A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang31/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   27   28   29   30   31   32   33   34   ...   47

11. Luật quản lý ngoại thương


Sự cần thiết ban hành

Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO từ năm 1995, Việt Nam đã liên tục cải thiện chính sách, công cụ pháp luật để thực hiện quản lý ngoại thương phù hợp với điều kiện hội nhập. Sau khi gia nhập WTO, chúng ta vẫn đang nỗ lực hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước về thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế để tận dụng tối đa cơ hội hội nhập đồng thời hạn chế những bất lợi về vị thế và năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, mặc dù hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra vô cùng sôi động và có đóng góp quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước cũng như công tác quản lý nhà nước về ngoại thương đã chặt chẽ hơn, thông suốt hơn, minh bạch hơn, hiệu quả hơn, song thực tiễn cho thấy Việt Nam vẫn chưa có một hệ thống phát luật hoàn chỉnh, tối ưu để điều hành xuất khẩu, nhập khẩu, tận dụng những công cụ được WTO cho phép để tạo dựng các biện pháp tự vệ thương mại và những hàng rào cần thiết để bảo vệ sản xuất trong nước đồng thời khuyến khích hoạt động xuất khẩu một cách có hệ thống. Những hạn chế và bất cập trong hoạt động quản lý ngoại thương xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:



Thứ nhất, hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý ngoại thương chưa bao quát, thiếu tập trung và còn chồng chéo. Các quy định điều chỉnh mối quan hệ giữa thương nhân với thương nhân trong thương mại quốc tế (quan hệ tư) và các quy định điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan nhà nước với thương nhân (quan hệ công) còn tồn tại đồng thời trong cùng một VBQPPL. Ví dụ, Luật thương mại là đạo luật quan trọng về hoạt động ngoại thương lại chủ yếu đề cập đến quan hệ tư trong khi quan hệ công - yếu tố quản lý nhà nước lại được đề cập rất mờ nhạt và chủ yếu chỉ mang tính nguyên tắc. Điều này bắt nguồn từ bối cảnh soạn thảo Luật thương mại, theo đó, tại thời điểm soạn thảo Dự án luật này chúng ta phải chịu sức ép từ việc đàm phán gia nhập WTO nên không có điều kiện để soạn thảo các văn bản riêng điều chỉnh các quan hệ công và quan hệ tư trong hoạt động ngoại thương.

Thứ hai, các VBQPPL về quản lý ngoại thương chưa tập trung, còn tản mát và chủ yếu tồn tại ở hình thức văn bản dưới luật, hiệu lực pháp lý không cao. Nếu coi Luật thương mại và các Nghị định hướng dẫn Luật thương mại là trụ cột trong hệ thống văn bản pháp luật về ngoại thương thì rõ ràng các văn bản pháp luật này chưa thể hiện được vai trò của mình. Lý do là các hoạt động ngoại thương còn được điều chỉnh bởi rất nhiều các văn bản Luật, Pháp lệnh và Nghị định chuyên ngành khác. Ví dụ, đối với hàng hóa là khoáng sản, về nguyên tắc thì Luật thương mại và Nghị định 12/2006/NĐ-CP với tư cách là các văn bản pháp luật chung sẽ điều chỉnh hoạt động xuất, nhập khẩu đối với các sản phẩm này, tuy nhiên, thực tế Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn thi hành mới là các VBQPPL trực tiếp điều chỉnh đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu khoáng sản. Điều này, mặc dù được Luật thương mại thừa nhận (nguyên tắc ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành) nhưng bản thân nguyên tắc này vẫn còn có sự hạn chế khi tạo ra một hệ thống pháp luật và chính sách ngoại thương rất phức tạp. Trong một số trường hợp sự mâu thuẫn trong quy định của Luật thương mại và các Nghị định hướng dẫn thi hành với các văn bản pháp luật chuyên ngành gây ra sự lúng túng trong việc áp dụng, thực thi pháp luật và gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Tính phức tạp của hệ thống pháp luật khi có quá nhiều văn bản dưới luật điều chỉnh hoạt động ngoại thương rõ ràng cũng làm giảm đáng kể tính minh bạch của hệ thống này đồng thời không khuyến khích được các chủ thể tham gia vào hoạt động ngoại thương do tâm lý lo ngại về các rủi ro pháp luật có thể gặp phải. Một hệ thống pháp luật ngoại thương rõ ràng và đơn giản hơn chắc chắn sẽ tạo ra động lực rất lớn cho sự phát triển của các hoạt động ngoại thương và giảm thiểu được các rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp cũng như giảm đi sự tùy tiện áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ ba, liên quan đến các biện pháp phòng vệ thương mại, có thể nói các quy định pháp luật về phòng vệ thương mại trong thời gian qua chưa có cơ hội để áp dụng trong thực tiễn cho nên việc pháp điển hóa các văn bản pháp luật về chống trợ cấp, chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ trong một đạo luật về quản lý hoạt động ngoại thương là cần thiết để nâng cao hiệu lực pháp lý của các công cụ này đồng thời là cơ hội để sửa đổi, bổ sung các quy định chưa phù hợp trong các văn bản nói trên. Đặc biệt sự cần thiết còn được nhấn mạnh trong bối cảnh chúng ta đang có những động thái ban đầu về việc sử dụng các công cụ phòng vệ trong thương mại quốc tế cũng như triển vọng sử dụng các công cụ này trong thời gian tới.

Thứ tư, các quy định pháp luật về biện pháp ưu đãi áp dụng đối với các khu kinh tế, thương mại; khu chế xuất, các khu vực hải quan riêng khác hiện nay được quy định ở nhiều các văn bản khác nhau (thường là những quyết định riêng của Thủ tướng Chính phủ). Bên cạnh đó, quy định chưa thực sự thống nhất về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ở các không gian kinh tế riêng biệt (giữa các khu kinh tế “bình thường” và các khu kinh tế “đặc biệt”; giữa trong các khu kinh tế và “nội địa”) là cơ hội cho các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại phát triển. Luật Quản lý ngoại thương hướng tới trở thành công cụ điều chỉnh một cách thống nhất trên khía cạnh quan hệ xuất nhập khẩu, áp dụng đối với các khu vực đặc biệt này.

Thứ năm, đối với các hoạt động xúc tiến thương mại, có thể nhận định rằng xúc tiến thương mại tuy đã gặt hái nhiều thành công nhưng công cụ chính sách và pháp lý thời gian qua vẫn tập trung vào các hoạt động xúc tiến thương mại trong nước và hoạt động xúc tiến thương mại truyền thống (khuyến mại; hội chợ, triển lãm, trưng bày, giới thiệu hàng hóa; quảng cáo). Luật thương mại chỉ quy định các hoạt động xúc tiến thương mại truyền thống; chưa phân tách được xúc tiến thương mại trong nước và xúc tiến xuất khẩu (có những yếu tố, cơ chế đặc thù); một số công cụ đã có những thành công nhất định (như trung tâm giới thiệu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam ở nước ngoài) vẫn chưa được nhân rộng đồng thời một số công cụ chính sách được áp dụng thành công trên thế giới đã được thử nghiệm tại Việt Nam vẫn chưa được thế chế hóa (bảo hiểm xuất khẩu, xúc tiến xuất khẩu hàng hóa của thương nhân, hiệp hội ngành hàng, xúc tiến xuất khẩu tại chỗ...) gây khó khăn, bó buộc sự sáng tạo, năng động của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Luật quản lý ngoại thương cần có cách tiếp cận mới đối với hoạt động xúc tiến thương mại, theo đó, các công cụ xúc tiến xuất khẩu mới cần được bổ sung và khuyến khích phát triển như quy định về các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu được WTO cho phép; hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề trong hoạt động xuất khẩu; các biện pháp đẩy mạnh, tăng cường hiệu lực pháp lý, hiệu lực thực thi đối với các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, chương trình thương hiệu quốc gia hỗ trợ các hiệp hội ngành hàng nâng cao năng lực hoạt động, quỹ xúc tiến xuất khẩu và các trung tâm xúc tiến xuất khẩu ở nước ngoài. Ngoài ra, cần có quy định tạo ra cơ chế lồng ghép giữa chiến lược xúc tiến xuất khẩu với chiến lược về phát triển thương hiệu quốc gia, chiến lược xúc tiến đầu tư, chiến lược xúc tiến du lịch và hoạt động trao đổi văn hóa, quảng bá hình ảnh Việt Nam trên thế giới. Một vấn đề nữa cần được chú trọng quy định có trực tiếp liên quan đến hoạt động xúc tiến xuất khẩu là hoạt động cung cấp thông tin về thị trường xuất khẩu (thông tin thị trường, pháp luật). Cuối cùng, cần quy định cơ chế phối hợp hiệu quả trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu giữa các hiệp hội ngành hàng với cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương và thống nhất hành động xúc tiến xuất khẩu giữa các địa phương trong cả nước, tránh tình trạng tự phát dẫn đến trùng lặp gây lãng phí trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu giữa các tỉnh, thành khác nhau.

Tóm lại, hệ thống pháp luật hiện hành về hoạt động ngoại thương với các bất cập, mâu thuẫn nội tại của nó rõ ràng là chưa đáp ứng được yêu cầu về quản lý trong bối cảnh mới. Luật Quản lý ngoại thương ra đời sẽ tạo nên giải pháp giải quyết được các vấn đề này như đã phân tích ở trên.

Quyền hạn, nhiệm vụ quản lý, điều hành hoạt động ngoại thương cần được tập trung thống nhất vào một cơ quan có thẩm quyền và quy định rõ cơ chế phối hợp nhanh chóng, hiệu quả giữa cơ quan này với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong việc hoạch định chính sách, quản lý, điều hành và giám sát hoạt động thương mại quốc tế. Như đã phân tích ở trên, hệ thống pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động ngoại thương trao quyền quản lý hoạt động ngoại thương cho các cơ quan khác nhau, tùy thuộc vào lĩnh vực quản lý của cơ quan đó. Bộ Công Thương mặc dù là cơ quan được Chính phủ giao và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhưng thực tế Bộ Công Thương không thể chủ động can thiệp trực tiếp vào chiến lược, biện pháp quản lý xuất khẩu, nhập khẩu đối với các mặt hàng thuộc thẩm quyền quản lý của các Bộ, ngành khác. Vấn đề này có thể dẫn đến nhiều hệ quả như: (1) sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật về quản lý hoạt động ngoại thương do thẩm quyền ban hành văn bản có liên quan đến lĩnh vực ngoại thương được giao cho các cơ quan khác nhau; (2) sự tự phát trong việc hoạch định chiến lược, chính sách và biện pháp quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đối với các ngành hàng không phù hợp với chiến lược, chính sách ngoại thương chung; (3) sự phối hợp kém hiệu quả trong việc sử dụng các biện pháp quản lý ngoại thương (các biện pháp phòng vệ; các biện pháp xúc tiến xuất khẩu, kiềm chế, kiểm soát nhập khẩu; các biện pháp liên quan đến vệ sinh, an toàn, môi trường, sức khỏe cộng đồng); (4) sự không thống nhất trong quy hoạch các ngành sản xuất trong nước và chính sách xuất khẩu, nhập khẩu (5) sự phản ứng chậm chạp trước những diễn biến mới trên thị trường thế giới cũng như những thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế và (6) thiếu thông tin cần thiết cho cơ quan quản lý ngoại thương để thực hiện hoạt động hoạch định chính sách và chiến lược ngoại thương chung trong từng thời kỳ.

Tóm lại, hình thành một cơ chế quản lý ngoại thương mới với một cơ quan quản lý ngoại thương tập trung có thẩm quyền đủ lớn để hoạch định chính sách, pháp luật ngoại thương thống nhất, hiệu quả trên toàn quốc, tránh tình trạng lợi ích cục bộ ngành, địa phương .

Ban hành Luật quản lý ngoại thương là cần thiết trong bối cảnh chính sách thương mại quốc tế của các nước có sự biến động nhất định. Tự do hóa thương mại, mặc dù vẫn là xu thế không thể đảo ngược của các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, chính sách thương mại quốc tế của các nước thời gian vừa qua đang chứng kiến các xu thế có phần trái ngược nhau. Một mặt các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đẩy mạnh việc tự do hóa thương mại thông qua việc ký kết, gia nhập các hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực trong bối cảnh vòng đàm phán Doha trong khuôn khổ WTO đang rơi vào bế tắc. Mặt khác, khủng khoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ cuối năm 2008 đã đặt ra mối lo ngại về xu hướng quay lại các chính sách bảo hộ thị trường nội địa của một số quốc gia trên thế giới. Trong đó đáng kể nhất là việc sử dụng các công cụ bảo hộ trá hình dưới các hình thức như chống bán phá giá, trợ cấp, tự vệ và đặc biệt là các hàng rào kỹ thuật được sử dụng như là một trong những công cụ hữu hiệu để ngăn cản hàng nhập khẩu. Dường như việc vừa tự do hóa thương mại vừa sử dụng các biện pháp được coi là hợp pháp để bảo hộ thị trường nội địa là điểm nhấn trong chính sách thương mại của nhiều quốc gia trên thế giới trong giai đoạn hiện nay. Việc áp dụng các rào cản thương mại đối với hàng nhập khẩu không phải bao giờ cũng vì mục đích bảo hộ, các rào cản này trong nhiều trường hợp là cần thiết để bảo vệ các lợi ích quốc gia về sức khỏe cộng đồng, môi trường sống, cân bằng cán cân thanh toán… Đặc biệt vấn đề tự do hóa thương mại hiện nay luôn được gắn chặt với việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường sống. Điều này có nghĩa là các quốc gia đều tính đến sự cân bằng lợi ích giữa phát triển một chính sách thương mại tự do và lợi ích bảo vệ môi trường và sức khỏe của cộng đồng. Luật quản lý ngoại thương phải tạo ra một cơ chế linh hoạt trong việc ứng phó với các hàng rào của nước ngoài đối với hàng hóa nhập khẩu. Mặt khác, Luật quản lý ngoại thương cần tính đến mục tiêu bảo vệ thị trường nội địa, bảo vệ các lợi ích quốc gia về môi trường và sức khỏe cộng đồng như xây dựng cơ chế cung cấp, xử lý thông tin và phối hợp thực hiện hiệu quả, nhanh chóng giữa các cơ quan có thẩm quyền liên quan trong việc ứng phó với các biện pháp hạn chế nhập khẩu của nước ngoài; xây dựng cơ chế phối hợp, kiểm soát chặt chẽ tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu. Như vậy, bối cảnh thương mại quốc tế đòi hỏi chúng ta cần tăng cường sử dụng công cụ quản lý ngoại thương hiện có cũng như sử dụng các công cụ quản lý ngoại thương mới để bảo đảm điều hành một cách linh hoạt hoạt và hiệu quả động ngoại thương.

Kinh nghiệm một số nước trên thế giới bước đầu có thể nhận định việc xây dựng Luật quản lý ngoại thương là cần thiết.

Qua bước đầu nghiên cứu pháp luật ngoại thương của một số quốc gia bao gồm Mexico, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ cho thấy các nước này đã xây dựng một đạo luật ngoại thương thống nhất bên cạnh một số luật điều chỉnh các công cụ quản lý riêng biệt như luật chống bán phá giá, luật xúc tiến thương mại, luật về các vấn đề như sở hữu trí tuệ, ngoại hối...Các đạo luật ngoại thương của các nước nên trên về cơ bản bao gồm các nội dung sau: (1) quy định về hoạt động xuất nhập khẩu; (2) quy định về các nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động ngoại thương; (3) cơ quan quản lý ngoại thương: xác định quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý và các cơ quan có liên quan, đặc biệt chú trọng đến cơ chế phối hợp, ủy quyền giữa các cơ quan này; (4) quy định mang tính nguyên tắc đối với một số công cụ quản lý ngoại thương (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ…). Như vậy, có thể nhận thấy một số nước có điều kiện kinh tế-xã hội tương tự như chúng ta (Trung Quốc) hoặc hệ thống pháp luật tương tự (hệ thống dân luật – Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) đều xây dựng đạo luật riêng về quản lý hoạt động ngoại thương. Do đó, bước đầu có thể khẳng định việc chung ta xây dựng dự án Luật Quản lý ngoại thưong đã có sự hỗ trợ từ tiền lệ của các quốc gia là đối tượng nghiên cứu nói trên.



Những quan điểm, chính sách cơ bản, nội dung chính

Thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, phát triển hoạt động ngoại thương. Luật thương mại và nhiều đạo luật có liên quan đến hoạt động quản lý ngoại thương cùng hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành đã phản ánh được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn vừa qua đối với hoạt động ngoại thương. Theo đó, hệ thống pháp luật về ngoại thương về cơ bản đã phục vụ tốt công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thời gian qua, đồng thời góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy nhanh xuất khẩu, chủ động về nhập khẩu, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, hạn chế nhập siêu… Do đó, Luật Quản lý ngoại thương trước tiên phải được xây dựng trên nền tảng chính sách ngoại thương tương đối ổn định của chúng ta trong thời gian qua, đồng thời phải phản ánh được những thay đổi trong chủ trương, chính sách ngoại thương của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới.

Luật điều chỉnh hoạt động quản lý ngoại thương thông qua việc bảo đảm quy định bao quát tất cả công cụ quản lý ngoại thương; quy định cơ chế mở cho việc sử dụng, ban hành các công cụ quản lý ngoại thương mới trong tương lai để bảo đảm tính linh hoạt trong việc xây dựng chiến lược ngoại thương và ban hành VBQPPL trong lĩnh vực này. Với mong muốn khắc phục tình trạng tản mạn, thiếu thống nhất hiện nay của hệ thống pháp luật ngoại thương, Luật Quản lý ngoại thương phải được xây dựng với định hướng trở thành một đạo luật chủ đạo trong quản lý điều hành hoạt động ngoại thương, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật ngoại thương. Các công cụ quản lý ngoại thương hiện hành phải được thể hiện trong dự án Luật, các công cụ quản lý ngoại thương mới cũng cần được tính đến và được quy định hợp lý. Ngoài ra, tính biến động nhanh chóng của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trên thị trường đặt ra yêu cầu về tính linh hoạt trong công tác quản lý ngoại thương, điều này đồng nghĩa Luật Quản lý ngoại thương phải có các quy định mang tính chất mở làm cơ sở pháp lý cho việc ban hành các công cụ, chính sách quản lý ngoại thường trong từng giai đoạn cụ thể.

Luật pháp bảo đảm cân bằng lợi ích giữa hoạt động quản lý nhà nước về ngoại thương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển hoạt động ngoại thương của thương nhân. Dự án luật tập trung quy định về nhu cầu, mục đích quản lý hoạt động ngoại thương của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng mặt khác cũng có các quy định tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân.

Tập trung hoàn thiện cơ chế điều hành, quản lý hoạt động ngoại thương thông qua việc quy định cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương và cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến ngoại thương Luật Quản lý ngoại thương cần quy định về quản lý nhà nước về ngoại thương, xây dựng các phương thức phối hợp hiệu quả, thống nhất giữa cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp về ngoại thương và cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến ngoại thương trong điều hảnh, quản lý hoạt động ngoại thương.

Hoàn thiện, bổ sung các quy định liên quan đến công cụ xúc tiến thương mại mới để nâng cao tối đa hiệu quả của hoạt động xúc tiến ngoại thương. Tiếp tục khai thác hiệu quả các công cụ xúc tiến thương mại hiện hành trong đó quy định các công cụ xúc tiến thương mại truyền thống, mặt khác bổ sung các công cụ xúc tiến mới nhằm nâng cao sự linh hoạt trong quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại nhằm phục vụ mục tiêu lớn của Đảng, Nhà nước, điều hành của Chính phủ trong từng thời kỳ.

Hệ thống hóa, pháp điển hóa đến mức có thể các quy định pháp luật về quản lý hoạt động ngoại thương hiện hành, nội luật hóa các điều ước quốc tế trong chừng mực nhất định. Luật Quản lý ngoại thương cần phải: (1) hệ thống hóa được các quy định chủ yếu về quản lý hoạt động ngoại thương hiện đang tồn tại ở các VBQPPL khác nhau; (2) thực hiện công tác pháp điển hóa – có chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành bảo đảm phù hợp hơn và (3) nội luật hóa đến mức có thể các điều ước quốc tế trong lĩnh vực kinh tế mà Việt Nam là thành viên. Với định hướng soạn thảo này, dự án Luật Quản lý ngoại thương khi ra đời sẽ là văn bản pháp lý điều chỉnh bao trùm lĩnh vực quản lý hoạt đông ngoại thương, tạo tiền đề cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật ngoại thương thống nhất, hiệu lực thực thi cao.

Nội dung chính

Chương I. Quy định chung: Quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh, giải thích từ ngữ, các nguyên tắc trong hoạt động quản lý ngoại thương

Chương II. Cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương: Quy định về trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về ngoại thương; trách nhiệm phối hợp của các cơ quan nhà nước khác có liên quan.

Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu quy định về chính sách cân bằng ngoại thương (khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập khẩu); hàng hóa thuộc diện quản lý xuất khẩu, nhập khẩu; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong hoạt động xuất nhập khẩu; quyền kinh doanh xuất nhập khẩu; Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu; chuyển giao công nghệ; xuất xứ hàng hóa; Giấy chứng nhận lưu hành tự do; quá cảnh hàng hóa, chuyển khẩu; xuất nhập khẩu theo diện quà biếu, quà tặng; tiêu chuẩn ngoại giao; quan hệ ngoại thương với các khu vực hải quan riêng; quan hệ biên mậu.

Điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại quy định về tự vệ thương mại; chống bán phá giá; chống trợ cấp.

Điều tra và áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ quy định về các biện pháp kỹ thuật; các biện pháp vệ sinh dịch tễ.

Xúc tiến xuất khẩu quy định về xúc tiến xuất khẩu của các cơ quan quản lý nhà nước; tín dụng hỗ trợ xuất khẩu; xúc tiến xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ nông nghiệp; chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia; chương trình thương hiệu xuất khẩu quốc gia; tổ chức xúc tiến thương mại, trung tâm trưng bày, xúc tiến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tại nước ngoài; xúc tiến xuất khẩu tại Việt Nam; Xúc tiến xuất khẩu của thương nhân, hiệp hội ngành hàng, ngành nghề; bảo hiểm xuất khẩu và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.

Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Dự án luật này do Bộ Công thương chủ trì soạn thảo.

Kinh phí do Nhà nước cấp theo quy định hiện hành.

1   ...   27   28   29   30   31   32   33   34   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương