng-hóa, sau lại Hội-Thánh Ngoại Giáo thành lập ở Kiêm-Biên, tuy gặp lắm nỗi truân chuyên mà Người cũng cứ nhứt tâm nhứt đức do đường thẳng tiến hành, không bao giờ nản lòng thối chí.

Vì sao Ðức Thượng-Ðế không chọn người nào khác, lại đem mối Ðạo lớn lao mà trao lại cho Người lúc ban sơ ? Mà những người có công tu luyện theo Ðạo này, Ðạo khác cũng chẳng hiếm gì, mà sao Ðấng Chí Tôn không dùng ai trước ?

Có ai dám nói Ðấng Chí-Tôn dùng lầm!

Vậy thì, Tôn-chỉ của Ðại-Ðạo đã biểu lộ ra rõ ràng bí quyết đoạt Ðạo chẳng phải do một mặt yểm thế để tịnh dưỡng tinh thần, mà lại phải lịch-lãm nhơn sự và phải siêu quần xuất chúng, rồi lấy đạo đức mà cứu vớt nhơn quần.

Xã hội phải tùy sở nhu của chúng sanh mà lập phương phổ hóa thì cái công tu luyện kia mới bổ ích cho. Vì vậy mà Anh Cả chúng tôi mới đắc dụng trong Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ.

Anh Cả chúng tôi là người gồm có nhiều điều kiện hạp với tân thời, mà cũng không nghịch với phong hóa cũ.

Vậy nên Ðấng Chí-Tôn mới dùng người để làm mô phạm cho anh em Ðạo-hữu và cho đời thấy rõ một phần chơn lý trong Tôn-chỉ Ðại-Ðạo.

Theo thời đại khoa học đương nỗ lực phát dương này, nếu đem cái thuyết duy tâm cực đoan mà phổ hóa chúng sanh không khỏi bỉ lậu, còn nếu chuyên một mặt duy vật mà tiến hành thì xã hội phải có ngày tiêu diệt về nạn cạnh tranh phấn đấu. Vậy phải chiết trung hai thuyết mà dung hòa thì đời mới đặng vừa tấn hóa theo văn minh khoa học, vừa duy trì đặng tâm hồn đạo đức. Nhờ hiểu ý nghĩa cao thâm như vậy mà Anh Cả chúng tôi không vì hoàn cảnh mà phải quá ư thiên lệch về một mặt nào.

Chúng tôi còn nhớ lời tuyên bố rất thành thật của Anh Cả chúng tôi như vầy: "Ngày nào nhơn sanh còn khốn khổ, thì chưa phải ngày Anh tọa hưởng an nhàn. Dầu Anh đắc quả mà qui Tiên đặng sớm, Anh cũng nguyện tái kiếp để độ tận chúng sanh”.

Hùng hồn thay! Bác ái thay là lời tuyên bố ấy!

Không cần khoe khoan bằng văn chương tuyệt bút mà những lời chất phác trên kia cũng tả đặng tâm tình của một trang Đại đức. Theo thế thường người nào đi tu cũng có cái hy vọng đắc Ðạo thành Tiên, chớ ít ai lẫn-lộn trong chốn trần-la vì sợ khổ tâm nhọc trí. Vậy mà Anh Cả chúng tôi chẳng hề nao núng, thậm chí có người lo sợ dùm, nên đến khuyên Người giải quyền nhập tịnh cho yên, mà Người nói rằng: “Dầu phải thời tử Ðạo, Người cũng vui lòng, chớ Người không vì sợ chết mà bỏ phận sự”. Xem đó thì đủ thấy cái đại chí của Người, vì Người thấu mục đích tối cao của Ðạo. Mà Tôn chỉ của Ðạo có cái ý nghĩa “không dữ mà hùng, hòa mà không nhược”. Cái ý nghĩa đó Anh Cả chúng tôi hiểu thấu mà cũng đã thật hành rồi, nền Ðạo mới đứng vững đến ngày nay. Anh Cả chúng tôi lại còn hiểu rộng cái nghĩa “Từ bi, Bác-ái” mênh mông lai láng, nên phải gặp nhiều cái phản động lực của những người thiển kiến.

Bởi vì Từ-bi Bác-ái mà hiểu nghĩa hẹp hòi quanh quẩn trong hoàn cảnh của mình thì cũng còn là “ích kỷ”. Anh Cả chúng tôi không vì sự thương thấp thỏi của thường tình mà bỏ cái thương Đại-Đồng Thế-giái, cho nên phải gặp nhiều nỗi tân toan. Tuy vậy mà Anh Cả chúng tôi vì công đức hơn là vì tư đức, dầu ai muốn nói sao thì nói, làm sao thì làm, Người cứ một mực tiến hành, miễn là trong tâm nhứt quyết đuổi theo một chủ-nghĩa cao siêu của Bề trên phú thác vì lòng tín-ngưỡng của Người rất là đặc biệt, ít ai sánh kịp.

Ngày nay Anh Cả chúng tôi đã vào cõi Hư-vô rồi, thiết tưởng những phản động lực kia cũng lần lần giảm bớt. Anh em trong Ðạo cũng đã rõ thấy mà nhận thức cái chơn lý sờ sờ kia vậy. Cái khó nhất là phải có đủ đức kiên nhẫn để chống lại với các phản-động-lực ở trong Ðạo và ngoài Ðời. Trong Ðạo cũng vậy mà ngoài Ðời cũng vậy, có nhiều lý thuyết tương phản nhau vì trí độ phàm của con người không thể đồng nhau đặng. Kẻ thì ưa thuyết duy tâm, rồi cứ chuyên chú một mặt tiêu cực, còn người lại thích duy vật thì chuyên chú một mặt tích cực, mà mỗi phía đều cực đoan thì tránh sao khỏi xung đột. Hai phía xung đột nhau mà bắt Ðạo ở trung gian làm nơi chiến địa thì kẻ cầm quyền trong Ðạo tránh sao khỏi những nỗi khó khăn, vì vậy mà Anh Cả của chúng tôi chịu nhiều đau đớn. Ôi! Một Ðấng anh hùng như thế, một tay kiện tướng của Ðạo như thế, nay đã ra người thiên cổ. Dẫu phải gan sắt dạ đồng cũng phải rơi châu mà thương tiếc”.

IV- THAM KHẢO TÀI LIỆU:

GIẢI THÍCH NỘI TÂM VÀ NGOẠI TÂM
ĐỀN THÁNH CAO ĐÀI - TÂY NINH


(Soạn giả: Khai Đạo Phạm Tấn Đãi)


1- GIẢI THÍCH ĐỨC DI LẠC CỞI CỌP



 

- Đức DI-LẠC là một vị Phật cầm quyền làm chủ Hội Long Hoa lần thứ ba, Ngài ngồi trên nóc Hiệp Thiên Đài vâng lịnh dạy của Đức Chí Tôn và quan sát chấm công điểm Đạo được đem vào Bạch-Ngọc-Kinh mà dự hội.



- Tượng trưng hình Ngài cỡi cọp là kỷ niệm nền Đại

Đạo khai năm Bính Dần (1926) gọi là “Nhơn sanh ư Dần”

- Bàn Cổ sơ khai Nhơn sanh ư Dần cho nên ngày Ðấng Chí-Tôn mở Ðạo là giờ Tý (01) ngày 01 tháng Giêng (01) năm Bính-Dần. Ngày ấy Thầy sắp đặt mười hai người lo khai Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, mỗi người lãnh phận sự lo đi truyền bá.”

Đôi liễn này xác nhận kinh Di-Lạc là Bản Vi bằng bàn giao giữa Phật Thích Ca và Đức Di-Lạc:



- DI-LẠC thất bá thiên niên khởi khai Đại-Đạo

-THÍCH CA nhị thập ngũ thế chung lập Thiền môn.

Thầy giáng ban cho đôi câu đối trên trong ngày Lễ khai Đạo: rằm tháng 10 năm Bính-Dần (dl: 19-11-1926) tại Từ-Lâm-Tự (Chùa Gò Kén –Tây Ninh) chính là để xác nhận rằng: nguơn hội này của Đức Di-Lạc đến để khai mối Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Còn Đức Thích Ca thì qua 2.500 năm (25 thế kỷ) kết thúc mối đạo Thiền.



2- GIẢI THÍCH MẶT TIỀN ĐỀN THÁNH

  - Đứng về măt tiền mà ngó vào thì Đền Thánh chỉ phô ra phần thứ nhất là Hiệp Thiên Đài tức là nơi để thông công với Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng Thượng Đẳng. Hiệp Thiên Đài gồm có:

* Bên Hữu: Bạch Ngọc Chung Đài

* Bên Tả: Lôi Âm cổ Đài và chính giữa chánh Điện có ba từng:

- Từng dưới đất (Rez de chaussée)

- Từng lầu thứ nhất và lầu thứ nhì



Bạch Ngọc Chung Đài: Ở về bên hữu tức là cái

Đài có chuông bằng ngọc trắng nhưng hai chữ Bạch Ngọc là do chữ Bạch-Ngọc-Kinh mà ra. Ý nói chuông ấy là do nơi Thiên Đình mỗi khi đánh chuông thì tiếng ngân của nó





thấu đến Phong Đô, mười cửa ngục đều mở để cho các âm hồn giác ngộ sám hối tiền khiên mà siêu rỗi.



Lôi Âm Cổ Đài: tức là Đài trống sấm nhưng hai chữ Lôi Âm cũng từ trong ba chữ Lôi-Âm-Tự, là ngôi đền của Đức Phật Thích Ca ngự tại Tây Phương. Mỗi khi có cúng Đại lễ Lôi-Âm-Cổ nổi lên ba hồi, mỗi hồi 12 chập mỗi chập 12 dùi thì Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật phải đến chầu Ngọc Đế.
3- GIẢI THÍCH TAM THÁNH KÝ HOÀ ƯỚC TRƯỚC ĐỀN THÁNH


Tại sao trước Đền thờ ĐỨC CHÍ-TÔN lại có tượng ba bậc vĩ-nhân của ba nước Việt- Pháp- Hoa là NGUYỄN BĨNH-KHIÊM, VICTOR-HUGO và TÔN-VĂN mà chúng ta tôn là Tam Thánh ?



- TIỂU SỬ

ĐỨC NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491-1585)

- Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm hiệu là Bạch Vân Cư Sĩ là người làng Trung Am, Huyện Vĩnh Lại, Tỉnh Hải Dương, sanh năm Tân Hợi, đời Hồng Đức vua Lê Thánh Tôn. Ông đậu Trạng Nguyên năm Ất Mùi, đời Mạc Đăng Doanh (1935). Ông làm quan được 8 năm, đến chức Lại Bộ Tả Thị Lang. Tính tình cương trực, ông dâng sớ hạch 18 vị quan lộng quyền. Sau ông về trí sĩ dựng lên trong làng một cái am gọi là Bạch-Vân-Am để dạy học trò cùng hưởng thanh nhàn, ngâm thi vịnh nguyệt. Trong hàng môn đệ ông có Phùng Khắc Khoa, Lương Hữu Khánh và Nguyễn Dữ là những bậc trí tài xuất chúng. Vua Nhà Mạc cảm phục tài đức ông, nên mỗi khi trong Triều có điều chi quan trọng, vua liền sai người đến hỏi ý kiến ông, vì ông giỏi về Dịch học và thuật số, đoán đâu trúng đó. Ông lại làm nhiều thơ Quốc Âm có ý khuyên đời nên ăn ở theo đạo nghĩa. Ông có để lại một tập thơ gọi Bạch-Vân Thi-Tập và một tập Sấm gọi là Sấm Trạng Trình. Ông được nhà Mạc phong cho chức Lại Bộ Thượng Thơ, tước Trình Quốc Công, nên thời nhân gọi ông là Trạng Trình. Ông mất ngày 18 tháng giêng năm Ất Dậu (1585) thọ 95 tuổi.



- TIỂU SỬ ĐỨC VICTOR-HUGO

-Đức Victor-Hugo giáng sinh tại thành phố Besancon nước Pháp năm 1802. Ông là đệ nhất thi hào nước Pháp vào thế kỷ 19. Lúc thiếu thời ông theo cha qua nước Tây Ban Nha (Espagne), rồi sang Ý Đại Lợi (Italia), rồi sau cùng trở về nước Pháp, an trú tại Ba Lê (Paris) và theo học tại trường Bách Khoa. Tánh vốn thông minh thiên phú, ông học một biết mười và sẵn có một hồn thơ phong phú. Năm 15 tuổi ông đã làm thơ gửi dự thi tại Hàn Lâm Viện Pháp-Quốc và được chấm đậu. Về sau ông sáng tác rất nhiều thi phẩm tuyệt luân, thể hiện những tư tưởng thanh cao, những tư tưởng dồi dào, những ngụ ý kín đáo.

Ông định hướng Văn Nghệ Giới theo chủ nghĩa lãng mạn.

- Là chủ nghĩa cảm tình, vô câu thúc, cứ tự do mô tả tính tình và cảm giác của con người chứ không chịu gò

bó trong qui thức nào cả.

- Năm 1841 ông có chân trong Hàn Lâm Viện Pháp Quốc. Sau cuộc cách mạng 1848 ông tham gia Hội Nghị Lập Pháp. Nơi đây ông trổ tài hùng biện để binh vực chủ nghĩa tự do.

- Nước Pháp của thế kỷ 19 có đủ Quốc Hồn và Quốc tuý cao cả, phần lớn nhờ hướng theo tư tưởng chánh trị và văn hoá của ông bộc lộ trong những tác phẩm phong phú về lượng cũng như về phẩm.

- Ông mất năm 1885. Lễ quốc táng, được chính phủ Pháp cử hành long trọng và thi hài ông được an trí vào miếu Công Thần (Panthéon).





1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương