TRÍch yếu luậN ÁN



tải về 27.86 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.08.2016
Kích27.86 Kb.

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN


PHẦN MỞ ĐẦU

Họ tên NCS: Huỳnh Nam Phương

Tên đề tài luận án: TIẾP THỊ XÃ HỘI VỚI VIỆC BỔ SUNG SẮT CHO PHỤ NỮ CÓ THAI DÂN TỘC MƯỜNG Ở HÒA BÌNH.

Chuyên ngành: Dinh dưỡng - Mã số: 62.72.88.01

Người hướng dẫn: TS. Phạm Thị Thúy Hoà, PGS.TS. Nguyễn Văn Hiến

Tên cơ sở đào tạo: Viện Dinh dưỡng Quốc Gia



PHẦN NỘI DUNG

Mục đích và đối tượng nghiên cứu:Thiếu máu thiếu sắt là vấn đề sức khỏe cộng đồng phổ biến ảnh hưởng đến phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ, đặc biệt là phụ nữ có thai (PNCT) sống ở các vùng khó khăn của Việt Nam. Bổ sung sắt là can thiệp được chứng minh là có hiệu quả, tuy nhiên cách vận hành chương trình là vấn đề cần nghiên cứu để đảm bảo độ bao phủ và tính bền vững của can thiệp.

Nghiên cứu được tiến hành trên phụ nữ có thai dân tộc Mường tại huyện Tân Lạc- Hoà Bình với mục tiêu sau:



  1. Mô tả các hành vi liên quan đến dinh dưỡng của PNCT dân tộc Mường và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến độ bao phủ và tuân thủ phác đồ bổ sung viên sắt của PNCT dân tộc Mường.

  2. Đánh giá hiệu quả can thiệp tiếp thị xã hội và truyền thông dinh dưỡng đến chăm sóc dinh dưỡng và bổ sung sắt của phụ nữ có thai dân tộc Mường

Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng: Nghiên cứu được chia thành 2 giai đoạn được triển khai tại 6 xã của Tân Lạc trong thời gian 6 tháng

Giai đoạn 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng.

  • Sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng các tỷ lệ (độ bao phủ viên sắt) và giá trị trung bình (mức tăng cân và khẩu phần), từ đó chọn toàn bộ phụ nữ có thai ở 6 xã để thu thập các số liệu định lượng và lựa chọn mẫu phù hợp cho các thông tin định tính ở giai đoạn 1. Sử dụng công thức ước lượng sự khác biệt về tỷ lệ độ bao phủ của viên sắt và cải thiện khẩu phần trước và sau can thiệp, từ đó chọn toàn bộ phụ nữ có thai ở 3 xã can thiệp và 3 xã chứng để thu thập các số liệu định lượng và lựa chọn mẫu phù hợp cho các thông tin định tính ở giai đoạn 2.

  • Các hoạt động can thiệp chính: Xây dựng kế hoạch tiếp thị xã hội tổng thể; Xây dựng tài liệu tập huấn; Xây dựng tài liệu truyền thông; Tập huấn cho cán bộ y tế, cộng tác viên, cán bộ hội phụ nữ của các xã can thiệp; Sản xuất tài liệu truyền thông và đưa vào sử dụng; Hội thảo phổ biến và xây dựng kế hoạch với lãnh đạo địa phương và các ban ngành đoàn thể; Xây dựng mạng lưới và cơ chế quản lý tiếp thị xã hội để cung cấp viên sắt cho PNCT; Thực hiện các hoạt động tiếp thị xã hội; Theo dõi, giám sát; Đánh giá can thiệp; Chuyển giao và duy trì hoạt động mô hình sau khi kết thúc can thiệp.



Các kết quả chính và kết luận:

Hành vi liên quan đến dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến độ bao phủ và tuân thủ phác đồ bổ sung viên sắt của PNCT dân tộc Mường ở Hoà Bình.

PNCT dân tộc Mường ở Hoà Bình có kiến thức tương đối tốt về các điều kiện chăm sóc thai nhưng thực hành không đầy đủ. Họ có những hiểu biết cơ bản về phòng chống thiếu máu thiếu sắt, tác dụng của viên sắt nhưng chỉ có 62,2% uống viên sắt và số uống hàng ngày chỉ chiếm 72,3%. Một số yếu tố ảnh hưởng đến uống viên sắt bổ sung đúng là nguồn thuốc có thường xuyên, thuốc dễ uống, giá cả phù hợp, ít tác dụng phụ, ảnh hưởng tốt đến sức khỏe. Phụ nữ Hòa Bình bước vào thời kỳ sinh đẻ với một tình trạng dinh dưỡng kém, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn là 42,2% ở 3 tháng đầu, mức tăng cân trong thời kỳ mang thai không đạt được mức khuyến nghị về tăng cân cần thiết. Khẩu phần thực tế của PNCT Hòa Bình đã có sự ưu tiên nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu khuyến nghị, năng lượng đạt 83%, protid đạt 81-86%, lipid đạt 54-67%, Vitamin A đạt 65% và sắt đạt 30% so với khuyến nghị.



Hiệu quả của chương trình tiếp thị xã hội đến chăm sóc dinh dưỡng và bổ sung sắt cho phụ nữ có thai dân tộc Mường.

  • Chương trình can thiệp đã cải thiện được cả kiến thức và thực hành về bệnh thiếu máu và viên sắt của phụ nữ được can thiệp. Chỉ số hiệu quả can thiệp thực đến tăng kiến thức về thời điểm uống viên sắt là 24,5%, tác dụng của viên sắt là 9,6%, biện pháp tăng cường hấp thu sắt là 2,9-5,1%. Tỷ lệ PNCT ở xã can thiệp đã và đang uống viên sắt cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (92,4% và 89,9% so với 85,4% và 69,8%). Tỷ lệ uống viên sắt hàng ngày ở nhóm can thiệp đã tăng từ 71% lên 91,6% sau can thiệp và các đối tượng tỏ ra chấp nhận hơn với việc bỏ tiền ra mua viên sắt.

  • Khẩu phần PNCT ở các xã có can thiệp được cải thiện rõ nét: Năng lượng khẩu phần, Protid, Lipid, các vitamin và khoáng chất đáp ứng được nhu cầu khuyến nghị và cao hơn nhóm chứng. Riêng chỉ có sắt là mới đáp ứng được 78,8% nhu cầu khuyến nghị.

  • Sau 6 tháng can thiệp đã đảm bảo được độ bao phủ mua viên sắt là 97,7%, uống viên sắt liên tục là 97,8%. Tỷ lệ PNCT được tham gia các hoạt động truyền thông đạt 80%.

  • Sau một năm ngừng can thiệp, tỷ lệ PNCT tiếp tục mua và sử dụng viên sắt đều đặn ở mức 98,5% và 100% được tư vấn về dinh dưỡng, phòng chống thiếu máu, 50% tham gia các hoạt động truyền thông nhóm.

Khuyến nghị:

  • Các chương trình dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ sinh sản quốc gia cần có những can thiệp để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho phụ nữ trước khi mang thai, và khi có thai.

  • Bộ Y tế/Viện Dinh dưỡng cần xây dựng được Hướng dẫn quốc gia về phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng. Tiếp thị xã hội cần được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu.

  • Mô hình tiếp thị xã hội về bổ sung sắt cho PNCT có thể mở rộng cho các cộng đồng khác dựa trên hệ thống sẵn có về nhân lực y tế cơ sở, nhận thức của người dân đã cơ bản được cải thiện thông qua chương trình Mục tiêu dinh dưỡng quốc gia. Mô hình Tiếp thị xã hội này có thể được áp dụng cho các can thiệp dinh dưỡng và y tế khác.

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN:

Nghiên cứu đã xây dựng một mô hình tiếp thị xã hội độc lập nhằm cải thiện kiến thức và thực hành phòng chống thiếu máu cho PNCT dân tộc thiểu số (dân tộc Mường) ở địa bàn khó khăn (Hoà Bình). Nghiên cứu đã lập kế hoạch để duy trì mô hình và có những bước chuẩn bị phù hợp nhằm chuyển giao sau can thiệp. Nghiên cứu đã xây dựng các bước thực hiện để mở rộng mô hình thông qua việc đáp ứng được chuẩn tiếp thị xã hội vào điều kiện Việt Nam và có thể áp dụng cho các can thiệp dinh dưỡng và y tế khác.


ABSTRACT


INTRODUCTION

Name of PhD candidate: Huynh Nam Phuong

Title of dissertation: SOCIAL MARKETING AND IRON SUPPLEMENTATION FOR MUONG PREGNANT WOMEN IN HOA BINH.

Specialization: Nutrition – Code: 62.72.88.01

Supervisors: Pham Thi Thuy Hoa, MD., PhD

Assoc.Prof. Nguyen Van Hien, MD. PhD.

Training institution: National Institute of Nutrition

CONTENT

Study aim and study population: Iron deficiency anemia is a common public health problem affecting women of reproductive age, particularly pregnant women living in disadvantaged areas of Vietnam. Iron supplementation has been proven to be an effetive interventiion. However, more research needs to be conducted to ensure the coverage and sustainability of the intervention.

The research was conducted in Muong pregnant women in Tan Lac district, Hoa Binh province aiming at:



  1. To describe nutrition-related behaviors of Muong pregnant women and explore associated factors to the coverage and compliance of iron supplementation among Muong pregnant women.

  2. To evaluate the effectiveness of social marketing and nutrition communication intervention on nutrition care and iron supplementation practice of Muong pregnant women.

Methodology: The research was divided in 2 phases and conducted in 6 communes of Tan Lac in 6 months

Phase 1: Cross-sectional descriptive study

Phase 2: Community-based controlled intervention study.

  • Using the sample formula to estimate percentage (the coverage of iron supplementation) and mean (weight gain and food intake), the study has recruited all pregnant women in the 6 communes to collect quantitative data and used appropriate sample size and selection for qualitative data for phase 1. Using the sample formula to estimate the difference of the coverage for iron supplementation and the food intake before and after intervention, the study has recruited all pregnant women in 3 intervention communes and 3 control communes to collect quantitative data and used appropriate sample size and selection for qualitative data for phase 2.

  • Main intervention activities: Development of social marketing plan; Development of training materials and IEC materials; Training for health staffs, nutrition workers, Women’s Union of intervention communes; IEC activities in different channels; Orientation and Planning Workshops with local stakeholders; Development of network and management mechanism for social marketing program; Operation of the social marketing program; Monitoring and Supervision; Evaluation; Handling over and Sustaining the model after completion.

Major findings and conclusions:

Nutrition-related behaviors and associated factors to the coverage and compliance of iron supplementation in Muong pregnant women in Hoa Binh: Muong pregnant women had relatively good knowledge on conditions for pregnancy care but they do not practice optimally. They had basic knowledge on iron deficiency anemia and iron supplementation but only 62.2% took iron tablets, of which only 72.3% took daily. Some factors associated to appropriate iron supplementation practice are regular supply, easy-to-take tablets, reasonable price, less side-effects, positive impact on health. Those women entered pregnancy period with a poor nutritional status (CED of 42.2% in the first trimester). Their weight gain was less than the recommended level. Even though their food consumption is better than the average for adults but it did not meet the recommended allowance (energy 83%, protein met 81-86%, fat met 54-67%, vitamin A met 65% and iron met 30% RDA).

Effectiveness of social marketing program on nutrition care and iron supplementation of Muong pregnant women: The intervention has improved both knowledge and practices on anemia prevention of the target group. Real intervention effectiveness index on improved knowledge about timing of iron supplementation was 24.5%, about benefit of iron supplementation 9.6%, and about ways to improve iron absorption 2.9-5.1%. The coverage of iron supplementation (of those who used to take and those who are taking now) in intervention communes is significantly higher than those in control communes (92.4% and 89.9% compared to 85.4% and 69.8%). Daily supplementation in intervention group increased from 71% to 91.6% after intervention and the targets accepted to pay for the supplementation out of their pocket. Food intake of pregnant women in intervention communes has improved significantly: energy, protein, fat and most of the vitamins and minerals have met the RDA and were higher than the control group. However, iron intake has only met 78.8% of RDA. After 6 months of intervention, the coverage of self procurement of iron tablets was 97.7%, that of regular supplementation was 97.8%. The proportion of pregnant women attending IEC activities was 80%. One year after the intervention ended the coverage of women regularly buying and taking iron tablets was 98.5%. 100% of them have received counseling on nutrition and anemia prevention. 50% of them have attended group communication activities.

Recommendations:

  • National nutrition and reproductive health care programs should continue to provide interventions to improve nutritional status for women before and during pregnancy.

  • Ministry of Health/National Institute of Nutrition should develop national guidelines on micro-nutrient deficiency control, in which social marketing should be considered as an effective approach.

  • Social marketing model on iron supplementation for pregnant women could be expanded to other communities based on existing system and current nutrition knowledge of the population. This model can also be applied to other health and nutrition intervention programs.

CONTRIBUTION OF THE DISSERTATION:

The research has successfully developed an independent social marketing model aiming to improve knowledge and practices on anemia control of pregnant women of one ethnic minority group in a disadvantaged area. The research has made a plan to sustain the model and had appropriate preparation for the transferring after its completion. The research also developed necessary steps of operation for duplication, which meet both the standards of social marketing theory and the actual conditions of Vietnam and it is applicable to other nutrition and health interventions.







: FileUpload -> Documents
Documents -> BỘ khoa học và CÔng nghệ
Documents -> HÀ NỘI – 2013 BỘ giáo dụC ĐÀo tạo bộ y tế viện dinh dưỠNG
Documents -> Phụ lục về cấp hạng khách quốc tế
Documents -> CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam qcvn 01 78: 2011/bnnptnt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thứC Ăn chăn nuôi các chỉ tiêu vệ sinh an toàn và MỨc giới hạn tốI Đa cho phép trong thứC Ăn chăn nuôI
Documents -> TỔng cục dạy nghề
Documents -> BỘ giáo dụC ĐÀo tạo bộ y tế viện dinh dưỠng nguyễn thị thanh hưƠng thực trạng và giải pháP
Documents -> Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o bé y tÕ ViÖn dinh d­ìng Ph¹m hoµng h­ng HiÖu qu¶ cña truyÒn th ng tÝch cùc ®Õn ®a d¹ng ho¸ b÷a ¨n vµ
Documents -> TỜ khai xác nhận viện trợ HÀng hóA, DỊch vụ trong nưỚC
Documents -> Phụ lục I mẫU ĐƠN ĐỀ nghị ĐĂng ký LƯu hàNH




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương