CẦu nguyện tiếng lạ giáo dân trừ quỉ những mạc khải tư -35 Cỏ Lùng Trong Ruộng



tải về 111.18 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu29.04.2018
Kích111.18 Kb.
CẦU NGUYỆN TIẾNG LẠ - GIÁO DÂN TRỪ QUỈ - NHỮNG MẠC KHẢI TƯ -35


Cỏ Lùng Trong Ruộng

 

Ðaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL


 

Theo chính Lời Chúa Giêsu, Đấng thường lấy các dụ ngôn khác nhau là “những sự dưới đất” để mạc khải “những sự trên trời” (Jn.3:12), đã giải thích về ý nghĩa dụ ngôn “cỏ lùng trong ruộng” (Mt.13:24-30) như sau:

 

Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian; hạt giống tốt là công dân Nước Trời; cỏ lòng vực là thành phần thuộc về tên gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma qủi; mùa gặt là tận thế và nhân công là các thiên thần” (Mt.13:38).



 

Thực tế hiện nay cho thấy, lịch sử loài người chưa bao giờ có hiện tượng “cỏ lùng trong ruộng” um tùm rậm rạp như bây giờ, từ ngay trước ngưỡng cửa của “ngàn năm thứ ba đang đến”, đến nỗi, đám cỏ lùng ấy thật sự đã và đang làm chết nghẹt biết bao nhiêu là “hạt giống tốt”:

 

Họ sẽ tống giam các con, sẽ hành hạ và sát hại các con... và vì có lắm thứ gian ác mà lòng mến nơi nhiều người sẽ trở nên nguội lạnh” (Mt.24:9,12).



 

Phải chăng hiện tượng tràn lan khủng khiếp “cỏ lùng trong ruộng” này là dấu hiệu của thời tận thế, như Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ của Người biết:

 

Có lắm kẻ sẽ đến mạo danh Thày xưng rằng: ‘Ta là Đức Kitô!’ và sẽ lừa đảo (deceive) nhiều người” (Mt.24:5),



  “Các tiên tri giả sẽ nổi lên rất đông (great numbers) để lừa được (mislead) nhiều người” (Mt.24:11)?

 

Dù không dám dứt khoát khẳng định hiện tượng “cỏ lùng trong ruộng” đã làm mọc lên loại “văn hóa tử vong” ngày nay thực sự là dấu báo hiệu loài người đã tới thời tận thế, nhưng cũng không ai phủ nhận được những quái đản chưa từng có trong lịch sử loài người và lịch sử Giáo Hội do hiện tượng này gây ra, về cả phẩm lẫn lượng của nó: về lượng thì “rất nhiều” (Mt.24:11) và về phẩm thì “lừa được nhiều người” (Mt.24:11, nhất là chữ “mislead” ở câu 24), đúng như Lời Chúa Giêsu báo trước trong Phúc Âm trên đây.  


“Cỏ Lùng Trong Ruộng”: “Nổi Lên Rất Đông”


 

 Theo nhận định của văn kiện mang tựa đề “Các Giáo Phái hay Các Trào Lưu Tân Giáo” (Sects or New Religious Movements) do Văn Phòng Phát Động Hiệp Nhất Kitô Giáo của Tòa Thánh Rôma phổ biến ngày 3 tháng 5 năm 1986, một văn kiện được Văn Phòng Dịch Vụ Phát Hành và Phát Động của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ phổ biến (Publication No. 100), thì:

 

Hầu hết mọi giáo hội địa phương đều thấy nổi lênphát triển nhanh chóng đủ mọi loại trào lưu, nhóm hội và hoạt động về tôn giáo hay ngụy giáo mới. Hiện tượng mà hầu hết các hồi đáp viên (được tham khảo) cho đó là một vấn đề nghiêm trọng, còn một số khác lại cho là một vấn đề báo động; chỉ ở một số rất ít xứ sở dường như không có mà thôi” (chẳng hạn như ở các xứ sở toàn tòng Hồi Giáo) (1.2).  



(những chỗ dịch được in đậm trong bài là do ý người viết để nhấn mạnh những ý điểm cần)

 

Trong Tông Huấn “Giáo Hội Tại Mỹ Châu” (Ecclesia in America) là văn kiện đúc kết cuộc Thượng Hội Giám Mục Mỹ Châu được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công bố ngày 22-1-1999 tại Mexico City, Trung Mỹ, chẳng những đề cập đến việc lan tràn của hiện tượng “cỏ lùng trong ruộng” mà còn cho thấy tính cách lấn át của “cỏ lùng” đối với “lúa” nữa:



 

Hoạt động mộ giáo (proselytizing) của các giáo phái và các nhóm tân giáo ở nhiều phần đất Mỹ Châu là một trở ngại trầm trọng cho công cuộc truyền bá phúc âm. Chữ ‘mộ giáo’ (proselytism) có ý nghĩa tiêu cực khi nó nói lên đường lối chiếm đoạt tín đồ ngược lại với tự do của những ai nghe họ giảng đạo...” (5) 

(Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, 27-1-1999)

 

Trong bản Instrumentum Laboris là văn kiện đúc kết để làm tài liệu chính thức cho cuộc Thượng Hội Giám Mục Úc Châu trong việc bàn định và giải quyết các vấn đề tại địa lục của mình, cũng công nhận tính cách tràn lan và lấn át này của hiện tượng “cỏ lùng trong ruộng” rất khó phân biệt và đối phó này:



 

Việc phát triển các trào lưu tân giáo ngoài Giáo Hội, cả ở các đảo cũng như ở Papua New Guinea, là một hiện tượng trở thành một trong những thách đố cả thể đối với các Giáo Hội địa phương ở Úc Châu ngày nay. Các bản trả lời cho thấy mối quan tâm của các vị Giám Mục về việc các trào lưu tân giáo ngoài Giáo Hội này đang phân rẽ các cộng đồng và đang dẫn người ta xa lìa Giáo Hội... Vẫn còn phải tốn nhiều công phu mới biết được các tôn giáo này cũng như mới tìm ra được chữ nghĩa xứng hợp để mô tả chúng một cách xác đáng. Người Công Giáo thường không phân biệt chắc chắn giữa nhóm này với nhóm khác...” (30)

 (Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, 2-9-1998)


“Cỏ Lùng Trong Ruộng”: “Lừa Được Nhiều Người”


  

 Chính việc lan tràn nhanh chóng của “cỏ lùng trong ruộng” hiện nay cũng đủ chứng tỏ phẩm chất rất thời trang của hiện tượng này, một phẩm chất có khả năng thu hút đến “lừa được nhiều người”, một phẩm chất được bản Instrumentum Laboris của Thượng Hội Giám Mục Úc Châu  diễn tả như sau:



 

Thường thấy họ (các trào lưu tân giáo ngoài Giáo Hội) tỏ ra có cảm tình nồng nàn, thông cảm, nhiệt tình và săn đón trong một nhóm nhỏ gắn bó chặt chẽ với nhau, một cảm nghiệm mà có những người Công Giáo thấy như bị thiếu hụt nơi cộng đoàn của mình. Âm nhạc, ca hát, nhảy múa, giảng dạy hùng hồn và nói tiếng lạ đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút người ta tham gia vào các đạo này, nhất là đám trẻ. Các tôn giáo ấy thường lấp đầy cái trống rỗng của cảm xúc mà người ta đang tìm kiếm cho ý nghĩa cuộc đời… Các người Công Giáo, vì bị trục trặc với vị linh mục hay với nhân viên mục vụ, hoặc bởi tình trạng hôn nhân bất bình thường của mình, đôi khi cũng bị lôi cuốn theo họ. Những đạo này dùng Thánh Kinh để làm cho người thành tín vô tư lo sợ đến phần rỗi của mình. Họ chú ý tới việc thăm viếng từng gia đình, thường lợi dụng vào những lúc con người đang gặp phải phiền sầu, bệnh tật hay khủng hoảng bản thân. Họ tỏ ra tích cực trong việc đối xử với người ta và làm cho người ta cảm thấy tự nhiên sinh hoạt trong cộng đoàn của mình…” (đoạn 30).

 

Đúng thế, văn kiện “Các Giáo Phái hay Các Trào Lưu Tân Giáo” (Sects or New Religious Movements) do Văn Phòng Phát Động Hiệp Nhất Kitô Giáo của Tòa Thánh Rôma phổ biến ngày 3 tháng 5-1986 cũng đã khảo sát rất kỹ lưỡng hiện tượng “cỏ lùng trong ruộng” rất thời trang này như sau:

 “Những lý do đưa đến thành công nơi các người Công Giáo thực sự có nhiều và có thể nhận thấy ở một số lãnh vực. Những lý do này nói chung có liên quan đến những nhu cầu và những khát vọng dường như không tìm thấy nơi các giáo hội chính. Những lý do này cũng dính dáng đến những kỹ thuật chiêu mộ và huấn luyện của các giáo phái…

 “Hiện tượng này như là một triệu chứng gây ra bởi các cấu tạo tha hóa nơi xã hội đương thời, phần nhiều phát xuất từ Tây Phương rồi được quảng biến khắp thế giới, các cơ cấu tha hóa tạo nên biết bao nhiêu là tình trạng khủng hoảng trên bình diện cá nhân cũng như xã hội. Những tình trạng khủng hoảng này cho thấy các nhu cầu, các khát vọng và các vấn nạn khác nhau cần phải có đáp ứng về tâm lý cũng như tinh thần. Các giáo phái nhận mình nắm trong tay và ban phát những đáp ứng ấy. Họ thực hiện việc này trên cả lãnh vực cảm tình lẫn tri thức, song thường đáp ứng các nhu cầu tình cảm bằng đường lối làm mù quáng các tài năng tri thức.

 “Các nhu cầu và khát vọng căn bản này có thể được thấy nơi rất nhiều những bộc lộ của việc con người tìm kiếm tầm vóc viên trọn và hòa hợp, việc dự phần và hiện thực, ở tất cả mọi lãnh vực hiện hữu cũng như cảm nghiệm của con người; chúng cũng có thể được thấy nơi rất nhiều nỗ lực đáp ứng việc con người tìm kiếm chân lý và ý nghĩa cuộc đời, tìm kiếm các giá trị nội tại là những gì, trong một số trường hợp, dường như bị che đậy, đổ vỡ hay mất đi theo giòng lịch sử đại đồng cũng như cá nhân, nhất là trong trường hợp của thành phần bị đảo lộn vì đổi thay nhanh chóng, vì bị dồn nén căng thẳng, vì sợ hãi v.v. (1.5)

Những nhu cầu và khát vọng này có thể được đúc kết thành chín đầu đề chính… (2)

 “Tìm cầu nơi nương tựa (theo nghĩa đoàn thể): Cơ cấu của nhiều cộng đồng đã bị hủy hoại; các lối sống cổ truyền bị xáo trộn; gia đình tan nát; người ta cảm thấy mất gốc và lẻ loi. Bởi vậy mới có nhu cầu nương tựa… Các giáo phái tỏ ra: cử chỉ nồng hậu, săn sóc và nâng đỡ theo tình người trong các cộng đoàn gắn bó nho nhỏ… (2.1.1).


 

Tìm cầu các giải đáp: Trong những trường hợp phức tạp và bối rối, theo tự nhiên người ta đi tìm kiếm những giải đáp và giải quyết. Các giáo phái tỏ ra: có những giải đáp giản dị và tiện lợi (ready-made) cho các vấn đề và trường hợp phức tạp;… có một thứ thần học thực tiễn (pragmatic theology), một thứ thần học lợi lộc… (2.1.2)

 

Tìm cầu viên trọn bản thân: Nhiều người cảm thấy tách lìa với bản thân mình, với người khác, với văn hóa và môi sinh của họ. Họ cảm thấy đổ vỡ. Họ bị tổn thương bởi cha mẹ hay thầy cô, bởi Giáo Hội hay xã hội… Họ cần được chữa lành, kể cả về phần xác… Các giáo phái tỏ ra: … có thể chữa lành thể lý và tâm linh; có thể giải quyết vấn đề nghiện hút và nghiện ngập… (2.1.3)


Tìm cầu văn hóa chất:… Nơi nhiều xứ sở thuộc Thế Giới Đệ Tam, xã hội thấy mình bị tách lìa rất nhiều với văn hóa cổ truyền, với các giá trị xã hội và tôn giáo… . Các giáo phái tỏ ra: nhiều chỗ cho tôn giáo hay văn hóa cổ truyền, … có lối nguyện cầu và giảng dạy gần gũi hơn với các tính chất văn hóa cũng như với các khát vọng của người ta. (2.1.4)

 

Nhu cầu cần được biết đến, được nổi nang: Người ta cảm thấy cần vượt ra khỏi tình trạng vô danh tiểu tốt, cần làm nên cho mình một cá biệt, cần cảm thấy nổi nang cách náo đó chứ không phải chỉ là một con số hay chỉ là một phần tử mất hút trong đám đông… . Các giáo phái tỏ ra: quan tâm đến cá nhân; có các cơ hội để thi hành thừa tác vụ và vai trò lãnh đạo, cơ hội để tham gia, chứng tỏ, phát biểu… (2.1.5)



 

Tìm cầu siêu việt tính: Việc tìm cầu này nói lên một nhu cầu tâm linh sâu xa, một động lực thần hứng trong việc tìm kiếm một cái gì đó vượt ra ngoài cái cụ thể, trực tiếp, quen thuộc, khả chế và vật chất, để tìm giải đáp cho những vấn nạn tối hậu của đời sống, cũng như để tin vào một điều gì đó có thể làm đổi thay cuộc sống con người một cách đặc biệt. Các giáo phái tỏ ra:… có thể giúp học hiểu Thánh Kinh; hiểu biết về ơn cứu độ; có các tặng ân Thần Linh; giúp suy niệm… (2.1.6)

 

Tìm cầu linh hướng: Thiếu sự nâng đỡ của cha mẹ trong gia đình hay thiếu khả năng lãnh đạo, kiên nhẫn và tự nguyện dấn thân về phía các vị lãnh đạo giáo hội hay các nhà giáo. Các giáo phái tỏ ra: có thể hướng dẫn bằng khả năng lãnh đạo tài khéo vững vàng. Con người của vị sư phụ, của nhà lãnh đạo, của cố đạo (guru) đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho các đồ đệ cảm phục… (2.1.7)



 

Tìm cầu nhãn quan: Thế giới ngày nay là một thế giới liên thuộc của hận thù và tương khắc, của võ lực và sợ bị hủy diệt. Người ta cảm thấy lo sợ về tương lai; họ thường cảm thấy chán chường, vô dụng, vô vọng và bất lực. Họ tìm kiếm những dấu hy vọng, tìm một lối thoát. Một số người có ước vọng, cho dù mơ hồ, trong việc kiến tạo nên một thế giới khá hơn. Các giáo phái tỏ ra: cho thấy một nhãn quan mới về bản thân, về nhân loại, về lịch sử, về vũ trụ. Họ hứa hẹn khởi sự cho một tân thời, một tân kỷ nguyên. (2.1.8)

 

Tìm cầu dự phần và tham gia:… Nhiều người tìm cầu chẳng những cảm thấy cần một nhãn quan trong xã hội của thế giới hiện nay cũng như hướng về tương lai, họ còn muốn dự phần vào việc quyết định, phác họa và thực hiện nữa. Các giáo phái tỏ ra: cho thấy họ có một sứ mệnh kiến tạo nên một thế giới khá hơn, có một ơn gọi toàn hiến, một tham phần ở hầu hết các lãnh vực. (2.1.9) 



“Tóm lại, người ta có thể nói rằng, các giáo phái tỏ ra sống những gì họ tin tưởng, với một xác tín (thường có sức hấp dẫn) mãnh liệt, nhiệt tình và dấn thân; họ chịu khó giao tiếp với người chung quanh một cách nống hậu, thân tình, và trực tiếp kéo cá nhân ra khỏi tình trạng khuất dạng, kêu mời tham phần, sáng tạo, trách nhiệm, dấn thân…, họ thực hiện việc tận tình liên lạc bằng nhiều lần giao tiếp, viếng thăm, tiếp tục nâng đỡ và hướng dẫn. Họ giúp vào việc cắt nghĩa lại cảm nghiệm của người ta, việc tái thẩm định các giá trị của người ta, và việc giải quyết những vấn đề tối hậu bằng đường lối bao gồm hết mọi sự Tóm lại, họ tỏ ra cho thấy họ là một giải đáp duy nhất, là tin mừng trong một thế giới biến động”.  

“Cỏ Lùng Trong Ruộng”: Các Kitô ngụy tạo


  

Trong các giáo phái (sects) từ trước đến nay, điển hình nhất, ghê gớm nhất, trắng trợn nhất và kinh hoàng nhất, phải kể đến Đạo Satan (Satanism). Ông tổ của đạo này là Aleister Crowley (1875-1947) người Anh quốc, kẻ xưng mình là một “con mãnh thú” trong Sách Khải Huyền, với chủ trương “tất cả lề luật là ở tại làm điều mình muốn”, và đệ nhất tông đồ của đạo này là Anton LaVey bên Hoa Kỳ, nhân vật đã thành lập “giáo hội Satan” và viết cuốn “kinh thánh Satan” với những tuyên ngôn như: “Satan tiêu biểu cho thỏa mãn chứ không phải cho cầm hãm (1); Satan tiêu biểu cho hiện sinh chứ không phải cho mơ mộng siêu linh hão huyền (2); Satan tiêu biểu cho báo oán hận thù chứ không phải cho việc chìa cả má kia (5); Satan tiêu biểu cho tất cả những gì là tội lỗi làm thỏa mãn về thể chất, tâm thần hay cảm xúc (8)”, và chủ trương: “Tiếp tục cuộc phản loạn ma quái chống lại Thiên Chúa và bất cứ những gì là thần linh (1); Trong tất cả những gì Satan đã chọn lựa để loại trừ thì trên hết phải loại trừ mọi ảnh hưởng của Thiên Chúa hiện diện nơi bất cứ một nơi chốn hay một khía cạnh nào (4)”.

 

Và trong các trào lưu tân giáo (new religious movements) từ trước đến nay, khó thấy nhất, nguy hiểm nhất và ảnh hưởng nhất phải kể đến Phong Trào Thời Mới (New Age Movement), một phong trào tràn lan từ thập niên 1960 cùng thời với Công Đồng Vaticanô II, một phong trào tân giáo có thể nói đã được phát động bởi Alice Anne Bailey (1880-1949), một chuyên viên thần tri (theosophist) và mật tri (occultist). New Age Movement là một thứ rượu mới (Tây phương) được đựng trong bình cũ (Đông phương), ở chỗ, phong trào này có khuynh hướng triết lý theo khoa tâm lý nhân bản hiện đại lại hoàn toàn hòa hợp với niềm tin của Aán Giáo và Phật Giáo cổ kính. New Age Movement chủ trương đồng nhất tính (monism): tất cả mọi sự hiện hữu kể cả Thiên Chúa đều là một và như nhau; phiếm thần (pantheism): vì tất cả mọi sự hiện hữu đều là một và như nhau nên mọi sự hiện hữu đều là thần linh, đều là Thiên Chúa, đều có thần tính, nên không cái này hơn kém cái kia; đồng điệu tính (syncretism): đạo nào cũng là đạo, đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, nên theo đạo nào cũng được rỗi, đường nào cũng dẫn đến Rôma; ngộ thức (gnosticism): con người được giải thoát và biến đổi là nhờ ở kiến thức giác ngộ của mình, một kiến thức chỉ dành cho một số ít người.



 

Tuy nhiên, giáo phái nào thì giáo phái, trào lưu tân giáo nào thì trào lưu, dù họ có làm được phép lạ, như Chúa Giêsu báo trước trong Phúc Âm Thánh Mathêu, đoạn 24 câu 24: “Các ngụy kitô và tiên tri giả sẽ xuất hiện, làm nhiều dấu lạ và sự lạ cả thể đến nỗi lừa được cả thành phần được chọn”, thì cũng theo lời Chúa Giêsu kêu gọi: “đừng tin” (Mt.24:26). Thế nhưng, làm thế nào để có thể “coi chừng, đừng để ai lừa được” (Mt.24:4) như lời Chúa Giêsu cảnh giác, nếu không phân biệt được đâu là thật đâu là giả, tức làm sao để có thể điểm mặt “các ngụy kitô”, làm sao nhận ra chân tướng của “các tiên tri giả”. Trong cuốn “Thời Điểm Maria: Hiệp Sĩ Trái Tim Mẹ” (Cao-Bùi, 1998, trang 118-119), người viết đã chia sẻ như sau:

 

Nếu “tinh thần nào công nhận Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt là tinh thần thuộc về Thiên Chúa, còn tinh thần nào không nhận biết Người (đến trong xác thịt) là tinh thần không thuộc về Thiên Chúa. Tinh thần như thế là tinh thần phản kitô” (1Jn.4:1-2), thì thực tế cho thấy, và càng ngày càng cho thấy, “tinh thần phản kitô” ở chỗ không chấp nhận “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt” được tỏ hiện rõ ràng qua bốn dấu hiệu sau đây:

 

Dấu hiệu thứ nhất của “tinh thần phản kitô” là việc không tin tưởng, khinh thường hay xúc phạm đến “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt” đang hiện diện thực sự trong Bí Tích Thánh Thể, bằng chính Mình Thánh và Máu Thánh của Người.

 

Dấu hiệu thứ hai của “tinh thần phản kitô” là việc không tin tưởng, bất tuân phục hay chống đối “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt” nơi quyền bính Giáo Hoàng, một con người bằng xương bắng thịt kế vị Thánh Phêrô, để đại diện Chúa Kitô chăn dắt đoàn chiên của Người trên thế gian.

 

Dấu hiệu thứ ba của “tinh thần phản kitô” là việc không tin tưởng, khinh thường và bất kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội Trọn Đời Trinh Nguyên, người nữ đã thụ thai và hạ sinh “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt”.

 

Dấu hiệu thứ bốn của “tinh thần phản kitô” là việc khinh bỉ (như kỳ thị), giầy đạp (như ly dị) hay hủy hoại (như phá thai) tất cả những gì thấp hèn (như nghèo khổ), yếu kém (như thai nhi) hay bất hạnh (như tật nguyền) là thân phận sống đã được “Chúa Giêsu Kitô đến trong xác thịt” mặc lấy (x.Phil.2:7-8; 2Cor.8:9) để có thể đồng hóa mình với “các người anh em bé mọn nhất của (Người)” (Mt.25:40,45) và cũng để nhờ đó “cứu lấy những gì trầm hư” (Lk.19:10).

 

Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, dù có đủ các dấu hiệu thứ nhất, thứ ba hay thứ bốn trên đây, nếu thiếu dấu hiệu cốt yếu thứ hai là lòng tuân phục Huấn Quyền và sùng kính Đức Thánh Cha thì cũng “hãy coi chừng, đừng để mình bị lừa đảo” (Mt.24:4).



 

Trước hết, đối với dấu hiệu thứ nhất, không thể nào một người tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể mà lại không hiệp nhất với Giáo Hội, mà lại công khai chỉ trích hay đả phá Giáo Quyền và Đức Thánh Cha, như Lá Thư Hoa Kỳ số 14 (20-8-1992) và 23 (1-6-1993) của một giáo dân Việt Nam ở San Dimas Nam California, hay như Tiếng Loa Cảnh Báo 1 (11/98) và 2 (12/98) của một giáo dân Việt Nam khác ở San Jose Bắc California, cả hai phổ biến đều có nội dung hay những mục chống lại Thánh Lễ canh tân theo Công Đồng Chung Vaticanô II.

 

Thứ đến, đối với dấu hiệu thứ ba, không thể nào tôn sùng Mẹ Maria mà lại mất lòng tin tưởng Huấn Quyền và Vị Đại Diện Con Mẹ, như trường hợp chính người viết đã gặp trong một lần được mời đến tham dự buổi đọc kinh ngày Chúa Nhật với một nhóm hơn 10 người, tại nhà một người giáo dân ở giáo phận Orange Nam California. Sau cả tiếng đồng hồ mới đọc xong một chuỗi 50 Kinh Mân Côi rất sốt sắng, với những bài hát xen kẽ, kèm theo cử chỉ giang tay và phục mình xuống đất, thì có một bà già (chứ không phải trẻ), trong lúc chia sẻ sống đạo đã phát biểu thế này: “Giáo Hội nói gì thì nói cũng tùy cái mà tin”.



 

Sau nữa, đối với dấu hiệu thứ bốn, không thể nào bênh vực luật tự nhiên, bênh vực sự sống con người mà lại chống đối Huấn Quyền và Đức Giáo Hoàng về cùng một vấn đề, như trường hợp của tờ A Voice Crying in the Wilderness số 1 (mà người viết nhận được biếu không vào giữa năm 1998), phát xuất từ Most Holy Family Monastery ở New York miền Đông Bắc Hoa Kỳ, cho rằng Công Đồng Chung Vaticanô II, trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, cũng như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong Thông Điệp Phúc Âm Sự Sống, đã gây ra việc ngừa thai qúa mức, vì cả Công Đồng lẫn Đức Thánh Cha đã cổ động việc ngừa thai nhân tạo: “Vatican II and John Paul II have promoted NFP (Natural Family Planning)”

 

Sau hết, đối với dấu hiệu thứ hai, không thể nào tỏ ra bênh vực Giáo Hội mà lại quay ra đả phá chính Giáo Hội cũng như Đấng Đại Diện Chúa Kitô chăn dắt Giáo Hội Chúa trên trần gian, bằng những công khai tuyên bố “Giáo Hoàng Mất Đức Tin”, trong đó có “Giáo Hoàng Phaolô VI” và “Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”, như cuốn Trước Cơn Giông Tố (1995) của chính người giáo dân Công Giáo Việt Nam phổ biến tờ nguyệt san Tiếng Loa Cảnh Báo trên đây, hay như bản kết án “101 lạc thuyết của Giáo Hoàng Giả Gioan Phaolô II”, cũng của vị tu sĩ tác giả chủ trương tờ A Voice Crying in the Wilderness trên đây.



 

“Cỏ Lùng Trong Ruộng”: Bảo Vệ Mùa Màng


 

 Để giúp cho con cái mình có thể nhận ra những sai trái hay mặt trái của thành phần “phản kitô”, cũng như để bảo vệ họ khỏi bị “cỏ lùng trong ruộng” tân thời lấn át, từ hậu bán thế kỷ 19, Giáo Hội đã lần lượt ban hành các văn kiện chính thức sau đây:

 

1.      Ngày 8/12/1864, Đức Piô IX đã công bố một Bản Tổng Kê (syllabus) 80 điều sai lầm của thời đại bấy giờ về đủ mọi thứ (như khuynh hướng phiếm thần, tự nhiên, duy lý, khô đạo v.v.)



 

2.      Ngày 20-4-1884, Đức Lêô XIII đã ban bố Thông Điệp Humanum Genus về Hội Kín Tam Điểm.

 

3.      Ngày 3/7/1907, Đức Piô X đã ban hành Thông Điệp Pascendi Dominici Gregis về các giáo điều của thành phần tân tiến thuyết, trong đó ngài bài bác và lên án 65 điều sai lầm của họ trong bản Bản Tổng Kê ở cuối bức thông điệp này.



 

4.      Ngày 19/3/1937, Đức Piô XI đã ban hành Thông Điệp Divini Redemptoris về những sai trái và tai hại của chủ nghĩa cộng sản vô thần.  

 

5.      Ngày 12/8/1950, Đức Piô XII đã ban hành Thông Điệp Humani Generis về một số ý nghĩ sai lầm đe dọa tín lý Công Giáo.



 

6.      Ngày 25/7/1968, Đức Phaolô VI đã ban hành Thông Điệp Humanae Vitae về sự sống con người qua việc truyền sinh và phương pháp ngừa thai tự nhiên.

 

7.      Ngày 24/6/1973, Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin ban hành Tuyên ngôn Bảo Vệ Tín Lý Công Giáo về Giáo Hội chống lại một số sai lầm của ngày hôm nay.



 

8.      Ngày 28/6/1974, Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin ban hành Tuyên ngôn về việc Tìm Cách Phá Thai.

 

9.      Ngày 29-12-1975, Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin ban hành một Tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến Luân Lý Tính Dục .



 

10.  Ngày 6/8/1984, Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin ban hành bản Hướng dẫn về một số lãnh vực của “Thần học giải phóng”.

  

11.  Ngày 22/3/1986, Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin ban hành một bản Hướng Dẫn về Tình Trạng Tự Do Kitô Giáo và Vấn Đề Giải Phóng.



 

12.  Ngày 6/8/1993, Đức Gioan Phaolô II ban hành Thông Điệp Veritatis Splendorđể làm sáng tỏ một số khía cạnh tín lý quan trọng đang thực sự bị khủng hoảng … một số vấn đề nồng cốt về giáo huấn luân lý của Giáo Hội” (đoạn 5)

 

13.  Ngày 25/3/1995, Đức Gioan Phaolô II ban hành Thông Điệp Evangelium Vitae “để tái xác định một cách chính xác và cương quyết giá trị của sự sống con người và tính cách bất khả xâm phạm của nó” (đoạn 5)



 

14.  Ngày 14/9/1998, Đức Gioan Phaolô II ban hành Thông Điệp Fides et Ratio “nhấn mạnh đến đề tài về chính chân lý cũng như về nền tảng của nó liên quan tới đức tin” (đoạn 6).

 

Đúng thế, từ thế kỷ 19 mới có hiện tượng “cỏ lùng trong ruộng” “nổi lên rất nhiều” và “lừa được nhiều người” chưa bao giờ thấy như vậy. Thế nhưng, nếu “kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian; hạt giống tốt là công dân Nước Trời; cỏ lòng vực là thành phần thuộc về tên gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma qủi; mùa gặt là tận thế và nhân công là các thiên thần” (Mt.13:38), thì ngay từ khi mới có con người và mới có Giáo Hội nạn “cỏ lùng trong ruộng” đã xuất đầu lộ diện rồi. Không phải từ khi mới có con người, đã không có một Cain lấn át Abel hay sao (xem Khởi Nguyên 4:1-16)? Rồi cũng không phải hay sao, từ khi mới có Giáo Hội đã không có cấm cách (xem Tông Vụ 4:1-22; 5:17-42), tử đạo (xem Tông Vụ 7:1-60) và bách hại (xem Tông Vụ 8:1-3), nhất là đã có các lạc giáo tuyên truyền sai lầm trong thời các Giáo Phụ Hội Thánh, rồi tiếp tục cứ thế “cả hai mọc lên cho tới mùa gặt” (Mt.13:30), phải chăng đó chính là mùa Giáo Hội nỗ lực hướng về mục tiêu Đại Kết sau Công Đồng Chung Vaticanô II cho tới nay?



 

Thế nhưng, sở dĩ từ thế kỷ 19 mới có nạn “cỏ lùng trong ruộng” “nổi lên rất nhiều” như vậy là vì tới thời điểm của nó, thời điểm Giáo Hội phát triển đã đến lúc như “lúa lên mạ và trổ bông” (Mt.13:26). Tuy biết rằng “cỏ lùng trong ruộng” có thể nguy hại đến “lúa”, song theo ý định vô cùng khôn ngoan mầu nhiệm của mình, “người gieo hạt giống tốt trong ruộng của mình” (Mt.13:24) vẫn tỉnh bơ “ngủ” (Mt.13:25), dù biết rằng “đó là do kẻ thù làm” (Mt.13:28), lại còn không cho phép nhân công “nhổ cỏ” (Mt.13:29) trước khi “tới mùa gặt”, là vì ông không muốn để việc diệt cỏ lùng lây hại đến cả “lúa” (xem Mt.13:29), một tai hại còn tệ hơn cả sự có mặt của “cỏ lùng trong ruộng” cùng với hoạt động phá hoại của nó. Bởi vì, nhờ “cỏ lùng trong ruộng” mà “lúa” mới có cơ hội tốt cũng như mới càng được dịp sống đức tin chân chính và sáng tỏ hơn, một yếu tố thiết yếu để hoàn thành sứ vụ tân phúc âm hóa trong ngàn năm thứ ba, đúng như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Tông Huấn “Giáo Hội tại Mỹ Châu” trong khoản 73 mang tựa đề “Thách Đố của Các Giáo Phái (sects)“sau đây:

 

Hơn bao giờ hết, tất cả mọi tín hữu cần phải tiến từ đức tin thói quen hầu như chỉ được bảo tồn nhờ mối tương quan xã hội, đến đức tin ý thức và tự sống. Việc canh tân đức tin bao giờ cũng là đường lối tốt nhất để dẫn người khác về với Chân Lý là Chúa Kitô”.



 

(Tuần san L’Osservatore Romano, ấn bản Anh ngữ, 27-1-1999)




Thời Điểm Maria: Trong bài 34, tác giả viết:
“1) Trước hết, tôi vốn không thích đọc và mất giờ đọc những gì chưa được Giáo Hội chuẩn nhận. Đó là lý do tôi giành giờ rất nhiều cho Biến Cố Thánh Mẫu Fatima, Sứ Điệp Fatima và Bí Mật Fatima cũng như cho cuốn Nhật Ký của Chị Thánh Faustina nhan đề Lòng Thương Xót Chúa Trong Hồn Tôi, những gì đã được Giáo Hội chính thức chẳng những công nhận mà còn phổ biến và khuyến khích thực hành”.
Tác giả bài 34 và 35 này đã đề cập tới mạc khải tư về Bí Mật Fatima ở bài 23. Tiếp theo đây là 3 bài liên quan đến các mạc khải tư khác đã được giáo quyền chính thức cho phổ biến, như Thần Đô Huyền Nhiệm thế kỷ 17 về cuộc đời đức Mẹ (bài 37), Bí Mật La Salette thế kỷ 19 (bài 38), Lòng Thương Xót Chúa trong Hồn Tôi tiền bán thế kỷ 20 (bài 39) và Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu gửi Các Hồn Nhỏ hậu bán thế kỷ 20 (bài 40).







Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương