A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang26/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   22   23   24   25   26   27   28   29   ...   47

4. Luật chứng thực


Sự cần thiết ban hành

Ở Việt Nam, quá trình phát triển của hoạt động chứng thực luôn gắn liền với quá trình phát triển của hoạt động công chứng. Trong một thời gian dài, hai hoạt động này luôn được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật: Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện các việc công chứng nhà nước; Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng (hướng dẫn thực hiện Thông tư số 574); Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước; Thông tư số 276/TT-CC ngày 20/4/1991 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về tổ chức và quản lý Công chứng nhà nước; Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động Công chứng nhà nước; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về quản lý hoạt động công chứng, chứng thực.

Tuy nhiên, thực hiện chủ trương tách bạch về bản chất giữa hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, ngày 29/11/2006 Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Công chứng và Luật này điều chỉnh tổ chức, hoạt động công chứng. Hoạt động chứng thực chỉ được điều chỉnh bởi Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký.

Tại kỳ họp Quốc hội khóa XI, một số đại biểu Quốc hội đã đề xuất xây dựng Luật chứng thực và trong phiên họp thường kỳ tháng 8/2011 của Chính phủ, các thành viên Chính phủ đã thảo luận và Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến kết luận đối với đề nghị của Chính phủ về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII, trong đó có Luật chứng thực. Như vậy, ban hành Luật chứng thực là cần thiết và cấp bách xuất phát trên cơ sở những lý do chính sau đây:



Thứ nhất, xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động chứng thực. Chứng thực là việc các cơ quan hành chính Nhà nước xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản chứng thực so với bản chính. Những giấy tờ, văn bản này là cơ sở phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch trong xã hội được dễ dàng, thuận tiện. Có thể nói, trong đời sống xã hội hoạt động chứng thực là một lĩnh vực nhỏ, nhưng nó lại có phạm vi và đối tương tác động rất lớn, bởi nó có quan hệ đối với đại đa số người dân: chứng thực các giấy tờ, văn bản phục vụ hồ sơ nhập học, thi đại học, xin việc làm, giao dịch khác… Những sự kiện pháp lý này thường xảy ra đồng thời đối với nhiều chủ thể khác nhau nên tạo ra những áp lực cho cả cơ quan Nhà nước và người dân, từ đó gây ra những bức xúc không đáng có của người dân đối với chính quyền, làm giảm hiệu quả quản lý và uy tín của cơ quan hành chính Nhà nước.

Thực tế, hoạt động chứng thực chưa thực sự khẳng định được vị trí của mình trong đời sống xã hội và cũng chưa được coi trọng: rất nhiều người dân, thậm chí cả các tổ chức, các cơ quan nhà nước… vẫn còn nhầm lẫn hai khái niệm “công chứng” và “chứng thực”… ở nhiều địa phương, do chưa nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành nên cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động chứng thực còn hết sức thiếu thốn, nghèo nàn… chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.



Chính vì vậy, việc ban hành Luật chứng thực là khẳng định sự thừa nhận, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta một cách kịp thời, cấp bách đối với công tác chứng thực, qua đó góp phần nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức, của người dân và toàn xã hội đối với công tác này; góp phần củng cố, phát triển về chiều sâu hoạt động chứng thực ở nước ta và trên hết là để phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.

Thứ hai, tính không tương thích về cấp độ giữa văn bản pháp luật về chứng thực với các văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực chứng thực. Hoạt động công chứng, được coi như hoạt động “song sinh” với hoạt động chứng thực, đã được điều chỉnh bởi Luật Công chứng. Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động công chứng đã được Nhà nước và xã hội thừa nhận, khẳng định. Tuy nhiên, văn bản pháp lý có thang giá trị quy phạm cao nhất điều chỉnh hoạt động chứng thực mới dừng lại ở cấp độ Nghị định. Trong khi đó, một số lĩnh vực khác có liên quan đến lĩnh vực chứng thực hầu hết đã được ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ luật: Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Đất đai; Luật nhà ở… Do vậy, các vấn đề liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về chứng thực hoàn toàn phải phụ thuộc và tuân theo các quy định ở các văn bản ở cấp độ luật chuyên ngành khác. Mặt khác, vì hoạt động chứng thực được điều chỉnh bởi văn bản pháp lý có giá trị thấp hơn nên sự tuân thủ của các cơ quan, tổ chức và toàn xã hội đối với các quy định của pháp luật về chứng thực còn chưa cao, bị chi phối bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

Thứ ba, Nghị định 79/2007/NĐ-CP phát sinh những bất cập cần được kịp thời chỉnh sửa. Có thể nói, Nghị định này là văn bản đầu tiên đánh dấu sự ra đời của hoạt động chứng thực với tư cách là một hoạt động độc lập. Nghị định 79/2007/NĐ-CP đã tạo nền tảng để hoạt động chứng thực ổn định và đi vào nền nếp, giải tỏa sự ách tắc, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã phát sinh những bất cập:

Một là, những việc chứng thực khác chưa được điều chỉnh trong Nghị định 79/2007/NĐ-CP. Hiện nay, có nhiều loại việc chứng thực khác mà chính quyền các cấp thực hiện cũng như các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nhà nước yêu cầu thực hiện nhưng việc chứng thực những loại việc này phải tuân theo trình tự, thủ tục như thế nào, giá trị pháp lý của những hành vi chứng thực này… chưa được quy định. Trên thực tế, nhiều văn bản chứng thực được công nhận một cách tự phát, theo thói quen mà không có cơ sở pháp lý rõ ràng, chưa được điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước hoặc có quy định nhưng chưa đầy đủ. Do đó, mỗi cơ quan thực hiện chứng thực một cách khác nhau đối với cùng loại việc, ví dụ: Cùng là chứng thực Sơ yếu lý lịch nhưng có cơ quan thực hiện chứng thực theo hình thức chứng thực chữ ký, có cơ quan chứng thực nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người khai Sơ yếu lý lịch…

Hai là, việc chứng thực chữ ký người dịch và những quy định kèm theo như người dịch, phí dịch thuật chưa được quy định rõ ràng, cụ thể. Theo quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP thì Phòng Tư pháp cấp huyện có thẩm quyền chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế thời gian qua, việc thực hiện quy định này vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do một số cán bộ làm công tác chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện trình độ còn hạn chế, chưa nhận thức rõ bản chất của việc chứng thực chữ ký người dịch nên tự thấy đây là việc vượt quá khả năng của mình; mặt khác một số địa phương lại có vướng mắc trong việc tổ chức đội ngũ cộng tác viên dịch thuật…

Ba là, quy định về lưu trữ giấy tờ, văn bản chứng thực. Nghị định 79/2007/NĐ-CP chỉ quy định thời hạn lưu trữ bản sao mà không quy định thời hạn lưu trữ văn bản chứng thực chữ ký. Vì vậy, cần thiết phải quy định về thời hạn lưu trữ văn bản chứng thực chữ ký tạo điều kiện để đối chiếu khi cần thiết thuận lợi cho địa phương thực hiện chứng thực.

Bốn là, thẩm quyền ký chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Tại Công văn số 6551/VPCP-PL ngày 16/9/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý để Bộ Tư pháp nghiên cứu giao thẩm quyền ký văn bản chứng thực cho cán bộ Tư pháp - hộ tịch, thay vì giao cho Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã như hiện nay để bảo đảm trách nhiệm cá nhân rõ ràng đồng thời bảo đảm thực hiện kịp thời yêu cầu chứng thực của người dân. Trong khi đó, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã không phải là một chức danh tư pháp nên nhiều trường hợp không có trình độ chuyên môn về luật, do đó ảnh hưởng đến chất lượng của văn bản chứng thực. Tuy nhiên, khi sửa đổi, bổ sung Nghị định 79/2007/NĐ-CP thì vấn đề này gặp phải khó khăn trong việc ký văn bản và sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật hiện hành.

Năm là, nhằm hạn chế tối đa việc yêu cầu và sử dụng bản sao chứng thực, hiện tượng “sính” bản sao. Điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của cơ quan, tiếp nhận bản sao nhưng trên thực tế phần lớn các cơ quan đều yêu cầu bản sao có chứng thực mà không chấp nhận bản sao và đối chiếu với bản chính. Đây là hành vi vi phạm quy định pháp luật nhưng chưa có chế tài hoặc cơ chế phù hợp để chấn chỉnh hiện tượng này. Mặt khác, hoạt động chứng thực nếu thực hiện trong những trường hợp không cần thiết sẽ là gây tốn kém cả về thời gian, nhân lực, vật lực cho cả Nhà nước và người dân: lệ phí chứng thực, trả thù lao dịch thuật trong trường hợp cần chứng thực bản sao tiếng nước ngoài phải chứng thực chữ ký người dịch… Nhà nước phải tổ chức thực hiện chứng thực: địa điểm, bố trí thời gian cũng cán bộ thực hiện, sau đó phải lưu trữ và tiêu hủy khi hết thời hạn lưu trữ…

Tóm lại, mục tiêu của Luật chứng thực là nhằm đưa hoạt động này vào chiều sâu, hay nói cách khác Luật chỉ đặt vấn đề chứng thực trong những việc thực sự cần thiết. Có lẽ đây là điểm khác biệt lớn nhất về sự cần thiết ban hành luật so với các lĩnh vực khác. Chính sự khác biệt này là lý do quan trọng cần thiết ban hành Luật chứng thực.



Mục tiêu của việc ban hành Luật

Việc ban hành Luật chứng thực nhằm hướng tới các mục tiêu cơ bản sau đây:

1. Bảo đảm tính tương thích (về cấp độ) và tính đồng bộ giữa văn bản pháp luật về chứng thực với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác;

2. Giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận các quy định của pháp luật trong lĩnh vực chứng thực; tạo cơ chế thực hiện, sử dụng giấy tờ, văn bản chứng thực hợp lý, hợp pháp, đúng mục đích, qua đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

3. Hoàn thiện các trình tự, thủ tục chứng thực, bảo đảm tính minh bạch, công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nước về chứng thực trong việc thi hành pháp luật về áp dụng pháp luật, góp phần tích cực vào tiến trình cải cách thủ tục hành chính của Đảng và Nhà nước

4. Góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp trên tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp.



Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Luật chứng thực điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý và thực hiện chứng thực. Bao gồm các loại việc: Cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực chữ ký người dịch và trình tự thủ tục.

Đối tượng điều chỉnh của Luật chứng thực là: hoạt động chứng thực trên toàn quốc và tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Cụ thể là người có yêu cầu chứng thực và các cơ quan thực hiện việc chứng thực. Do đó, Luật chứng thực điều chỉnh không chỉ các quan hệ phát sinh trong quá trình chứng thực mà còn cả các quan hệ phát sinh trong quản lý chứng thực giữa các cơ quan liên quan, giữa cơ quan thực hiện chứng thực và công dân. Bảo đảm tính thống nhất về thẩm quyền, trình tự, thủ tục.

Luật áp dụng đối với các cơ quan thực hiện chứng thực, cán bộ tư pháp - hộ tịch, người dịch, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động chứng thực như cơ quan, tổ chức yêu cầu và tiếp nhận giấy tờ, văn bản chứng thực.



Những quan điểm, chính sách cơ bản

- Xây dựng Luật chứng thực thành đạo luật chung, được áp dụng thống nhất về chứng thực trong toàn quốc và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;

- Xây dựng dự thảo trên cơ sở tổng kết thực tiễn quản lý nhà nước về chứng thực ở Việt Nam, trên cơ sở các văn bản pháp luật quy định về chứng thực đã có ở nhiều văn bản khác nhau và tham khảo, vận dụng kinh nghiệm của các nước có lịch sử lâu dài về chứng thực, phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, không mâu thuẫn với Bộ luật Dân sự, Luật Công chứng;

- Xây dựng quy trình, thủ tục thực hiện chứng thực bảo đảm tính khoa học, minh bạch, chính xác, đơn giản và không gây phiền hà cho người dân, phù hợp với xu hướng cải cách hành chính, trong đó lấy cải cách thủ tục hành chính làm trung tâm, bảo đảm hiệu quả, hiệu lực của hoạt động chứng thực;

- Hướng tới việc hạn chế tối đa việc chứng thực bản sao từ bản chính, trào lưu “sính” bản sao ở Việt Nam những năm vừa qua nhằm quy định chặt chẽ các việc chứng thực và đưa hoạt động này về đúng bản chất của nó.

Các nội dung chính của dự thảo Luật

Trong dự thảo Luật chứng thực, về cơ bản các quy định liên quan đến trình tự, thủ tục chứng thực sẽ được nâng tầm từ các nghị định hiện hành, trên cơ sở tiếp thu những nội dung còn tốt của các nghị định này, bên cạnh đó phải đặc biệt quan tâm đến yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, lấy việc phục vụ lợi ích của người dân làm mục tiêu. Ngoài ra, dự thảo Luật chứng thực còn tập trung vào một số vấn đề mới, những vấn đề mới này sẽ tạo ra bước đột phá trong hoạt động chứng thực. Cụ thể như sau:

1. Giá trị pháp lý của bản dịch do các thành viên của Công ty dịch thuật có tư cách pháp nhân dịch. Theo quy định của pháp luật về chứng thực thì bản dịch do người dịch (đủ điều kiện theo quy định của pháp luật dịch) phải được chứng thực chữ ký người dịch, Dự thảo Luật chứng thực quy định theo hướng nếu bản dịch do thành viên của các tổ chức có tư cách pháp nhân dịch thuật thực hiện, có chữ ký của người dịch, xác nhận của người đứng đầu doanh nghiệp, đóng dấu của tổ chức đó thì không cần chứng thực. Bởi xuất phát từ bản chất và mục đích của việc chứng thực này suy cho cùng là chứng thực hình thức:

Bản chất của việc chứng thực chữ ký người dịch là chứng thực đúng chữ ký của cá nhân người đó, không bao hàm việc chứng thực tính chính xác của nội dung bản dịch; tính chính xác của nội dung bản dịch hoàn toàn do người dịch chịu trách nhiệm.

Mục đích của việc chứng thực chữ ký người dịch chỉ là nhằm ràng buộc trách nhiệm cá nhân của người dịch đối với tính chính xác của bản dịch, tăng cường trách nhiệm của người dịch chứ không phải là sự xác nhận lại nội dung bản dịch.

Tóm lại, người dịch phải là chịu trách nhiệm trực tiếp về tính chính xác của bản dịch không cần sự xác nhận chữ ký của cơ quan hành chính nhà nước. Với quy định này, vừa giảm tải lượng việc chứng thực chữ ký người dịch của Phòng Tư pháp cấp huyện, vừa tạo thuận lợi cho người dân mà vẫn bảo đảm chất lượng của bản dịch.

2. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức yêu cầu và tiếp nhận bản sao. Tại điều 6 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của cơ quan, tiếp nhận bản sao, cụ thể đối với trường hợp người nộp giấy tờ, văn bản là bản sao không chứng thực thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận có trách nhiệm đối chiếu với bản chính và người đối chiếu ký xác nhận vào bản sao và chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản sao so với bản chính. Có nghĩa, người dân có quyền nộp bản sao chứng thực hoặc bản sao không chứng thực kèm bản chính để đối chiếu. Thực tế, phần lớn các cơ quan đều yêu cầu bản sao có chứng thực mà không chấp nhận bản sao và đối chiếu với bản chính, bởi người tiếp nhận không muốn phải chịu trách nhiệm. Đây là hành vi vi phạm quy định pháp luật nhưng chưa có chế tài hoặc cơ chế phù hợp để chấn chỉnh hiện tượng này. Mặt khác, hoạt động chứng thực nếu thực hiện trong những trường hợp không cần thiết sẽ là gây tốn kém cả về thời gian, nhân lực, vật lực cho cả Nhà nước và người dân.

Dự thảo Luật chứng thực quy định theo hướng các bên tham gia giao dịch có quyền nộp bản sao chưa chứng thực trong trường hợp nộp trực tiếp và kèm theo bản chính để đối chiếu trừ trường hợp các giấy tờ, văn bản này lại được tập hợp trong một bộ hồ sơ khác để phục vụ giao dịch khác hoặc giao dịch 3 bên. Như vậy, hạn chế các trường hợp phải chứng thực so với quy định hiện nay.



Các nội dung cơ bản của dự thảo Luật chứng thực

Chương I: Quy định chung

Chương này quy định những nội dung có tính nguyên tắc của Luật chứng thực, trong đó đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc xác định phạm vi điều chỉnh của Luật chứng thực, mục đích của quản lý nhà nước về chứng thực, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong hoạt động chứng thực, giá trị pháp lý của bản sao .…



Chương II. Trách nhiệm của cơ quan yêu cầu và tiếp nhận bản sao

Đây là một chương nâng tầm quy định cũ và có tính chất quan trọng, tuy dung lượng không lớn nhưng sẽ giảm bớt được việc chứng thực:

- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức yêu cầu bản sao;

- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tiếp nhận bản sao



Chương III: Cấp bản sao từ sổ gốc

Chương này quy định về thẩm quyền, thủ tục chứng thực, trách nhiệm của cơ quan giữ sổ gốc và người có quyền yêu cầu cấp bản sao từ sổ gốc



Chương IV: Chứng thực bản sao từ bản chính

Chương này quy định về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính, nghĩa vụ và quyền của người thực hiện chứng thực, thủ tục chứng thực bản sao từ bản chính, hồ sơ chứng thực bản sao từ bản chính, địa điểm chứng thực bản sao từ bản chính, thời hạn thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính, trường hợp không được chứng thực bản sao từ bản chính



Chương V: Chứng thực chữ ký

Chương này quy định hai mục: chứng thực chữ ký và chứng thực chữ ký người dịch; đối với chứng thực chữ ký, có hai loại chứng thực chữ ký đối với văn bản tiếng Việt và văn bản tiếng nước ngoài.

Mục 1: Chứng thực chữ ký quy định những trường hợp chứng thực chữ ký, người yêu cầu chứng thực chữ ký, trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực nội dung văn bản chứng thực chữ ký, thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực chữ ký, thủ tục chứng thực chữ ký, hồ sơ chứng thực chữ ký, thời hạn chứng thực chữ ký, chứng thực chữ ký ngoài công sở của cơ quan nhà nước, người làm chứng, người phiên dịch khi chứng thực chữ ký, trường hợp không được chứng thực chữ ký

Chương VI: Phí và lệ phí chứng thực

Chương này quy định về phí và lệ phí trong hoạt động chứng thực



Chương VII: Lưu trữ văn bản chứng thực

Chương này quy định việc lưu trữ văn bản chứng thực bao gồm: bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao từ bản chính và hồ sơ chứng thực chữ ký



Chương VIII: Điều khoản thi hành

Chương này quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về chứng thực của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, UBND các cấp và các cơ quan khác; xử lý vi phạm trong hoạt động chứng thực; những nguyên tắc cơ bản trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về xử lý vi phạm trong hoạt động chứng thực trên cơ sở quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm hành chính nói chung; hiệu lực thi hành.



Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

- Kinh phí: ngân sách nhà nước và hỗ trợ từ các tổ chức (nếu có).

- Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và các chuyên gia, nhà khoa học soạn thảo.

1   ...   22   23   24   25   26   27   28   29   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương