A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang47/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   39   40   41   42   43   44   45   46   47

35. Luật phòng, chống tội phạm có tổ chức


Sự cần thiết ban hành

Thứ nhất, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, đặt ra nhiều vấn đề thách thức cần giải quyết. Một trong những thách thức đó là vấn đề tội phạm có tổ chức và phòng, chống tội loại tội phạm này. Sở dĩ coi đây là một thách thức, vì tội phạm có tổ chức không chỉ ảnh hưởng đến một quốc gia, hậu quả của nó tác động đến tất cả các quốc gia, các thể chế chính trị. Xuất phát từ đặc điểm riêng của loại tội phạm này, để phòng, chống có hiệu quả Liên Hợp quốc đã có riêng một Công ước về đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này (Công ước của Liên hợp quốc về đấu tranh chống TPCTC xuyên quốc gia thông qua ngày 15 tháng 12 năm 2000), hiện đã có 157 quốc gia phê chuẩn Công ước này, nhiều nước cũng đã có Luật riêng về phòng, chống loại tội phạm này. Đối với Việt Nam Chính phủ cũng đã ký tham gia Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và hiện đang đề xuất Chủ tịch nước phê chuẩn để Công ước chính thức có hiệu lực.

Thứ hai, ở Việt Nam, trong những năm qua, tình hình tội phạm nói chung, tội phạm có tổ chức nói riêng diễn biến rất phức tạp, một số loại tội phạm có tổ chức liên quan đến tội phạm môi trường, buôn bán người, rửa tiền, tội phạm lợi dụng công nghệ cao…,đáng chú ý nhiều vụ có nhiều đối tượng tham gia, hoạt động có tổ chức, hoạt động phạm tội xuyên quốc gia, với những phương thức, thủ đoạn mới, xu hướng liên kết của các băng, nhóm tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội với xâm phạm ANQG, tội phạm xen kẽ giữa hình sự, kinh tế, ma tuý liên kết hình thành tội phạm có tổ chức theo kiểu “xã hội đen” ngày một gia tăng….

Thứ ba, Bộ luật hình sự hiện hành mới chỉ đề cập đến khái niệm đồng phạm và phạm tội có chức, chưa đề cập đến tội phạm có tổ chức, chưa có khái niệm tội phạm có tổ chức tiêu chí, đặc trưng các loại hình của tội phạm có tổ chức, nguyên tắc xử lý, về khung hình phạt cho từng loại tội phạm có tổ chức... do đó chưa có cơ sở pháp lý trong đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với loại tội phạm này. Mặt khác, một trong những nguyên tắc của Bộ luật hình sự là cá thể hoá trách nhiệm đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Trong Bộ luật hình sự hiện hành chỉ có Điều 79 - Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân có quy định về hành vi hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, trong khi đó thực tế để xử lý triệt để tội phạm có tổ chức thì không những chỉ xử lý người trực tiếp hành vi phạm tội mà cần phải xử lý được những kẻ chủ mưu, cầm đầu giấu mặt của tổ chức tội phạm, cần thiết phải có cơ chế đặc thù riêng để điều tra, xử lý cũng như cách thức thu thập chứng cứ, bảo vệ nhân chứng khi tiến hành điều tra đối với loại tội phạm này (việc áp dụng các quy định điều tra theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự thông thường không hiệu quả) nhất là trong các tổ chức tội phạm theo kiểu “xã hội đen” thì mới có thể triệt phá được tận gốc của tội phạm có tổ chức.

Thứ tư, thực hiện chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mọi hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân đều triệt để tuân thủ nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, từng bước luật hóa các quan hệ xã hội. Vai trò lãnh đạo chỉ đạo của các cấp uỷ đảng là rất quan trọng trong phòng, chống tội phạm có tổ chức nhất là trong đấu tranh triệt phá các băng nhóm tội phạm có tổ chức. Trong xu hướng chung đó, công tác phòng, chống tội phạm có tổ chức phải đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng nhưng có tính riêng biệt để giải quyết đối với loại tội phạm có tính đặc thù bằng văn bản pháp luật có tính hiệu lực cao nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc phòng, chống tội phạm có tổ chức, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Luật phòng, chống tội phạm có tổ chức quy định về tổ chức, hoạt động, biện pháp phòng, chống tội phạm có tổ chức và quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Luật này được áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

- Bám sát quan điểm của Đảng, Nhà nước đã được Hiến pháp quy định về phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật nhằm giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.

- Tiếp thu và kế thừa những kinh nghiệm, truyền thống về công tác phòng, chống tội phạm trong thời gian qua, bổ sung các vấn đề cần thiết nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công tác này trong thời gian tới. Tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

- Quy định đầy đủ những vấn đề liên quan đến phòng, chống tội phạm có tổ chức; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hoạt động của lực lượng thực thi pháp luật và những vấn đề có liên quan tạo cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và tương xứng cho việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm có tổ chức và xây dựng lực lượng chuyên trách đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức.



Nội dung chính

Dự kiến nội dung Luật phòng, chống tội phạm có tổ chức gồm 8 chương với cơ cấu nội dung như sau: Đấu tranh chống tội phạm có tổ chức; Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm có tổ chức; Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm có tổ chức; Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tổ chức.



Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Bộ Công an là cơ quan chủ trì, có sự phối hợp tham gia của các Bộ, ngành có liên quan: Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam…

Dự án Luật phòng, chống tội phạm có tổ chức được xây dựng bằng nguồn ngân sách do Nhà nước cấp theo quy định hiện hành.

36. Pháp lệnh thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự


Sự cần thiết ban hành

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2010 đã giành Chương IV quy định về các phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, cụ thể là các phương thức: thương lượng, hòa giải, trọng tài, Tòa an. Phương thức giải quyết bằng Tòa án được quy định tại Chương IV Mục 4 của Luật này, trong đó có quy định tại khoản 2 Điều 41 về việc khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự nếu vụ án đơn giản, chứng cử rõ ràng và giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để người tiêu dùng thực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua Tòa án một cách nhanh chóng, hiệu quả, ít tốn kém. Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều) không quy định về thủ tục giải quyết rút gọn. Vì vậy, để giải quyết vướng mắc thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý cho người tiêu dùng, bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật các tranh chấp này thì việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lức pháp lý cao là cần thiết.



Quan điểm xây dựng luật

Pháp lệnh thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự sẽ tuân theo các quan điểm sau:

- Pháp lệnh được xây dựng nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, quan điểm về cải cách tư pháp về tố tụng dân sự đã được xác định trong các nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

- Pháp lệnh phải tạo điều kiện hơn nữa để người dân thuận tiện trong việc tiếp cận công lý: thời gian giải quyết ngắn; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đơn giản; có hiệu quả; tốn kém ít nhất cho đương sự; quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm của người dân sẽ được khôi phục lại một cách nhanh chóng.

- Bảo đảm tính hợp hién, hợp pháp; tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành.

- Pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở tổng kết, kế thừa, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, kinh nghiệm giải quyết các vụ việc dân sự từ thực tiễn xét xử của Tòa án và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.

- Bảo đảm cụ thể hóa và không có sự xung đột giữa các quy định của Pháp lệnh với quy định của các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo văn bản

Cơ quan chủ trì: Tòa án nhân dân tối cao

Kinh phí: do ngân sách nhà nước cấp.


37. Pháp lệnh công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương


Sự cần thiết ban hành

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; trong phần Tăng cường quốc phòng và an ninh trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, đã xác định: “…Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng và an ninh trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng của đất nước theo hướng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với an ninh nhân dân. Đẩy mạnh xây dựng các khu vực tỉnh, thành phố. Tiếp tục phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế với mục tiêu tăng cường quốc phòng, an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và những khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo. Xây dựng công nghiệp quốc phòng trong hệ thống công nghiệp quốc gia dưới sự chỉ đạo, quản lý, điều hành trực tiếp của Chính phủ…”; đồng thời, trong Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc Khóa XI đã định hướng rõ mục tiêu của nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong nhiệm kỳ 2011-2015, là: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế ”.

Sau 10 năm thực hiện Nghị định số 19/CP ngày 12/3/1994 và 6 năm thực hiện Nghị định số 119/2004/NĐ-CP ngày 11/5/2004 về công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương việc thực hiện công tác quốc phòng đã đạt được nhiều kết quả tốt, bước đầu đã có sự chuyển biến tích cực.

Nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ chốt của các bộ, ngành và các địa phương về công tác quốc phòng - an ninh được nâng lên, đặc biệt là đối với các địa phương, công tác giáo dục quốc phòng - an ninh và công tác quốc phòng được triển khai thực hiện có nền nếp và đạt nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn đặt ra. Đặc biệt là sự thay đổi mới nhất cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động của các loại hình doanh nghiệp hiện nay và trong những năm tới. Năm 2009, Bộ Quốc phòng tiến hành tổng kết 5 năm thực hiện chỉ đạo các cấp, các ngành và các địa phương. Hoàn thành tốt việc tổng kết ở 3 cấp: xã, huyện và tỉnh và các cơ quan, tổ chức thuộc cấp tỉnh, cấp huyện; đối với bộ, ngành Trung ương đã tiến hành tổng kết ở đơn vị thành viên và các bộ, ngành; có 8/8 quân khu, BTL Thủ đô Hà Nội đã báo cáo đánh giá kết quả tổng kết của toàn quân khu để tổng hợp báo cáo Bộ Quốc phòng, Chính phủ. Qua tổng kết đã rút ra được những bài học kinh nghiệm, phát hiện những khó khăn, vướng mắc đề xuất chủ trương, biện pháp để tiếp tục chỉ đạo, thực hiện công tác quốc phòng trong những năm tới đạt chất lượng, hiệu quả, thiết thực hơn. Do đó, cần phải xây dựng Pháp lệnh về công tác quốc phòng ở các Bộ, ngành, các địa phương để để điều chỉnh, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về công tác quốc phòng cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong giai đoạn cách mạng mới.

Trong những năm vừa qua Đảng, Nhà nước và các bộ, ban, ngành Trung ương đã ban hành nhiều văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉ thị liên quan đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh nhưng chưa có văn bản quy định tổng thể để điều chỉnh những vấn đề cơ bản về cơ chế, nhiệm vụ, biện pháp, chính sách cụ thể để chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ban Đảng ở Trung ương, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Kiểm toán Nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Toà án nhân dân Tối cao, cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và các địa phương. Do đó, việc xây dựng Pháp lệnh về công tác quốc phòng ở các bộ, ban, ngành và các địa phương là hết sức cần thiết; nhằm cụ thể hóa việc tăng cường lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước và tổ chức thực hiện đi vào nền nếp và đạt được chất lượng, hiệu quả thiết thực.

Một số bất cập trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị định số 119/2004/NĐ-CP ngày 11/5/2004 về công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương:

Nghị định chưa đủ tính pháp lý và chưa điều chỉnh hết đối với các tổ chức, cá nhân trong chỉ đạo thực hiện công tác quốc phòng. Nhất là công tác quốc phòng ở các bộ, ngành TW; của loại hình doanh nghiệp trong các tổ chức, các thành phần kinh tế.

Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng của một số bộ, ngành, địa phương chưa nghiêm túc chế tài áp dụng chưa cao mới dừng lại ở Nghị định của Chính phủ. Mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng về công tác quốc phòng giữa các bộ, ngành Trung ương và các địa phương chưa chặt chẽ và chưa đồng bộ. Bộ Quốc phòng chưa có cơ quan chuyên trách giúp Bộ thống nhất quản lý, bố trí, sử dụng và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đối với sĩ quan quân đội làm công tác quốc phòng ở các bộ, ngành Trung ương.

Trách nhiệm xây dựng nâng cao chất lượng, sức mạnh chiến đấu của lực lượng tự vệ, dự bị động viên ở một số bộ, ngành, cơ quan Nhà nước chưa phân định rõ ràng. Từ đó, việc huy động dân quân tự vệ và dự bị động viên khi xử trí các tình huống xảy ra ở một số nơi còn lúng túng, huy động lực lư­ợng còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả ch­ưa cao; một số nơi sử dụng lực lư­ợng dân quân tự vệ ch­ưa đúng với chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

Chỉ đạo triển khai thực hiện xây dựng khu vực phòng thủ còn chậm, phối hợp của các bộ, ngành, cơ quan Nhà nước chưa tương xứng với mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ đề ra. Xây dựng thế trận lòng dân, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, nhất là cơ sở vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa thật sự vững chắc.

Tổ chức cơ quan và cán bộ làm công tác quốc phòng, quân sự của nhiều bộ, ngành, cơ quan, tổ chức ở Trung ương chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí có cơ quan chưa bố trí cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác quốc phòng; một số bộ, ngành có Vụ Quốc phòng-an ninh, song việc phát huy chức năng làm tham mưu theo dõi, chỉ đạo công tác quốc phòng còn rất hạn chế; hoạt động của một số Ban Chỉ huy quân sự bộ, ngành và cơ quan, tổ chức ở cơ sở chưa đi vào nền nếp hiệu quả thấp.

Trách nhiệm quản lý Nhà nước và chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác quốc phòng ở các bộ, ban, ngành chưa cao. Chất lư­ợng và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra về công tác quốc phòng của một số bộ, ngành, địa phương còn hạn chế. Cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo và trách nhiệm thực hiện công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, nhất là các công ty trách nhiệm hữu hạn với chủ sở hữu khác nhau còn nhiều mặt hạn chế cần sớm được khắc phục.

Kinh phí, ngân sách bảo đảm cho thực hiện công tác quốc phòng, nhất là ở các bộ, ngành Trung ương không đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, nhiều bộ, ngành chưa bố trí kinh phí và chưa xác định rõ được danh mục, nội dung kinh phí cho công tác quốc phòng, quân sự nên việc chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện còn khó khăn, lúng túng; có bộ, ngành chưa thực hiện việc chi trả phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ Ban Chỉ huy quân sự (Nghị định số 119/2004/NĐ-CP có nhiệm vụ chi nhưng chưa có mục chi nên gặp khó khăn trong lập, chấp hành và quyết toán ngân sách).

Xuất phát từ quan điểm, đường lối của Đảng, từ thực tiễn và những vấn đề cần phải điều chỉnh. Việc ban hành Pháp lệnh về công tác quốc phòng ở các Bộ, ngành Trung ương, các địa phương là hết sức cần thiết để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.



Phạm vi điều chỉnh đối tượng áp dụng

Phạm vi điều chỉnh: Pháp lệnh quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ và ngân sách đối với công tác quốc phòng ở các bộ, ngành Trung ương, các Ban của Đảng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn trong phạm vi toàn quốc.

Đối tượng áp dụng: công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam (gọi tắt là công dân Việt Nam); cơ quan, tổ chức của Việt Nam; Tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam liên quan đến công tác quốc phòng.

Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

Bảo đảm lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng đối với công tác quốc phòng ở các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương; giữ vững các định hướng quan điểm của Đảng về tăng cường quốc phòng và an ninh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN đã được xác định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Quan điểm thống nhất, đồng bộ giữa các Luật và Pháp lệnh đã được ban hành, và Luật Quốc phòng năm 2005.

Tranh thủ và tiếp thu ý kiến, phát huy được trách nhiệm của các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương, kết tinh được những ý kiến trí tuệ của các cấp, các bộ, ban, ngành, địa phương để đưa vào Pháp lệnh đạt được sự đồng bộ, thống nhất cao.

Trên cơ sở tổng kết Nghị định số 19/CP ngày 12/3/1994 vào năm 2000 và năm 2009 tổng kết Nghị định số 119/2004/NĐ-CP từ cấp cơ sở đến cấp huyện, cấp tỉnh, bộ, ngành Trung ương rút ra những kết luận đánh giá các ưu, khuyết điểm, rút ra những bài học kinh nghiệm; có nhiều giải pháp kiến nghị, đề xuất, bổ sung xây dựng Pháp lệnh hoàn chỉnh và phù hợp với điều kiện hội nhập, đổi mới của đất nước. Kế thừa các nội dung được triển khai thực hiện tốt của Nghị định số 119/2004/NĐ-CP, điều chỉnh sửa đổi, bổ sung những nội dung không còn phù hợp; tiếp thu, cụ thể hóa nội dung của một số Luật, Pháp lệnh, Nghị định có liên quan đến công tác quốc phòng ở các bộ, ban, ngành, các địa phương đã được ban hành từ năm 2005 đến nay; đồng thời, thông qua thực tiễn của việc thực hiện Nghị định số 119/2004/NĐ-CP của Chính phủ, những vấn đề đã đi vào cuộc sống và có tính khả thi cao cần được nâng lên thành Pháp lệnh để hạn chế các văn bản dưới Luật.

Quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong thực hiện công tác quốc phòng. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng và bảo vệ tiềm lực quốc phòng, đấu tranh quốc phòng, xây dựng công nghiệp quốc phòng; quản lý, bảo vệ các công trình quốc phòng; xây dựng cơ sở vững mạnh về quốc phòng, an ninh góp phần xây dựng lực lượng, thế trận của khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc; thực hiện công tác phòng thủ dân sự trong cả thời bình và thời chiến.

Kết hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng - an ninh. Xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, chú trọng xây dựng lực lượng Bộ đội địa phương, Biên phòng, Công an, Dân quân tự vệ, Dự bị động viên vững mạnh toàn diện; thực hiện công tác động viên, tuyển quân, tuyển sinh quân sự; xây dựng và sẵn sàng động viên nên kinh tế quốc dân cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Nội dung chính

Quy định chung quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; vị trí, nội dung công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, các địa phương; nguyên tắc tổ chức và hoạt động.

Nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, ngành và các địa phương đối với công tác quốc phòng

Tổ chức bộ máy , mối quan hệ của cơ quan, cán bộ công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, các địa phương quy định về tổ chức Ban Chỉ huy quân sự bộ, ngành và Ban Chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở; kiện toàn các vụ, phòng, cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm công tác quốc phòng - an ninh; kiện toàn Cơ quan thường trực công tác quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng; quan hệ giữa Bộ Quốc phòng với các bộ, ngành, địa phương; quan hệ giữa các bộ, ngành với các địa phương; quan hệ giữa Bộ Tư lệnh Quân khu và cơ quan quân sự địa phương với Uỷ ban nhân dân các cấp.

Quản lý nhà nước về công tác quốc phòng ở các bộ, ngành, các địa phương Quy định nội dung quản lý nhà nước về công tác quốc phòng; trách nhiệm của Bộ Quốc phòng; trách nhiệm của các bộ, ngành; trách nhiệm của các địa phương; thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác quốc phòng; sơ kết, tổng kết công tác quốc phòng.

Bảo đảm ngân sách, thực hiện chế độ, chính sách đối với công tác quốc phòng ở các bộ, ngạnh và các địa phương quy định về dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách; Chế độ, chính sách thực hiện công tác quốc phòng



Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Nguồn kinh phí xây dựng do ngân sách nhà nước cấp. Cục Dân quân tự vệ lập dự toán báo cáo để được duyệt chi theo Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hiện hành về những nội dung chi cho công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.



38. Pháp lệnh xử lý hành chính các hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân



1 Tài liệu “Thuật ngữ an toàn của IAEA” (IAEA Safety Glossary), IAEA, Tháng 6/2007.

1   ...   39   40   41   42   43   44   45   46   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương