GIỚi thiệU: TÒa-thánh tây ninh tòa thánh tây ninh I- giới thiệu tổng quát



tải về 379.7 Kb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích379.7 Kb.
  1   2   3   4   5

GIỚI THIỆU: TÒA-THÁNH TÂY NINH



TÒA THÁNH TÂY NINH

I- Giới thiệu tổng quát:

Đây, Tòa Thánh Tây Ninh, còn được gọi là Đền Thánh, hay Tổ Đình, là Tòa Thánh Trung-Ương của Đạo Cao Đài, hiện nay tọa lạc tại xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách Thị Xã Tây Ninh khoảng 5 km về hướng Đông Nam, thuộc Miền Nam nước Việt Nam. Đây là một ngôi Đền đồ sộ, nguy nga, đặc sắc, là nơi thờ phượng Đấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, các vị Giáo chủ Tam Giáo và Ngũ Chi Đại Đạo, cùng các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật.

D
u khách viếng Tòa Thánh sẽ được đi vào rất nhiều cửa tùy theo hướng đến của mình từ Đông, Tây, Nam, Bắc. Chu vi bao bọc bởi 12 cửa gọi là Nội-ô Tòa Thánh. Đền Thánh tượng trưng Bạch Ngọc Kinh tại thế. Nội-ô Tòa-Thánh có tổng diện tích 96 ha (tức là 96 mẫu Tây).

Gọi Đền-Thánh Tây-Ninh hay Tổ Đình, vì đây là nơi phát xuất của Đạo Cao Đài, là nơi đặt các cơ quan trung-ương của Hội Thánh Cao Đài, tức Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để điều hành toàn bộ các hoạt động truyền giáo và cứu độ nhơn sanh. Đền-Thánh được khởi công xây dựng từ năm 1931 (Tân Mùi), hoàn thành vào năm 1947 (Đinh Hợi) và được Khánh-thành vào dịp Đại Lễ Đức Chí Tôn ngày mùng 9 tháng Giêng năm Ất-Mùi (dl: 01-02-1955). Đền-Thánh được cất theo kiểu vở của Thiên đình, quay mặt về hướng Tây, có kích thước theo dự tính ban đầu của Đức Giáo Tông Lý-Thái-Bạch, có:

- Bề dài: 135 mét.
- Bề ngang: 27 mét.
- Bề cao tại Lầu chuông và Lầu trống: 36 mét.
- Bề cao tại Nghinh Phong Đài: 25 mét.
- Bề cao tại Bát Quái Đài: 30 mét.

Việc chọn đất Thánh địa làm nơi xây dựng Đền Thánh và kiểu vở xây cất đều do Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông giáng cơ chỉ dạy tỉ mỉ. Đặc biệt hơn hết là không nhờ một Kiến-Trúc-sư hay Thầy địa lý nào ở trong thế giới hữu hình này cả. Điều đáng ghi nhớ là thời gian thi công, việc kiến thiết là do bổn đạo toàn quốc về hiến thân làm công quả, dùng toàn thức ăn chay, nhưng thật ra chỉ là cháo, rau, dưa muối đạm bạc mà thôi, hoàn toàn không dùng thức ăn động vật Người làm công quả hầu hết về đây góp công sức xây dựng không phải là chuyên môn. Phải trường trai, tuyệt dục trong suốt thời gian thi công

1-Trong cửa Ðạo Cao-Ðài hiện có hai Ðền thờ

-“Một Ðền Thờ, ta ngó thấy trật-tự hàng ngũ, bởi từ nguyên căn tâm hồn của Chơn-linh chúng ta đều có trong hàng phẩm Cửu Thiên Khai Hóa cả. Quí phái như thế!”.

Đó là nơi thờ Đấng Thượng Đế tức là Đức Chí-Tôn là Cha của nhân loại (Đại Từ Phụ). Là Đền Thánh, ngôi Dương.

- “Còn một Ðền Thờ nữa, thờ Đức Phật-Mẫu tức là Mẹ của chúng ta, thì cái quí phái của chúng ta không còn giá trị gì nữa. Đức Phật Mẫu không muốn cả Chức Sắc Thiên Phong đi đến Ðền Thờ của Người và Người nhứt định không chịu điều ấy, vậy phẩm tước và giai cấp đối với Phật Mẫu không có giá trị, vì Phật Mẫu không muốn đứa nào áp bức đứa nào cả, hành tàng như vậy bị tiêu diệt”. Ngôi thờ Đức Mẹ Diêu Trì gọi là Điện thờ Phật-Mẫu (Đại Từ Mẫu - ngôi Âm). Âm Dương tương hiệp mới phát khởi Càn khôn hóa sanh vạn vật.



2- Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng-Đế đến với nhân loại vừa là CHA vừa là THẦY

CHA và THẦY là hai tiếng rất thân thiết mà các Tín đồ Ðạo Cao Ðài thường dùng để gọi Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế, qua các nguyên nhân:

Mỗi người chúng ta đều có Tam thể xác thân:.

- Thể xác bằng xương thịt do cha mẹ phàm trần sanh ra.

- Chơn Thần tức là xác thân thiêng liêng do Ðức Phật Mẫu tạo ra. Do đó, chúng ta gọi Ðức Phật Mẫu là Ðại Từ Mẫu, tức là Ðức Mẹ thiêng liêng.

- Chơn Linh hay linh hồn là điểm linh quang do Ðức Chí Tôn chiết ra từ khối Ðại Linh quang ban cho mỗi người để điều khiển chơn thần và thể xác. Do đó, chúng ta gọi Ðức Chí Tôn là Ðại Từ Phụ, là Ðấng Cha thiêng liêng. Vậy, mỗi người chúng ta, ngoài cha mẹ phàm trần, chúng ta còn có hai Ðấng CHA MẸ chung, thiêng liêng, là Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu. Khi Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy Ðạo, mở Ðại-Ðạo Tam-Kỳ Phổ-Ðộ, Ðức Chí Tôn xưng mình là THẦY và gọi các Tín đồ là chư Môn đệ. Như vậy, Đức Chí-Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế, vừa là CHA, vừa là THẦY của chúng ta và của toàn nhơn loại. Ðức Hộ Pháp rất thắc mắc về điều nầy, nên mới đem ra hỏi Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor-Hugo):

- Le PÈRE et le MAÎTRE sont différents. Pourquoi notre PÈRE prend-il aussi le titre de MAÎTRE? (Cha và Thầy khác nhau. Tại sao Ðại Từ Phụ của chúng ta lấy danh xưng là Thầy ?)

Ðức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ trả lời bằng thơ Pháp văn, như sau đây:

Il est en même temps Père et Maître,
Parce que c'est de LUI, vient tout notre être.
Il nourrit notre corps de ce qui est sain,
Et fabrique notre esprit de ce qui est divin.
En LUI, tout est Science et Sagesse,
Le progrès de l'âme est son oeuvre sans cesse.
Les viles matières sont joyaux à ses yeux,
De vils esprits, Il en fait des Dieux.
Sa loi est Amour, sa puissance est Justice.
Il ne connait que la vertu et non le vice.
PÈRE: Il donne à ses enfants sa Vitalité,
MAÎTRE: Il leur lègue sa propre Divinité.

Nghĩa là:

Ngài trong cùng một lúc vừa là CHA vừa là THẦY. Bởi vì chính Ngài sanh ra tất cả con người chúng ta. Ngài nuôi dưỡng thân thể chúng ta bằng vật lành mạnh


và tạo ra linh hồn chúng ta bằng phép thiêng liêng. Nơi Ngài, tất cả là thông thái và trí huệ. Sự tiến hóa của linh hồn là công nghiệp của Ngài không ngừng: Những vật chất hèn mọn là châu báu trước mắt Ngài. Những linh hồn hèn hạ, Ngài biến chúng thành Thần, Thánh. Luật của Ngài là Bác ái, quyền của Ngài là Công chánh. Ngài chỉ

biết đạo đức và không biết thói xấu.

-CHA: Ngài ban cho các con Sanh khí của Ngài.

-THẦY:Ngài di tặng cho họ cái Thiên tánh riêng của Ngài.

Ðức Hộ Pháp diễn dịch ra thơ như sau:

Người cũng vẫn Cha, Thầy luôn một,


Cả chơn linh, hài cốt tay Người.
Nuôi hình dùng vật thanh tươi,
Tạo hồn lấy phép tột vời Chí Linh.
Nơi Người vốn quang minh cách trí,
Tấn hóa hồn phép quí không ngưng.
Vật hèn trước mắt thành trân,
Hồn hèn Người lại dành phần Phật, Tiên.
Luật Thương yêu, quyền là Công chánh,
Gần thiện căn, xa lánh phàm tâm.
Làm Cha nuôi nấng âm-thầm,
Làm Thầy lại nhượng phẩm Thần ngôi Tiên.
3- ĐIỆN THỜ PHẬT- MẪU

E: The temple of Buddha-Mother

F
: Le temple de Bouddha-Mère


Thờ Ðức Phật Mẫu tại Báo-Ân-Từ

  Đức Phật-Mẫu 佛 母 Hán-tự nói là Thiên-Hậu Chí Tôn (Bà Vua Trời) người Á-Đông nhứt là Trung-Hoa và Việt Nam gọi là Bà Mẹ Sanh của nhân loại, của cả muôn loài vạn-vật trong Càn Khôn Võ-Trụ, làm chủ phần Âm, là Ngôi Thứ Hai (Deuxième Logos) kế dưới Đức Chí-Tôn.



Phật-Mẫu là ai ? – “Phật-Mẫu là Mẹ, là gốc sinh ra vạn vật. Đạo Cao-Đài xác nhận là Đức Mẹ Diêu-Trì, còn gọi là Mẹ sanh ra cả vạn loại. Trong vũ trụ Chúa cả tạo đoan ấy là Thầy, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, nắm cơ huyền vi bí mật trong tay. Thầy mới phân tánh Thầy ấy là PHÁP. Pháp tức là quyền-năng của Thầy thể hiện ra, cũng như lý Thái-cực ở trong cõi tịnh. Lý Thái cực phát động mới sanh ra PHÁP. Pháp tức là những định luật chi phối cả Càn khôn, mà người nắm luật chi phối ấy là Phật-Mẫu. Phật-Mẫu nắm cơ hữu tướng. Phật Mẫu là Âm, còn Thầy là Dương. Âm Dương tương hiệp mới biến Càn Khôn. Cả Càn Khôn ấy là TĂNG, mà người nắm quyền vi chủ của Tăng ấy là một vị Phật cầm quyền Thế giới. Phật và Pháp không biến đổi, vị cầm quyền thế giới là Tăng ấy thay đổi tùy theo thời kỳ. Tỷ như người cầm quyền vi chủ:

- Nhứt kỳ Phổ-Độ là Nhiên Đăng Cổ Phật.

- Nhị kỳ Phổ Độ là Thích-Ca Mâu-Ni.

- Tam kỳ Phổ-Độ là Di-Lạc Vương-Phật.

Hết Tam-Kỳ Phổ-Độ thì nguyên căn qui nhứt trở lại mở Nhứt kỳ Phổ-Độ nữa sẽ có vị Phật nữa ra đời cầm quyền vi chủ, định luật Càn-Khôn phải như vậy. Đó là cơ quan quản trị Càn khôn vũ trụ. Còn ở vạn vật là cơ quan: vô hình, bán hữu hình và hữu hình; hay linh tâm, khí thể và xác thân. Bên trong Báo-Ân-Từ đang thờ các tượng này.
-
Đức Diêu Trì Kim Mẫu là Mẹ sinh của toàn thiên hạ, Chưởng quản Tạo-Hóa-Thiên, ai đã đến thế gian nầy đều phải nhờ ơn Phật-Mẫu lựa chọn cho xuống trần chịu khổ, học khôn đến đạt thành Phật-vị. Ơn tạo hình hài, ơn dưỡng nuôi giáo-hoá và ơn dìu dẫn thoát trần của Phật Mẫu thật là vô lượng vô biên.

- Hai chữ Kim-Mẫu là hai chữ nói tắt, chính thật là Kim-Bàn Phật-Mẫu. Trong Di Lạc Chơn Kinh có chỉ rõ. Bởi vậy nơi cõi trần, Phật-Mẫu là Mẹ của Thần, Thánh, Tiên, Phật. Dưới Phật Mẫu có Cửu vị Tiên Nương:



1-Nhứt Nương Diêu-Trì-Cung: cầm cây đờn Tỳ Bà, Chưởng quản vườn Ngạn-Uyển, xem xét cho biết số Nguyên Nhân xuống trần hay Qui Vị. Mỗi đoá hoa trong vườn Ngạn-Uyển là một chơn linh, khi chơn linh ấy tái kiếp thì hoa nở, khi qui vị thì hoa tàn.

2- Nhị Nương Diêu-Trì-Cung: cầm lư hương Chưởng quản vườn đào của Tây-Vương-Mẫu nơi tầng thiên

thứ hai, tiếp các chơn hồn qui thiên mở tiệc trường

sanh (Bàn Đào) và đưa các chơn hồn đến Ngân Kiều cỡi Kim Quang triều kiến Ngọc Hư Cung.

3-Tam Nương Diêu-Trì-Cung: cầm cây Quạt Long Tu (Long-tu-Phiến) thả thuyền Bát Nhã trên bể khổ, đón nẻo Cửu-tuyền độ các chơn hồn qui nguyên “Chở che khách tục Cửu tuyền ngăn sông”.

4-Tứ Nương Diêu-Trì-Cung: cầm cây Kim Bản làm Giám-khảo tuyển chọn các nhân tài. Trong buổi khoa thi ai có đức tài và học giỏi mới đặng chấm đậu “Vàng treo nhà ít học không ưa”.

5-Ngũ Nương Diêu-Trì-Cung:Bửu pháp là xe Như Ý, ra lệnh cho các đấng thiêng liêng tiếp các chơn hồn về đến cõi Xích Thiên, khai kinh vô tự đặng xem quả duyên của các chơn linh và đưa các chơn hồn đắc đạo triều kiến Đức Chí Tôn: Dựa xe Như-ý oai thần tiễn thăng

6-Lục Nương Diêu-Trì-Cung: cầm cây Phướn Tiêu Diêu (phướn Truy Hồn) độ dẫn khách trần và tiếp các chơn hồn hữu căn về đến cõi Kim thiên, dẫn đến Đài Huệ Hương xông cho thơm linh thể và ra lịnh trổi thiên thiều đưa các chơn linh đến Tây Phương Cực Lạc.

7-Thất Nương Diêu-Trì-Cung: cầm Bông sen khêu đuốc Đạo buổi sơ khai và tình nguyện lãnh lịnh thiên-điều đến Âm Quang độ rỗi các tội hồn, khi giác ngộ lại chỉ chỗ cho đầu thai đặng theo Đạo lần về cựu vị (nhứt là nữ phái) “Thất Nhương khêu đuốc Đạo đầu”.

8-Bát Nương Diêu-Trì-Cung là Hớn Liên Bạch, cầm giỏ Hoa Lam, Ngài là một đấng thiêng liêng rất linh hiển, dày công giáo hoá buổi Đạo Khai, có phận sự độ rỗi các nguyên nhân tại thế (nhứt là nữ phái) và tiếp đưa các chơn hồn qui vị về tới cung Phi-Tưởng-Thiên rưới nước Cam Lồ. Ai có việc chi cầu khẩn nơi Bát Nương thì đắc nguyện một cách linh hiển.”

9 -Cửu Nương Diêu-Trì-Cung: cầm ống Tiêu có nhận sự giác ngộ các chơn linh đoạ lạc nơi trần thế.

Tóm lại các nghề hay nghiệp khéo về nữ công hoặc cầm, kỳ, thi, họa và triết học văn-chương đều nhờ Cửu Vị Tiên Nương giáo hoá và ung đúc cho thành tài.



II- Tìm hiểu Châu vi Nội Ô Tòa Thánh:

Nhìn ra xung quanh thì Tòa Thánh nằm lệch về phía Bắc trên một vuông đất gồm có Đền Thánh, Báo Ân Từ và các dinh thự như: Giáo Tông Đường, Hộ Pháp Đường, Đầu Sư Đường nam, nữ kiến thiết theo

kiểu Đạo đồ, cùng các cơ sở của các cơ quan ban bộ.

Hai bên đường là Dinh thư. Đại lộ thẳng tấp:

- Đại lộ Cao Thượng Phẩm, Phạm Hộ Pháp, Cao Thượng Sanh, chạy dài theo chiều dọc, có hình Quẻ CÀN Nhưng đại lộ Hộ-Pháp vẫn ở giữa, chính trung, hai lộ còn lại nằm hai bên về phía trái và phải.

- Các lộ ngang như: Oai Linh Tiên, Thượng Trung Nhựt, Thái Thơ Thanh chạy theo chiều dọc, hình quẻ KHÔN

Lộ Thượng Trung Nhựt vẫn ở giữa đúng theo qui luật

Hai dạng quẻ này đặt chồng lên nhau thành chữ ĐIỀN Ấy là tâm của BÁT QUÁI ĐỒ THIÊN, tức là Bát-Quái Cao Đài đó vậy. Nói rõ hơn là hình của các số Ma phương. Vùng Nội-Ô Toà Thánh có cả thảy 12 cửa. Thực tế nhân sanh sẽ không thấy cửa số 5, nhưng được thay bằng cổng Chánh Môn cũng đủ vào số 12. Bởi vì số 5 là ở chính giữa (Ngũ trung) của đồ hình như bảng Ma phương số. Thế nên số 5 là hình ảnh của “Báo Ân Từ” là ngôi Điện thờ Đức Phật Mẫu. Các cửa này đặt nghịch chiều với chiều quay của kim đồng hồ. Mỗi cửa cách nhau

300 m. có hàng rào tường bao quanh 12 cửa. Riêng cổng Chánh Môn cao 36m, ngang 60m, cổ kín Tam quan, trên nóc là 3 Cổ Pháp: “Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu” có bản đồ theo sự chỉ dẫn trước của Đức Hộ Pháp để lại.


Tuy nhiên, cổng Chánh Môn hiện nay do chi Thế là Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước lúc nắm quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài kiêm Thống Quản Hội Thánh Phước Thiện phối hợp với Tỉnh trưởng Tây Ninh: Thiếu Tướng Lê văn Tất xây dựng theo bản đồ Ty Kiến Thiết của Tỉnh Tây Ninh, nên có hai Rồng tranh Cổ Pháp. Tại sao nói tranh Cổ Pháp? Vì bản tánh của Rồng là “Long năng biến hóa”, hình Rồng hả miệng, mình uốn khúc, phải là Rồng tranh Châu thời Phong Kiếm Xuân Thu; nay đem tranh Cổ Pháp, đó là việc làm của Thời Quân Chi Thế, không đúng với bản vẽ ban đầu của Đức Hộ-Pháp còn lưu lại.

1- Thầy dạy: “Các con nghe! Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh Địa: chi chi cũng tại

Tây Ninh nầy mà thôi

Đạo Cao Đài làm Lễ Khai Đạo ngày 15-10-Bính Dần (dl: 19-11-1926) tại Thánh Thất tạm đặt tại Chùa: Từ Lâm Tự (tục gọi là Chùa Gò Kén, Tây Ninh), nằm trên Quốc lộ 22, cách thị xã Tây Ninh cũng độ 5 km.

Nguyên ngôi chùa nầy do Hòa Thượng Như Nhãn (cũng gọi là Hòa Thượng Giác Hải) góp tiền bổn đạo mua đất và xây dựng nên. Kịp khi Đức Chí Tôn giáng cơ mở Đạo, Đức Chí Tôn dùng Huyền diệu Cơ bút độ được Hòa Thượng Như Nhãn theo Đạo Cao Đài và trở thành một vị Chức sắc Đại Thiên phong của nền Đại-Đạo, do đó nên Hòa Thượng Như Nhãn hiến chùa Từ Lâm Tự cho Hội Thánh Cao Đài làm Thánh Thất tổ chức Lễ Khai Đạo. Nhưng sau ngày Lễ Khai Đạo, Hòa Thượng Như Nhãn một phần bị mất đức tin, một phần bị nhà cầm quyền Pháp bấy giờ xúi giục và hăm dọa, nên Hòa Thượng Như Nhãn không theo Đạo Cao Đài và đòi chùa lại, không hiến nữa. Hội Thánh Cao Đài phải trả chùa cho Hòa Thương Như Nhãn, hứa trong ba tháng sẽ tìm đất để dọn đi.

“Kể từ Rằm tháng 10 năm Bính-Dần (1926) tới Rằm tháng Giêng Đinh-Mão (1927) là đúng kỳ hứa trả Từ Lâm Tự (Gò Kén) là ba tháng, nhưng tới tháng 2 năm Đinh Mão, đã quá kỳ hạn một tháng mà Hội Thánh chưa trả chùa lại được, vì chưa kiếm được đất để mua, còn Ông Hòa Thượng Giác Hải thì cứ đòi chùa lại hoài” (Đạo-Sử I/51). Vì sự đòi Chùa ấy nên Đức Lý Giáo Tông giáng dạy tại chùa Gò Kén ngày 19-01-Đinh Mão (dl 20-2-1927)

Ngày nay Lão nhứt định chùa nầy trả lại. Song

trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như lời dạy. Chư Đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập thành Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi, vì là Thánh Địa. Vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. Lão muốn nơi khác mà Chí Tôn không chịu.

Thượng Trung Nhựt ! Phải làm thế nào chừa đất dư ra ít nữa là 50 mẫu là cả trọn bản đồ Bạch Ngọc Kinh và cho đủ Thánh địa ấy. Hiền hữu đi chọn đất về cho Lão hay, cầu khẩn Chí Tôn nghe !” (Trích Đạo-Sử. II/ 222)

Hôm sau, cũng tại chùa Gò Kén, ngày 20-01-Đinh Mão (dl: 21-2-1927) Đức Chí Tôn giáng dạy như sau: “Các con nghe! Nơi nào Thầy ngự thì nơi ấy là Thánh Địa. Thầy đã ban sắc cho Thần Hoàng Long Thành thăng lên chức Văn Xương vào trấn nhậm làng Hiệp Ninh dạy dỗ dân vô đạo, Thầy ban đặng quyền thưởng phạt, đặng răn làng ấy cho đến ngày chúng nó biết ăn năn cải hóa. Vậy thì Làng Long Thành, các con khá an lòng. Còn Tòa Thánh thì muốn để cho có nhơn lực hiệp cùng Thiên ý là hạnh của Thầy, các con nên xem gương mà bắt chước. Từ Thầy đến lập Đạo cho đến giờ, Thầy chưa hề một mình chuyên quyền bao giờ. Các con lựa chọn nơi nào mà Hội Thánh vừa lòng thì là đẹp lòng Thầy. Các con phải chung hiệp nhau mà lo cho hoàn toàn Tòa Thánh, chi chi cũng tại Tây Ninh nầy mà thôi. Các con đã hiểu Thánh ý Thầy, phải cần kiệm mỗi sự chi về phương tiện mà thôi.



THƠ ! Thầy giao cho con góp tư bổn trong một tháng cho rồi, dặn các em con rằng: “Danh thể Đạo nơi Tòa Thánh, nghe à!” Sau Thái Bạch sẽ dạy con kiểu vở.

Tuy nhiên Thầy cũng nêu lên nhiều địa điểm thuộc vùng Tây Ninh Thánh địa, nhưng Thầy có phân tích sự lợi hại của mỗi nơi, như:



Cẩm Giang thì các con phải chịu khổ về phần ăn uống, Bến-Kéo thì địa thế hẹp hòi, chớ chi các con khôn ngoan lấy cớ rằng, vì ích lợi lương sanh, vì đạo đức mà ký Chánh phủ cho các con mé rừng cấm bên kia đường thì đẹp lắm. Các con liệu thử.

Thơ ! Suối Vàng thì đặng, phương chuyên chở không thuận tiện, song phong thổ tốt đẹp. Con cũng yêu cầu Hội Thánh xét nét, nghe à ! Thầy ban ơn cho các con." (ĐS. II. 223).

Tiếp theo, cũng tại chùa Gò Kén, ngày 22-2-1927 (âl 21-1-Đinh Mão), Đức Lý Giáo Tông giáng:

Thượng Trung Nhựt! Thái Thơ Thanh! Cười! Nhị vị Hiền hữu muốn cho Đạo phải mang tiếng rằng: Trốn lánh hay sao mà tính dời Tòa Thánh xa dữ vậy hử ? Tỷ như Lão muốn lập Tòa Thánh gần bên thành binh, chư Hiền hữu tưởng sao? -Trung bạch : Có hai làng cúng đất.
- Mua thì đặng, khó gì ! Một nơi chí Thánh trước mắt mà chư Hiền hữu chẳng biết xem, ấy cũng còn hai phần phàm. Thái Thơ Thanh ! Lão cậy Hiền hữu một phen nữa, mai nầy đi lên đường trên gọi là đường dây thép, nhắm địa thế dài theo cho tới ngã ba Ao Hồ, coi Hiền hữu thấy đặng chăng cho biết. Lão đã nói rằng: Mỗi sự chi đều bày trước mắt nhơn sanh hết. Chư Hiền hữu đừng sợ ai hết, hễ sợ thì chối quyền Thiêng liêng của Chí Tôn thì còn gì Đạo! nghe à !" (Đạo-Sử. II./ 224)


2- Lão cắt nghĩa vì sao cuộc đất ấy

là Thánh Địa?

Đức Lý giáng dạy đêm 23-1-Đinh Mão (dl: 24-2-1927), tại chùa Gò Kén: “Sâu hơn 300 thước, như con sông, giữa trung tim đất giáp lại trúng giữa 6 nguồn, làm như 6 con rồng đoanh nhau. Nguồn nước ấy trúng ngay đỉnh núi, gọi là LỤC LONG PHÒ ẤN. Ngay miếng đất đó đặng 3 đầu: Một đầu ra giếng mạch Ao hồ, hai đầu nữa bên cụm rừng bên kia. Người Lang sa chỉ đòi 20 ngàn, nói rồi trả đúng có 15 ngàn, Lão dặn thì thành trả 17 ngàn, 18 ngàn thì đặng vậy. Còn xin khai khẩn miếng đất rừng bên kia nữa mới trọn. Đất nay còn rẻ, miếng đất chung quanh Thánh địa ngày sau hóa vàng. Chư Hiền hữu biết lo lập, ngày sau rất quí báu.

3- Vị trí cất Đền Thánh tạm hiện thời:

  Đức Lý Giáo-Tông dạy: “Thánh Thất tạm cất trên miếng đất trống. Ngay trung tim rừng cách miếng đất trống chừng 3,50m đóng một cây nọc, đo Hiệp Thiên Đài như vầy: ngoài Bàu Cà Na đo vô chừng 50m đóng một cây nọc, ấy là khuôn viên Tòa Thánh. Lão dặn: Từ cây nọc phía bên miếng đất đo vô Bàu Cà Na 27m tây. Nghe à!” Tư vuông 27 thước, mỗi góc của Bát Quái Đài, nghĩa là hình nhà tròn có tám nóc, cao từ dưới đất lên thềm 9m, phân làm tám nóc.

-Trên Điện Bát-Quái-Đài bề cao 9m, hình nóc tròn mô lên có tám nóc phân minh, trên đầu phải để một cây đèn màu xanh,

-Kế nữa là Chánh Điện bề dài 81m, ngang 27m (81x 27). Hai bên Hiệp Thiên Đài mặt tiền có Lôi Âm Cổ Đài, bên trái có Bạch Ngọc Chung Đài. Lão phải vẽ mới đặng…”.

[Gò Kén ngày 27 tháng 1 Đinh Mão (dl: 28-02-1927)]

4- Đức Lý dạy cất Đền Thánh theo kiểu

Thiên đình

Thánh Giáo ngày 07-02-Đinh Mão, Đức Chí Tôn dạy Ngài Phối Sư Thái Thơ Thanh lo lập Thánh Thất. Ngài bạch: “Xin đúc nền Tòa Thánh bề cao 9m theo kiểu của Đức Lý Đại Tiên”

Đức Chí Tôn dạy: “Tốn kém nhiều lắm con ơi! Bính, con đo từ mé rừng dưới vào cho tới 50m, bỏ miếng trảng vào tới 50m, rồi 81m, rồi kế 27m; làm như vậy Thánh Thất nằm trọn vào rừng mà thành ra như bao quanh một vườn thiên-nhiên rất đẹp…Khi cất, con nhắm thế nào cho nọc Bát Quái Đài và Hiệp Thiên Đài cho ngang mặt trời phía Tây thì trúng, con nhớ nghe!”

Đức Lý Giáo-Tông dạy: “Cười… Họa đồ của Lão, Chí Tôn chê và trách rằng: hao tốn vô nền nặng lắm. Chí Tôn sửa lại mỗi cấp ba tấc tây mà thôi. Dưới đất năm tấc, chín cấp ba tấc là 2,70m cộng 5 tấc là 3,20m. Còn 10m thì chí đầu trong nền Bát Quái Đài. Trên đầu song chí nóc 13m mới khỏi mưa nước đọng mà phải mục.  Nóc của Đại Điện và Hiệp Thiên Đài cũng y như mức vậy. Phải làm plafond hai Đài Chuông, Trống cao hơn nóc Hiệp Thiên Đài 6 thước”.

1- Đèn vàng ngay nóc Điện Bát Quái.

2-Đèn xanh ngay giữa Đại Điện làm hình Long Mã

Phụ Hà Đồ.

3- Đèn đỏ để Hiệp Thiên Đài.

Do vậy mà Đền Thánh hiện nay xây dựng bằng bê tông cốt sắt nằm trên Lục Long Phò Ấn, trung tâm Thánh Địa, vẫn còn là tạm; vì Chí Tôn dạy cất ngôi Tổ Đình trong sân Đại Đồng Xã. Đền Thánh được khởi công xây cất vào ngày 23 tháng 10 Tân-Mùi (1931), phải trải qua thời gian bốn lần kiến tạo mới hoàn thành vào năm Đinh Hợi (đầu năm 1948):

1- Lần thứ nhất đào hầm Bát Quái, đổ bê-tông do Ngài Thái Chánh Phối Sư - Thái Thơ Thanh lãnh đạo- rồi bị ngưng trệ vì cuộc nội phản. (1931).

2- Lần thứ hai do Đức Quyền Giáo Tông và Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh đảm nhiệm. (1932).

3- Lần thứ ba do Ngài Tiếp-Thế Lê Thế Vĩnh lãnh vận động, mướn Bác Vật Phan Hiếu Kinh khởi làm Lầu Hiệp Thiên Đài, đúc cột được phần ít rồi cũng phải ngưng…(1933).

  4- Lần thứ tư do Đức Hộ-Pháp lãnh đạo khởi công vào ngày 01-11-Bính Tý (1936), tiếp tục kiến tạo đến ngày 30-12 Đinh Hợi (dl: 24-01-1948) mới hoàn thành trọn vẹn.

5- Tạo tâm đức hiến thân – thủ trinh:

Phương pháp nào đạt kết quả qua ba lần thất bại không hoàn thành Thánh Tòa được ? – Do Đức Hộ Pháp khéo léo tạo tâm đức cho con cái Chí Tôn, người Phạm Môn, Phước Thiện đảm nhận tình nguyện trường trai và thủ trinh hiến thân làm công quả cho đến ngày làm xong Đền Thánh. Nhờ vào đức tin mãnh liệt đó mới sớm hoàn thành hình tượng Bạch Ngọc Kinh tại thế.

- Trong giai đoạn nầy đến năm Tân Tỵ (1941) nhằm ngày 25-05 phải tạm ngưng vì Pháp bắt Đức Hộ Pháp lưu đày sang đảo Madagascar. Mãi đến 30-08-Bính Tuất (1946) Đức Ngài được trở về nước nhà, điểm tô thêm bốn tháng nữa, thợ hồ mới làm lễ bàn giao Đền-Thánh cho Hội Thánh (03-01-Đinh Hợi). Đức Hộ Pháp cho tổ chức cuộc lễ Khánh Thành Tòa Thánh trong vòng 10 ngày, kể từ ngày 6 đến 16 tháng giêng năm Ất Mùi (dl: 29–01 đến 8–2–1955), Đức Ngài cho diễn ba vở tuồng cổ: San Hậu, Tiêu Anh Phụng, Hoàng Phi Hổ Qui Châu.

6- Những bí mật của Đền Thánh:

Đền Thánh là hình trạng Bạch Ngọc Kinh tại thế, kiến trúc theo Thiên Đình thể hiện cổ kim tổng hợp, đúc kết tinh hoa hai nền văn minh Âu Á về khoa học lẫn Đạo học. Từ xa nhìn vào nhận diện nó là con Tu vật: một con LONG MÃ QUÌ đem nguồn sống vĩnh sanh cho loài người, bởi bên trong nó là Pháp giới gồm có:

- Bát Quái Đài thể hiện Bạch Ngọc Kinh,

- Cửu Trùng Đài thể hiện Cửu Thiên Khai Hóa,

- Hiệp Thiên Đài là hình trạng Cung Hiệp Thiên Hành Hóa, trên Diêu Trì Cung một cảnh giới.

Muốn vào Bát Quái Đài, trước phải vào Hiệp Thiên Đài là cửa Trời – Người hiệp nhứt, rồi qua Cửu Trùng Đài phải chịu sự khảo duợt của Cửu phẩm Thần Tiên, chịu nỗi rồi mới vào Bát Quái Đài được, bằng chẳng phải thối bước. Đền Thánh uy nghi như thế, vẫn còn tạm. Sau đây phải xây cất Tổ Đình theo Thánh Giáo của Đức Chí Tôn mà nền móng Bát Quái Đài đã xây xong vào năm Canh Ngọ (1930) tại trụ phướn (mặt trước của Đền)



III- NHỮNG DINH THỰ TRONG NỘI-Ô

TÒA THÁNH

1- NỮ ĐẦU SƯ ĐƯỜNG:


Trên Đại lộ Phạm Hộ-Pháp, vừa rời Đền Thánh là thấy ngay tòa nhà một từng, đồ sộ, đó là Nữ Đầu Sư đường 女 頭 師 堂 Đây là một tòa nhà dành riêng cho Chư vị Nữ Đầu-sư cầm quyền Nữ Phái làm việc. Đây cũng là nơi thờ phượng các bậc Nữ Đầu sư thời tiền khai Đại Đạo đã quá vãng. Phải kể đến công đầu của ba Bà: là Bà Nữ Đầu Sư Lâm Hương Thanh, Bà Nguyễn Hương Hiếu, Bà Hồ Hương-Lự. Nhân Lễ Khánh Thành Nữ Đầu Sư Đường ngày 15-08 năm Tân-Mão (1951) vào lúc 8g sáng.

Đức Hộ-Pháp có lời Phủ-dụ:

Hồi tưởng lại hai mươi mấy năm trước khi Đức Chí Tôn đến cùng chúng ta, cầm cây Linh bút của Ngài tạo nền Chơn giáo. Ông đến với một thân già nghèo của Ông, chính mình Ông khai rằng: Ông là một Ông già nghèo Ổng nói "Tròi trọi mình không mới thiệt bần”. Ông

đến cho ta một danh thể là lập Hội-Thánh cho con cái của Ổng, nhưng Ông còn cỡi được con Bạch hạc ở trên mây trắng, còn Thánh-Thể của Ông ở ngoài mưa nắng cũng không được nữa, nó khó lắm đó vậy. Tình trạng rất khó khăn, Ổng đến với một thân nghèo để tạo dựng Thánh Thể cho con cái Ổng. Mà ôi thôi! Đám Thánh-Thể của Ổng nó cũng nghèo nữa, nhưng mà cái nghèo đó chúng ta có một năng lực cao thượng vô giá không thể tưởng tượng được. Có lẽ cả thảy đều ngó thấy buổi phôi thai, là khi Đền Thánh mới tạo, con cái của Ngài phải chịu biết bao nhiêu khổ hạnh, ăn thì bữa đói bữa no đặng tạo dựng Đền Thánh, đến bây giờ thành tướng làm cho Vạn quốc ngó thấy, trông vào đều khen ngợi, đó là khối muối của sắp nhỏ trở nên hình đó, do sự nhẫn-nại, nhọc nhằn của sắp nhỏ mà nên đại nghiệp ngày nay đó vậy. May thay! Đám con chí hiếu của Ngài trước sao sau vậy, liều mảnh thân phàm nầy làm con tế vật cho Đạo. Cả thảy Hội-Thánh tưởng lại coi tạo dựng một dinh thự Nữ-Đầu-Sư-Đường như vậy chỉ có 250.000$ (hai trăm năm chục ngàn đồng bạc chẵn) có tay thợ nào dám làm không? Tôi dám chắc không dám. Bởi vì giọt mồ hôi, nước mắt của sắp nhỏ nó đổ vô trong này bằng ba lần như vậy, đó chỉ có nhờ thiên hạ cho mớ vật liệu hòa với giọt mồ hôi đám sắp nhỏ mà nên hình tượng đó vậy. Các Con, các Em để ý coi Ông già đó, Ổng không chịu thiếu nợ ai hết, công nghiệp của mấy Em, Ông trả nơi thế nầy không đặng thì về cửa Thiêng Liêng Hằng Sống Ổng cũng trả cho được Ổng mới nghe. Các con đã ngó thấy, những đứa con hiếu hạnh của Ông giờ phút nầy có biết định phận của nó thế nào đối với Thánh Thể. Mấy đứa trong Quân Đội bây giờ là ai? Là đám công thợ buổi trước tạo dựng nghiệp Đạo rồi nó còn hy sinh xương máu bảo vệ đại nghiệp cho con cái của Ngài nữa, đương đầu với những trở lực oai quyền, hiện giờ nó nuôi lại Em nó, chia từ miếng cơm manh áo cho mặc. Cả đại nghiệp nầy là nhờ đám con chí hiếu của Ngài tạo dựng nên, chớ Tôi không làm gì được hết, chỉ có là đốc thúc vô cho chúng nó làm, chớ thân nầy ôm viên gạch cũng không nỗi. Bần-Đạo chỉ mong có một điều là toàn thể con cái của Ngài Nam Nữ mỗi ngày đều tưởng tượng đến công khó nhọc Anh Em nó, khó nhọc của đồng bào toàn thể nước nhà, nòi giống đã tạo dựng nên nghiệp ấy, lấy cả sự nghiệp nầy làm môi giới, giữ đạo đức làm bùa hằng tâm, thương yêu với nhau, giữ nghĩa với nhau cho đến bảy trăm ngàn năm (Thất ức niên) theo lời của Đức Chí-Tôn đã định, dầu Bần-Đạo còn ở đây hay về cõi Hư Linh. Cung ấy an lạc đi nữa, cũng nhớ đến đại nghiệp con cái của Ngài và Bần-Đạo dám đại ngôn với Ngài rằng: Con cái của Ngài giữ tâm chí hiếu với Ngài và đối với Phật Mẫu cũng vậy”.

Bấy giờ dài theo trục đại-lộ lần lượt có các dinh thự như: Giáo Tông đường, Hộ-Pháp đường, Tòa nhà Hiệp thiên Đài, Báo-Ân-Từ, Nhà Hội Vạn Linh cùng nằm một phía đối diện, tức là tất cả nằm về hướng Tây ngó mặt về Đông. Còn Đền Thánh là nằm bên hướng Đông ngó mặt về chánh Tây, cung Đoài. Tất cả đều hợp theo lý Dịch.

Xem như về phương hướng, kích thước, kiểu vở đều do Đức Hộ-Pháp học hỏi nơi Thiêng liêng và chính Ngài làm Đốc công, chứ không một Kiến trúc sư nào đảm trách hay vẽ họa đồ cả. Điều đặc biệt là với Đền Thánh thì kiến thiết xong mới vẽ họa đồ sau. Người vẽ họa đồ là Đức Lý Thái Bạch Kim-Tinh (Giáo Tông vô vi) điều hành mọi việc.




  1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương