A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang30/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   26   27   28   29   30   31   32   33   ...   47

10. Luật bảo vệ quyền riêng tư


Sự cần thiêt ban hành

1.1. Cơ sở pháp lý

Tại Chỉ thị số 27/CT-TƯ ngày 16 tháng 10 năm 2008 về lãnh đạo thực hiện cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã yêu cầu “chú ý bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật, nhất là bảo mật thông tin cá nhân…”.

Như vậy, cùng với tiến trình hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã ngày càng quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ quyền riêng tư của công dân.

 Xem xét một cách có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có thể thấy các nội dung điều chỉnh vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân đã được quy định ngày càng rõ hơn từ Hiến pháp, các đạo luật đến các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể như sau:

- Điều 73 Hiến pháp năm 1992 quy định: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật. Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.

- Bộ Luật dân sự được Quốc hội thông qua tháng 6 năm 2005 đã đưa ra một số quy định nguyên tắc về bảo vệ thông tin cá nhân tại Điều 31 “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh”. Theo Điều 31, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý và nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Điều 38 Bộ luật dân sự 2005 quy định:



1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Như vậy, Bộ luật dân sự 2005 đã xác định những nguyên tắc cơ bản trong việc bảo vệ bí mật đời tư của cá nhân, tuy nhiên lại không đưa ra khái niệm “bí mật đời tư”. Đây chính là một trong những khó khăn khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến “bí mật đời tư”. 

- Luật giao dịch điện tử được Quốc hội thông qua tháng 11 năm 2005 đã dành một điều (Điều 46) để quy định chung về bảo mật thông tin trong giao dịch điện tử. Điều 46 Luật giao dịch điện tử quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

- Luật công nghệ thông tin đã có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn về trách nhiệm đối với việc thu thập, xử lý, sử dụng, lưu trữ thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng tại các Điều 21 và Điều 22. Điều 72 quy định các vấn đề liên quan đến việc bảo đảm bí mật đối với thông tin riêng hợp pháp của tổ chức, cá nhân trao đổi, truyền đưa, lưu trữ trên môi trường mạng. Tuy nhiên, các quy định này vẫn chưa đầy đủ và chưa tập trung vào vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và không quy định rõ quyền của chủ thể thông tin cá nhân.

- Khoản 4 Điều 10 Luật báo chí cũng có quy định “Không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân”. Tuy nhiên quy định này quá chung chung, không có chế tài cụ thể nên gây khó khăn cho việc xử lý hành vi vi phạm quyền riêng tư của công dân.

- Ngày 10 tháng 4 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2007/NĐ-CP quy định hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Nghị định này đã đưa ra hình thức phạt, mức phạt đối với một số hành vi vi phạm các quy định về thu thập, xử lý, sử dụng, lưu trữ, trao đổi, bảo vệ thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng.

- Ngày 21 tháng 7 năm 2008, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 09/2008/TT-BCT hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử. Bên cạnh các quy định điều chỉnh việc giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử, Thông tư 09/2008/TT-BCT cũng đưa ra một số quy định chung về những thông tin cần được cung cấp nhằm bảo vệ lợi ích tối thiểu cho khách hàng, trong đó có các yêu cầu mà chủ sở hữu website thương mại điện tử phải tuân thủ khi thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của khách hàng.

Với những ví dụ nêu trên, có thể thấy rõ rằng trong hệ thống pháp luật của chúng ta đã dần hình thành hành lang pháp lý cho việc bảo vệ quyền riêng tư của công dân. Tuy nhiên, do các văn bản quy phạm pháp luật còn dừng ở mức độ nguyên tắc, các quy định còn tản mạn, thiếu thống nhất, không mang tính toàn diện, tổng thể, không giải quyết một cách thấu đáo, triệt để, hệ thống và khoa học các vấn đề pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền riêng tư của công dân, từ khái niệm, phạm vi, hành vi, chế tài cụ thể nên còn rất nhiều bất cập trong thực tiễn chưa xử lý được.

1.2. Cơ sở thực tiễn

Cùng với việc nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu và sự phát triển vô cùng nhanh chóng của công nghệ, nhiều loại hình tội phạm mới ra đời, trong đó đáng chú ý là các tội phạm có sử dụng công nghệ cao. Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của loại hình tội phạm này đã dẫn đến nhiều vụ xâm phạm quyền riêng tư cá nhân nhưng chúng ta chưa đủ căn cứ pháp luật để xử lý.

Hiện nay, có tình trạng thông tin, hình ảnh cá nhân bị khai thác, sử dụng tràn lan nhưng không được sự cho phép của chủ nhân, dẫn đến những thiệt hại vật chất, tinh thần của công dân nhưng chưa có đủ cơ sở pháp lý để bảo vệ.

Việt Nam là thành viên của các công ước quốc tế về quyền con người, việc xây dựng một đạo luật về bảo vệ quyền riêng tư là đòi hỏi cấp bách và thiết thực để thực thi đầy đủ, trọn vẹn cam kết tại các công ước đó.



Kinh nghiệm thế giới về pháp luật bảo vệ quyền riêng tư

Quyền được bảo vệ đời tư (right to privacy) trước hết được đề cập trong Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR): "Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy."

Quyền được bảo vệ đời tư được tái khẳng định trong Điều 17 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), trong đó nêu rằng: Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy.

Điều 17 nhằm ngăn chặn những hành vi xâm phạm tùy tiện và bất hợp pháp vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự, uy tín của mọi người mà có thể do các quan chức nhà nước hay do các thể nhân và pháp nhân khác gây ra (đoạn 1). Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ ngăn chặn cả các quan chức nhà nước và các thể nhân hay pháp nhân khác có những hành động xâm phạm tùy tiện và bất hợp pháp như vậy (đoạn 9).

Những can thiệp hợp pháp vào đời tư phải được quy định trong pháp luật, và phải phù hợp với các quy định khác của ICCPR (đoạn 3).

Bình luận chung số 16 thông qua tại phiên họp lần thứ 31 năm 1988 của Ủy ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc có làm rõ một số khía cạnh của Quyền này.

Vì sự an toàn của tất cả mọi người trong xã hội, quyền về sự riêng tư không phải là quyền tuyệt đối. Tuy nhiên, các quốc gia chỉ nên thu thập thông tin về đời tư nếu như những thông tin đó là thiết yếu để bảo đảm lợi ích chung của xã hội như được thừa nhận trong ICCPR.

Theo quy định ở Điều 17, tính toàn vẹn và bảo mật của thư tín phải được bảo đảm cả về mặt pháp lý và thực tế. Thư từ phải được giao tận tay người nhận mà không bị chặn lại, mở ra hay nói cách khác là xem trước. Việc theo dõi, bất kể bằng biện pháp điện tử hay các biện pháp khác, ví dụ như nghe trộm điện thoại, điện tín...đều bị nghiêm cấm. Việc lục soát nhà cửa phải bị giới hạn chỉ được sử dụng trong trường hợp để tìm chứng cứ cần thiết và không được phép gây phiền nhiễu cho chủ nhà.

Việc khám xét thân thể phải theo cách thức phù hợp để bảo đảm nhân phẩm của người bị khám xét; người khám xét phải cùng giới tính với người bị khám xét (đoạn 8).

Theo đoạn 10, việc thu thập và lưu giữ các thông tin cá nhân trong máy tính, các ngân hàng dữ liệu và các thiết bị khác, cho dù là bởi các quan chức nhà nước hay các thể nhân, pháp nhân khác, đều phải được quy định trong pháp luật. Nhà nước phải có những biện pháp hiệu quả để bảo đảm rằng những thông tin cá nhân đó không rơi vào tay những người không được pháp luật cho phép và không bị sử dụng vào các mục đích trái với Công ước. Để bảo đảm bảo vệ đời tư một cách hiệu quả, mỗi cá nhân cần có quyền được biết liệu thông tin cá nhân của mình có bị thu thập, lưu giữ bởi chủ thể nào không và nếu có, thì ở đâu, nhằm mục đích gì, chủ thể quản lý thông tin cá nhân của mình là ai? Thêm vào đó, mỗi cá nhân cũng cần có quyền yêu cầu sửa chữa hoặc xóa bỏ thông tin cá nhân của mình nếu thông tin đang được lưu trữ không chính xác, hoặc bị thu thập hay lưu trữ một cách trái pháp luật.

Một số học giả Mỹ cho rằng, sự riêng tư, theo nghĩa hiện đại, liên quan rất nhiều tới tính cá nhân, và nó là quyền của mỗi người, không phải của một nhóm người hay của xã hội. Nhà khoa học nghiên cứu về chính trị Rhoda Howard đã viết "Nếu không có sự riêng tư, một người không thể phát triển ý thức rằng tính cá nhân của con người là một giá trị thực chất mô tả vai trò xã hội của anh/cô ta". Điều ngược lại cũng đúng: Nếu không có ý thức về tính cá nhân, thì sẽ không thể có nhận thức về nhu cầu cần sự riêng tư.

Quyền riêng tư, cũng như hầu hết các quyền khác, liên quan trực tiếp tới sự dân chủ. Loài người có nhu cầu về việc nói chuyện, giao tiếp với những người khác, đồng thời có nhu cầu về thời gian và không gian cho riêng mình. Sự riêng tư không phải là sự tách biệt hay ly khai, mà nó là mong muốn tự thân của mỗi người được ở một mình hoặc với vài người khác. Ví dụ, việc bị giam một mình trong nhà tù không phải là sự riêng tư, nhưng đi dạo một mình hay cũng một người bạn trên các dãy núi phản ánh chính xác ý nghĩa của từ này. Ở một mình, chúng ta có thể nghĩ qua các ý tưởng mà không chịu áp lực của Chính phủ hay thị trường.

Mặc dù quyền riêng tư không được nhắc đến cụ thể trong Hiến pháp Mỹ, nhưng rõ ràng là thế hệ tạo lập nên Hiến pháp biết và đánh giá đúng khái niệm này. Ví dụ, vài năm trước khi cuộc Cách mạng Mỹ xảy ra, bang Massachu-setts đã thực hiện một luật thuế tiêu thụ gia đình yêu cầu mọi chủ nhà phải thông báo cho nhân viên thu thuế biết năm trước có bao nhiêu rượu rum được tiêu thụ trong nhà họ. Người dân lập tức phản đối với lập luận rằng ngôi nhà của một người là pháo đài của anh ta, và những gì anh ta làm trong đó không phải là việc của Chính phủ.

Như vậy, luật pháp quốc tế rất quan tâm và chú trọng tới việc bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân, coi đó là một yếu tố cơ bản của quyền con người cần được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.



Quan điểm chỉ đạo việc xây dựng Luật

Việc xây dựng dự án Luật được tiến hành dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:

1. Bảo đảm sự phù hợp với các chủ trương, đường lối của Đảng về quyền bảo vệ thông tin cá nhân của công dân;

2. Bảo đảm tính hợp hiến và tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; kế thừa những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm, hoàn thiện một bước pháp luật về quyền bảo vệ bí mật đời tư phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay và những năm tiếp theo;

3. Tiếp thu có chọn lọc các nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc về quyền bảo vệ bí mật đời tư, tham khảo kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về bảo vệ bí mật đời tư.

4. Xác lập những quy định cơ bản bảo đảm quyền bảo vệ bí mật đời tư của công dân, còn những vấn đề cụ thể, những vấn đề chưa có tính ổn định cao, đang trong quá trình chuyển đổi thì giao Chính phủ quy định nhằm bảo đảm sự linh hoạt, bảo đảm phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và dân trí.



Phạm vi điều chỉnh

1. Xác định khái niệm “bí mật đời tư”

Để xác định phạm vi điều chỉnh của đạo luật này, vấn đề cơ bản phải giải quyết là xác định khái niệm “bí mật đời tư” để phân định rõ và tránh chồng lấn với phạm vi điều chỉnh của một số văn bản khác đã ban hành hoặc đang được đề xuất ban hành như bí mật nhà nước (Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước); những thông tin được tiếp cận (dự án Luật tiếp cận thông tin).

Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến khái niệm bí mật đời tư. Trước khi đưa ra quan điểm trong việc xác định thế nào là bí mật đời tư, chúng tôi xin dẫn chứng một số quan điểm xung quanh vấn đề này.

- Quan điểm thứ nhất: Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt thì bí mật được giải thích là “giữ kín, không để lộ ra, không công khai”2.

- Quan điểm thứ hai: Bí mật “là thông tin cần che giấu, chỉ để một số nhất định những người có liên quan được biết”. Những thông tin được xác định là bí mật chỉ mang ý nghĩa tương đối. Dưới góc độ này hay đối với một bên thì nó có thể cần phải che đậy, giữ kín, nhưng dưới góc độ khác, đối với bên khác nó có thể không cần che giấu. Tính bí mật có được do những gì chứa đựng trong thông tin đó có liên quan đến một điều gì đó mà nếu để người không có nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu.

Như vậy, theo sự giải thích này thì bí mật được xác định bởi các yếu tố sau:

- Bí mật là những “thông tin”;

- Những “thông tin” này được che giấu bằng những biện pháp, cách thức khác nhau;

- Những “thông tin” được coi là bí mật này nếu để người không có nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu thông tin.

- Quan điểm thứ ba: Ngoài những thông tin liên quan đến cá nhân, theo Bộ luật dân sự 2005 thì còn có những tư liệu. Quan điểm này cho rằng, nếu xét trên phương diện ngôn ngữ thì thông tin và tư liệu là hai thuật ngữ hoàn toàn khác nhau4. Tuy nhiên nếu đặt trong mối liên hệ đối với quyền bí mật đời tư, thì thông tin có thể được hiểu bao hàm cả yếu tố tư liệu.

- Quan điểm thứ tư: Một số người làm công tác pháp luật thì lại cho rằng: “bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản. Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết.”. Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai.“Bí mật đời tư”có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó. Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín, v.v…”5

Như vậy, quan điểm này cũng chỉ ra rằng bí mật đời tư là những thông tin gắn liền với cá nhân, chỉ có thể mình họ hoặc một số người hạn chế biết được. Tuy nhiên, nếu hiểu như vậy thì cũng chưa bao quát được nội hàm của khái niệm bí mật đời tư, bởi lẽ nếu hiểu bí mật đời tư là những thông tin “chưa từng công bố cho bất kỳ ai” thì cũng không đúng. Có trường hợp thông tin này đã được công bố nhưng bản thân người tiếp nhận thông tin phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin thì thông tin đó vẫn được coi là “bí mật đời tư”.

- Quan điểm thứ năm: cho rằng, bí mật đời tư của cá nhân được hiểu trên hai phương diện:



1. Bí mật về đời sống tình cảm,tinh thần: Bí mật về đời sống tình cảm của cá nhân thể hiện tính chất đặc biệt riêng tư của cá nhân đó. Điều luật cấm công khai cho mọi người biết các mối quan hệ thực tại hoặc mang tính chất hình tượng mà cá nhân đó vốn có.

2. Bí mật về đời sống nghề nghiệp, vật chất của cá nhân thể hiện là những bí mật về hoạt động nghề nghiệp; tình trạng vật chất gắn liền với hoạt động đó.”

Như vậy, khái niệm bí mật đời tư được bao quát trên các phương diện: “tình cảm, tinh thần” và “nghề nghiệp, vật chất”. Tuy nhiên, theo cách diễn giải này thì cũng không có một giới hạn cụ thể cho khái niệm bí mật đời tư, điều đó có nghĩa là khái niệm bí mật đời tư có thể được khái quát theo hướng liệt kê mà không được khái quát theo hướng bao quát. Nếu đưa ra khái niệm bí mật đời tư theo hướng liệt kê thì có những trường hợp việc liệt kê sẽ không đầy đủ.

Như vậy, qua những phân tích trên đây, theo chúng tôi thì để có thể hiểu được “Quyền bí mật đời tư” thì phải xây dựng được khái niệm “bí mật đời tư”. Việc xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”.

Khái niệm “bí mật” được hiểu “giữ kín, không để lộ ra, không công khai”. Như vậy, việc giữ kín, không công khai xét trong nội dung chúng tôi đang nghiên cứu liên quan đến các thông tin và đó là những thông tin không bộc lộ công khai. Tất nhiên, những thông tin này chỉ có người nắm giữ bí mật hoặc người liên quan bí mật này được biết đến. Tính “bí mật” này có thể được xác định theo các tiêu chí cụ thể như:

- Bản thân thông tin đó đã mang tính bí mật. Việc xác định thông tin mang tính bí mật có thể dựa vào bản chất của thông tin, có thể xác định theo qui định của pháp luật (thư tín, điện thoại, tình trạng bệnh tật… – những thông tin này đã có văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành xác định rõ đó là bí mật mà không được tiết lộ hoặc xâm phạm).

- Người nắm giữ thông tin có thể đã áp dụng mọi biện pháp để bảo mật như khoá, cài đặt mã số bảo vệ, hoặc áp dụng mọi biến pháp bảo vệ khác.

- Giữa “chủ sở hữu thông tin bí mật” với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đã có sự thoả thuận về nghĩa vụ giữ bí mật. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không coi là “bí mật” nếu những thông tin đó xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (ví dụ: thông tin liên quan đến hành vi phạm tội, chuẩn bị phạm tội). Trong trường hợp này việc tiết lộ thông tin sẽ không bị coi là “xâm phạm bí mật đời tư”.

Đối với khái niệm “đời tư”, chúng ta cũng đặt khái niệm này trong mối liên quan, xuất phát từ các “thông tin”. Có nhiều ý kiến cho rằng “Tư – có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng”7. Như vậy, có thể hiểu những thông tin liên quan đến đời tư là những thông tin liên quan đến một cá nhân cụ thể, đó là những gì thầm kín của cá nhân mà họ giữ bí mật. Đó có thể là các thông tin liên quan đến các yếu tố như tinh thần, vật chất, các quan hệ xã hội.

Qua phân tích các yếu tố liên quan đến bí mật đời tư, để có thể tiếp cận đến khái niệm “quyền bí mật đời tư”, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm về bí mật đời tư như sau:

Bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu (gọi chung là thông tin) về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận.

Những bí mật này có thể liên quan đến các lĩnh vực cụ thể như:

- Quan hệ hôn nhân, gia đình, tài sản, con cái của công dân;

- Thông tin và hình ảnh cá nhân;

- Thông tin y tế cá nhân;

- Riêng tư tại nhà riêng;

- Riêng tư trong giao tiếp;

- Riêng tư trên internet;

- Riêng tư về tài chính, kinh doanh…

Một trong những nguyên tắc hiến định là quyền của công dân không tác rời nghĩa vụ của công dân. Xét trên bình diện pháp luật bảo vệ quyền riêng tư của công dân thì chúng ta phải luôn luôn xác định rằng, quyền riêng tư của cá nhân đó phải đặt trong giới hạn để không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác. Điều đó có nghĩa rằng để thoả mãn quyền nhân thân nói chung, quyền bí mật đời tư của cá nhân nói riêng thì quyền này phải được xem xét trong mối tương quan lợi ích giữa cá nhân với cộng đồng. Sở dĩ như vậy, theo chúng tôi có rất nhiều tình huống, trường hợp về hành vi thì đó là sự xâm phạm bí mật đời tư, nhưng đặt trong mối tương quan với lợi ích công cộng thì hành vi đó lại là hành vi dễ dàng được chấp nhận và dĩ nhiên, điều đó sẽ không bị coi là trái pháp luật, không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư. Điều này cũng có thể hiểu không chỉ áp dụng đối với trường hợp vì lý do an ninh, quốc phòng…mà thư tín, điện tín, điện thoại của cá nhân có thể bị xâm phạm mà trong một số trường hợp còn có thể chịu ảnh hưởng của bởi chính các qui định của pháp luật có liên quan như qui định về tự do ngôn luận, tự do báo chí…

Bên cạnh đó, hiện nay đang có nhiều kiến nghị xây dựng các dự án luật liên quan đến quyền tiếp cận thông tin và những thông tin không được tiếp cận. Chúng tôi nhận thấy, kinh nghiệm nhiều nước có Luật tiếp cận thông tin đều không điều chỉnh việc cung cấp các loại thông tin về bí mật kinh doanh, bí mật đời tư hay những vấn đề thuộc phạm vi bí mật nhà nước. Việc tiếp cận các thông tin này phải do các văn bản pháp luật riêng biệt điều chỉnh như Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật bảo vệ bí mật nhà nước.... Chính vì vậy càng thấy rõ sự cần thiết phải có Luật về bảo vệ quyền riêng tư để điều chỉnh những nội dung mà các đạo luật khác về bí mật nhà nước, về tiếp cận thông tin không điều chỉnh.

Những nội dung cơ bản cần điều chỉnh của dự án Luật

Nội dung của Luật cần tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, xây dựng cơ sở pháp lý thống nhất bảo đảm quyền bảo vệ bí mật riêng tư trên cơ sở pháp điển hoá các quy định hiện hành về quyền bảo vệ bí mật riêng tư của tổ chức, cá nhân.

Thứ hai, quy định các biện pháp bảo đảm quyền bảo vệ bí mật riêng tư, cơ chế kiểm tra, giám sát của nhà nước và xã hội đối với công tác bảo đảm quyền bảo vệ bí mật riêng tư.

Việc ban hành Luật bảo vệ bí mật riêng tư sẽ đem lại những lợi ích nhiều mặt đối với công dân, tổ chức và Nhà nước.

Phân định phạm vi điều chỉnh của dự án Luật bảo vệ quyền riêng tư và một số đạo luật khác có liên quan

Để xác định phạm vi điều chỉnh của Luật bảo vệ quyền riêng tư, cũng cần phân định với những gì thuộc về bí mật nhà nước. Liên quan mật thiết đến văn hóa giữ bí mật là pháp luật về bí mật nhà nước. Mọi quốc gia đều có những thông tin nhạy cảm cao có liên quan đến an ninh và quan hệ đối ngoại của quốc gia mà cần phải được bảo vệ trong một thời hạn nhất định. Chính vì vậy, hiện nay hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều có các đạo luật hay quy định chính thức về việc bảo vệ những thông tin này. Bên cạnh các văn bản pháp luật hoặc quy định riêng, tất cả các luật tiếp cận thông tin của các quốc gia hiện đều đề cập đến những trường hợp ngoại lệ về an ninh quốc gia một cách trực tiếp trong luật đó hoặc dẫn chiếu đến một đạo luật khác, cụ thể như Luật về bảo vệ thông tin mật; Luật Bí mật công vụ; Bộ luật Hình sự; các đạo luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan quốc phòng, tình báo, an ninh...

Trong mối quan hệ với dự án Luật tiếp cận thông tin, chúng ta có thể thấy rằng, trong những thập kỷ gần đây, ở một số quốc gia, Chính phủ và các chủ thể khác thu thập ngày càng nhiều thông tin cá nhân cho các hoạt động quản lý và kinh doanh. Trong nhiều trường hợp, việc này đã gián tiếp làm tăng xung đột giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền được bảo vệ sự riêng tư. Do quyền tiếp cận thông tin và quyền được bảo vệ đời tư đều là các quyền con người, nhiệm vụ đặt ra với các Chính phủ là phải bảo vệ được cả hai quyền này bằng cách cân bằng những yêu cầu có liên quan. Để làm được điều đó, tất cả luật tiếp cận thông tin của các quốc gia đều quy định những trường hợp ngoại lệ không công khai thông tin cá nhân.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, quyền được tiếp cận thông tin và quyền đuợc bảo vệ bí mật riêng tư là hai mặt của một vấn đề. Không thể có chế định pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin mà không có những ràng buộc về mặt luật pháp để các cơ quan, tổ chức, cá nhân khi tiếp cận thông tin được phép thì không xâm hại đến quyền được bảo vệ bí mật riêng tư của chủ thể có thông tin.

Xuất phát từ quy định tại Điều 73 của Hiến pháp, các quy định pháp luật có liên quan đến quyền bảo vệ bí mật riêng tư của công dân, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong đời sống xã hội, chúng tôi cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần pháp điển hóa các quy định liên quan đến quyền riêng tư của công dân hiện còn tản mạn, chồng chéo ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau vào một đạo luật của Quốc hội, một mặt thể chế hóa nguyên tắc hiến định, mặt khác là thực hiện đầy đủ và có hiệu quả những cam kết của Việc Nam khi tham gia các Công ước về quyền con người.


1   ...   26   27   28   29   30   31   32   33   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương