A. chưƠng trình chính thức I. LĨNh vực tổ chức và hoạT ĐỘng của các thiết chế trong hệ thống chính trị



tải về 1.82 Mb.
trang10/47
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.82 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   47

20. Luật xây dựng (sửa đổi)


Sự cần thiết ban hành

Luật xây dựng được ban hành năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2004. Sau khi Luật được ban hành, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định, các Bộ liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn; đồng thời Bộ Xây dựng và các địa phương đã tuyên truyền, phổ biến, tập huấn thực hiện các quy định của Luật xây dựng. Nhìn chung những năm qua các quy định của pháp luật về xây dựng đã đi vào cuộc sống; đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân kể cả trong nước và nước ngoài đầu tư xây dựng cũng như hoạt động xây dựng tại Việt Nam. Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng đã được tăng cường, bước đầu tư đã đi vào nề nếp; ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể đã được nâng cao; tốc độ đầu tư đã được đẩy mạnh; trật tự xây dựng đã được chấn chỉnh. Tuy nhiên, thực tế cũng còn những bất cập dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án, làm chậm tiến độ, bỏ lỡ cơ hội đầu tư; việc quy định trách nhiệm của các chủ thể chưa rõ ràng, chưa có các chế tài đủ mạnh, nên tình trạng vi phạm xây dựng vẫn còn diễn ra, nhưng chưa có đủ các căn cứ để xử lý. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tồn tại này là hệ thống pháp luật điều chỉnh những vấn đề về đầu tư xây dựng chưa được thống nhất, chưa được điều chỉnh kịp thời.

Mặt khác, sau khi Luật xây dựng có hiệu lực, nhiều Luật khác cũng được ban hành như: Luật đầu tư 2005, Luật đấu thầu 2005, Luật nhà ở năm 2005; Luật kinh doanh bất động sản năm 2006; Luật quy hoạch đô thị năm 2009; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009. Một số nội dung đã được quy định tại Luật xây dựng nhưng vẫn đề cập ở các Luật nêu trên, có quy định thì thống nhất, nhưng cũng có một số quy định còn chưa thống nhất với nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, hoặc cũng có những nội dung cần bãi bỏ, cụ thể:

Về vấn đề quy hoạch xây dựng: được quy định tại Luật xây dựng, bao gồm ba loại quy hoạch: quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn. Luật quy hoạch đô thị ban hành năm 2009 đề cập đến những nội dung quy hoạch trong đô thị, quy định cụ thể và chi tiết hơn đối với công tác lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý các đồ án quy hoạch đô thị. Như vậy, những nội dung liên quan đến quy hoạch đô thị đã được đề cập trong Chương II Luật xây dựng cần phải bãi bỏ. Mặt khác, những quy định về quy hoạch xây dựng vùng và quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn cũng cần nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung cụ thể và chi tiết hơn cho thống nhất với những quy định của quy hoạch đô thị được quy định trong Luật quy hoạch đô thị nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về quy hoạch xây dựng và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện.

Về dự án đầu tư xây dựng công trình: Theo quy định tại Chương III Luật xây dựng, đối với công trình quy mô lớn yêu cầu phải lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình để trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư; Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư các dự án quan trọng quốc gia không phân biệt nguồn vốn. Tuy nhiên, theo Nghị quyết 49/2009/NQ-QH12 quy định cụ thể đối với dự án quan trọng quốc gia mới phải trình Quốc hội thông qua chủ trương; đồng thời Thủ tướng Chính phủ chỉ quyết định đầu tư các dự án quan trọng quốc gia có sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên. Do vậy, để đảm bảo thống nhất giữa các văn bản cần phải sửa đổi, bổ sung lại các quy định này.

- Về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình: vấn đề quản lý chi phí đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn nhà nước quy định trong Luật xây dựng đã được điều chỉnh tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, cần đưa vào Luật sửa đổi, bổ sung lần này để áp dụng thống nhất; đồng thời cần nghiên cứu bổ sung một số nội dung chi tiết hơn về vấn đề này.

- Về các trường hợp điều chỉnh dự án đã được quy định tại Luật xây dựng và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009. Các quy định này mới chỉ đề cập đến thẩm quyền của người quyết định đầu tư; tuy nhiên có những nội dung khi điều chỉnh dự án liên quan đến phạm vi quản lý nhà nước của nhiều lĩnh vực thì cần phải có ý kiến chấp thuận của các cơ quan quản lý nhà nước về những lĩnh vực này; song chưa được đề cập trong Luật. Mặt khác, việc quy định khi điều chỉnh dự án không làm thay đổi hoặc vượt quá các chỉ tiêu trong quyết định đầu tư thì chủ đầu tư được quyền tự điều chỉnh là chưa đi vào thực tế, quy định này chỉ đúng với dự án không sử dụng vốn nhà nước, khi người quyết định đầu tư và chủ đầu tư là một. Song, thực tế cho thấy, đối với dự án sử dụng vốn nhà nước thì quy định này không thực thi, vì bất kể nội dung nào đã được phê duyệt thì chỉ được điều chỉnh khi người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép; hơn nữa các nội dung điều chỉnh phải thể hiện bằng quyết định phê duyệt điều chỉnh. Do vậy, vấn đề này cũng phải được quy định rõ hơn, tránh tình trạng mỗi nơi thực hiện một khác, không rõ trách nhiệm, mất thời gian trong quá trình xử lý vấn đề này.

Về vấn đề khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng (quy định tại Chương III): Việc quy định thiết kế có 3 bước, phụ thuộc vào cấp công trình là chưa đầy đủ và không phù hợp với thông lệ quốc tế, cho nên trong quá trình thực hiện chưa thống nhất; đặc biệt là các dự án sử dụng vốn đầu tư nước ngoài và dự án do nhà thầu nước ngoài thiết kế đã gặp vướng mắc trong công tác thẩm định và quản lý nhà nước.

- Việc bãi bỏ yêu cầu thẩm định chuyển sang tham gia ý kiến về thiết kế cơ sở của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng khi cần thiết tại Luật số 38/2009/QH12 là đã buông lỏng công tác tiền kiểm của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng trong giai đoạn hình thành dự án. Mặc dù đã có quy định việc quản lý nhà nước được thông qua công tác cấp phép xây dựng, nhưng nếu không được góp ý, định hướng cho dự án từ giai đoạn đầu sẽ dẫn tới dự án được phê duyệt không đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật, khi đó chủ đầu tư phải chỉnh sửa lại dự án sẽ ảnh hưởng tới tiến độ và tốn kém thêm chi phí. Do vậy, cần quy định cụ thể thiết kế cơ sở phải được cơ quan quản lý nhà nước thẩm định hoặc bãi bỏ, không nên quy định cần thiết thì lấy ý kiến, pháp luật quy định như vậy không chặt chẽ và khi thực hiện sẽ tùy tiện, không thống nhất.

- Về thi tuyển thiết kế kiến trúc: mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 38/2009/QH12, theo đó việc thi tuyển hay tuyển chọn thiết kế kiến trúc do người quyết định đầu tư quyết định, dẫn tới thực hiện không thống nhất, khó kiểm soát. Do vậy, cần quy định một số loại công trình bắt buộc phải tổ chức thi tuyển thiết kế kiến trúc, còn những công trình còn lại là do người quyết định đầu tư quyết định.

- Việc quy định nhà thầu thiết kế xây dựng không được chỉ định nhà sản xuất vật liệu, vật tư và thiết bị xây dựng công trình (Điều 58) cần phải xem xét lại cho phù hợp, theo phản ánh của các nhà đầu tư, quy định này đã gây khó khăn cho việc xác định tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng; đặc biệt đối với dự án không sử dụng vốn nhà nước thì quy định này càng không phù hợp. Do đó, cần nghiên cứu điều chỉnh lại quy định này cho phù hợp với quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng theo cơ chế thị trường đã được quy định tại Luật số 38/2009/QH12.

- Việc quy định về thẩm định thiết kế cơ sở, sự tuân thủ của thiết kế bước sau so với thiết kế bước trước (Điều 59, Điều 60) là cứng nhắc, gây vướng mắc cho chủ đầu tư khi triển khai thiết kế bước sau, vì nội dung của thiết kế bước sau có thể điều chỉnh khác so với thiết kế bước trước nhưng không làm ảnh hưởng tới các nội dung thuộc phạm vi quản lý của nhà nước thì vẫn có thể chấp nhận được. Do vậy, nội dung này cần xem xét để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế.

Về Xây dựng công trình (quy định tại Chương IV): Các đối tượng được miễn giấy phép xây dựng được quy định tại Luật xây dựng (Điều 62) chiếm phạm vi rộng, vì theo quy định của Luật xây dựng, các dự án chỉ được phê duyệt khi thiết kế cơ sở đã được cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng thẩm định. Tuy nhiên, theo quy định của Luật 38/2009/QH12, cơ quan quản lý nhà nước không thẩm định thiết kế cơ sở nữa, nên việc quản lý xây dựng ở các địa phương gặp nhiều khó khăn, tình trạng xây dựng không tuân thủ quy hoạch xây dựng, việc đấu nối hạ tầng kỹ thuật đối với các công trình được miễn giấy phép xây dựng không kiểm soát được.

- Điều kiện để được cấp giấy phép xây dựng quy định tại Luật xây dựng (điều 65) quy định rất chặt chẽ. Tuy nhiên, hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng lại rất đơn giản, không đủ tài liệu để xem xét việc đáp ứng các điều kiện của công trình xây dựng theo yêu cầu, nên trong thực tế cơ quan cấp phép đã yêu cầu chủ đầu tư cung cấp thêm các bản vẽ, tài liệu để xem xét hoặc nếu không yêu cầu cung cấp thêm thì việc xem xét hồ sơ không đảm bảo chất lượng, không đáp ứng các điều kiện theo quy định. Vì thế việc thực hiện không thống nhất, gây vướng mắc cho chủ đầu tư, khó khăn cho cơ quan cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng.

- Những vấn đề khác liên quan đến công tác cấp giấy phép xây dựng, như nội dung giấy phép xây dựng, thẩm quyền cấp giấy phép, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cấp giấy phép, những quy định về quản lý xây dựng theo giấy phép xây dựng và đối với công trình được miễn giấy phép xây dựng, việc xử lý đối với công trình chưa có trong quy hoạch xây dựng khi thực hiện cấp phép,... cần được xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế và thống nhất với các Luật Quy hoạch đô thị, Luật Nhà ở, những nội dung khi Luật xây dựng được sửa đổi, bổ sung và một số Luật khác có liên quan.

- Về vấn đề an toàn lao động, vệ sinh môi trường mặc dù đã được quy định trong Luật xây dựng (Điều 78 và Điều 79), tuy nhiên mới chỉ nêu ra các nguyên tắc chung, chưa cụ thể. Mối quan hệ giữa các chủ thể trong thi công xây dựng có những đặc thù khác với mối quan hệ giữa các chủ thể trong các cơ sở sản xuất, là ngoài mối quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động còn có mối quan hệ với chủ đầu tư, tư vấn giám sát; đồng thời do tính đặc thù của công trường xây dựng thay đổi thường xuyên, mỗi công trình xây dựng có tính chất khác nhau, công nghệ thay đổi,... do vậy việc hướng dẫn và quản lý về an toàn có những nội dung khác với các quy định của pháp luật về lao động. Do đó, cần có những quy định cụ thể hơn, đặc biệt là trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong thi công xây dựng, để làm cơ sở cho việc hướng dẫn thực hiện khi ban hành Nghị định.

- Về quản lý chất lượng công trình xây dựng cần phải quy định chặt chẽ hơn, không những chỉ đối với công trình sử dụng vốn nhà nước mà cả đối với những công trình sử dụng các nguồn vốn khác. Thực tế cho thấy, thời gian qua nhiều công trình tư nhân xây dựng, đặc biệt là nhà ở riêng lẻ chưa được quản lý chặt chẽ dẫn đến chất lượng không đảm bảo gây ra sự cố, không những cho công trình đó mà còn ảnh hưởng đến các công trình lân cận, đến cộng đồng, nhưng cũng chưa có những quy định về trách nhiệm, về chế tài,...nên khó khăn trong công tác quản lý và xử lý khi xảy ra sự cố.

- Về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng mặc dù đã được quy định trong Luật xây dựng, nhưng mới chỉ đưa ra các quy định chung. Mặt khác, sau khi Luật xây dựng ban hành, Việt Nam đã ký các Hiệp định tại WTO (năm 2007), Hiệp định công nhận lẫn nhau về dịch vụ tư vấn kỹ thuật (năm 2005) và dịch vụ kiến trúc (năm 2008) trong ASEAN. Theo quy định của các Hiệp định này có nhiều nội dung của Luật xây dựng cần phải được xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, như các tiêu chuẩn để được cấp chứng chỉ hành nghề, thời gian có hiệu lực của chứng chỉ hành nghề, các quy định về phát triển nghề nghiệp liên tục; việc đăng ký và đánh giá năng lực nhà thầu (hiện nay JICA đang giúp Bộ Xây dựng nghiên cứu vấn đề này), việc quản lý nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam và một số nội dung khác về vấn đề này cần được nghiên cứu để chỉnh sửa cho phù hợp với các Hiệp định đã ký kết, với thông lệ quốc tế và yêu cầu của thực tiễn.



Vấn đề về lựa chọn nhà thầu và hợp đồng trong hoạt động xây dựng (quy định tại Chương VI): Những nội dung về lựa chọn nhà thầu và hợp đồng trong hoạt động xây dựng đã được đề cập trong Luật xây dựng. Tuy nhiên, khi ban hành Luật Đấu thầu, kể cả Luật sửa đổi, bổ sung số 38/2009/QH12 đã quy định nhiều nội dung mà Luật xây dựng đã quy định, trong đó có những nội dung không thống nhất giữa các Luật, chồng chéo, mâu thuẫn. Do đó, cần rà soát để loại bỏ những nội dung đã được quy định trong Luật Đấu thầu; đồng thời sửa đổi, bổ sung những nội dung có tính đặc thù của hoạt động xây dựng trong Luật xây dựng.

Ngoài những vấn đề chủ yếu nêu trên, còn những vấn đề liên quan đến các Luật khác, như Luật phòng cháy chữa cháy, Luật Môi trường, Luật Đất đai, các Luật quy định về hành lang an toàn lưới điện, giao thông, độ tĩnh không,... Đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Chương trình cải cách hành hành chính của Đảng và Nhà nước cần phải được nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung trong Luật xây dựng.

Với những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung Luật xây dựng là hết sức cần thiết để quy định các vấn đề về đầu tư xây dựng cơ bản thống nhất giữa các Luật; phù hợp với thông lệ quốc tế, với các Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết; thực hiện chương trình cải cách hành chính nhằm tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhõn đầu tư xây dựng, hoạt động xây dựng; đồng thời tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng và hoạt động xây dựng.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Phạm vi điều chỉnh: quy định về hoạt động xây dựng; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình và hoạt động xây dựng.

Đối tượng áp dụng: các tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng và hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với Luật Này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Những quan điểm, chính sách cơ bản

- Đảm bảo tính thống nhất những vấn đề đầu tư xây dựng và hoạt động xây dựng trong hệ thống pháp luật;

- Phù hợp với thông lệ quốc tế và các Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết;

- Đẩy mạnh phân cấp đi đôi với quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, của các chủ thể tham gia đầu tư và hoạt động xây dựng;

- Tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng;

- Việc xây dựng Luật phải được đặt trong Chương trình cải cách hành chính của Nhà nước.



Nội dung chính

- Điều chỉnh lại toàn bộ Chương II - Quy hoạch xây dựng;

- Sửa đổi, bổ sung các nội dung tại Chương III - Dự án đầu tư xây dựng công trình, bao gồm: điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, quản lý chi phí đầu tư xây dựng, hình thức quản lý dự án, thi tuyển thiết kế kiến trúc, thẩm định thiết kế cơ sở, các bước thiết kế; Giấy phép xây dựng: đối tượng được miễn giấy phép xây dựng, hồ sơ xin giấy phép xây dựng, nội dung giấy phép xây dựng, thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng. Quản lý chất lượng công trình xây dựng; an toàn lao động, vệ sinh môi trường;

- Sửa đổi, bổ sung toàn bộ Chương VI - Lựa chọn nhà thầu và hợp đồng trong hoạt động xây dựng.

- Sửa đổi, bổ sung những nội dung khác, như giải phóng mặt bằng xây dựng, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm,...

Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc soạn thảo

Bộ Xây dựng là cơ quan chủ trì soạn thảo.

Cơ quan phối hợp: Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và một số Bộ, ngành có liên quan.

1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   47


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương