QUỐc hội khóa XIII ủy ban văn hóA, giáo dụC



tải về 140.09 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu14.08.2016
Kích140.09 Kb.

QUỐC HỘI KHÓA XIII

ỦY BAN VĂN HÓA, GIÁO DỤC,

THANH NIÊN, THIẾU NIÊN VÀ NHI ĐỒNG



Số: 1729 /BC-UBVHGDTTN13



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

line 6

Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2015


BÁO CÁO

Kết quả giám sát việc thực hiện Luật thanh niên

autoshape 7

Thực hiện chương trình công tác năm 2015, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (Ủy ban VHGDTNTN&NĐ) đã tiến hành giám sát “Việc thực hiện Luật thanh niên”. Đoàn giám sát đã xem xét báo cáo kết quả thực hiện Luật thanh niên của 12 bộ, ngành và kết quả giám sát của Ban Văn hóa - Xã hội, Hội đồng nhân dân 54 tỉnh, thành phố; làm việc trực tiếp tại một số tỉnh, thành phố và bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương1; tổ chức Hội nghị tham vấn chuyên gia về việc thực hiện Luật thanh niên tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Ủy ban VHGDTNTN&NĐ xin báo cáo kết quả giám sát như sau:

I. TÌNH HÌNH THANH NIÊN VIỆT NAM

Việt Nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với tỷ lệ thanh thiếu niên cao nhất trong lịch sử và dự kiến thời kỳ này sẽ kéo dài cho đến năm 2040. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê ước tính đến năm 2014, ở nước ta số lượng thanh niên là 25.078.764 người, chiếm 27,7% dân số cả nước. Trong đó, nam thanh niên là 12.756.842 người (chiếm 50,9% dân số thanh niên) và nữ thanh niên là 12.321.922 người (chiếm 49,1% dân số thanh niên), số lượng thanh niên tại khu vực nông thôn là 17.797.550 người (chiếm 71,0% dân số thanh niên), số lượng thanh niên tại khu vực thành thị là 7.281.214 người (chiếm 29,0% dân số thanh niên).

Thanh niên Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm nhiều công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Trong những năm qua, đại bộ phận thanh niên luôn có ý chí vươn lên trong học tập, lao động; có trách nhiệm với gia đình, bản thân và xã hội; luôn là lực lượng xung kích tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng; có ý thức giữ gìn phát huy truyền thống yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một bộ phận thanh niên có biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống, lười lao động, thích hưởng thụ, dễ mắc vào tệ nạn xã hội. Tình trạng người chưa thành niên và thanh niên phạm tội diễn biến phức tạp, có xu

hướng gia tăng cả về số lượng, tính chất, mức độ nghiêm trọng2.

Để phát huy tối đa nguồn nhân lực thanh niên, Nhà nước đã thực hiện việc hoạch định chính sách và đang hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của thanh niên, phát huy vai trò của thanh niên đối với nhà nước và xã hội. Quốc hội đã ban hành Luật thanh niên, Chính phủ, các bộ ngành và địa phương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật và nhiều chính sách hỗ trợ thanh niên trong các lĩnh vực.

Tuy nhiên, trong tình hình thực tiễn hiện nay, Luật thanh niên cùng với hệ thống văn bản dưới luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN LUẬT THANH NIÊN


  1. Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh niên

1.1. Việc ban hành văn bản pháp luật và các chính sách về thanh niên

Luật thanh niên được Quốc hội ban hành năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2006. Từ khi Luật có hiệu lực, Chính phủ và các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, theo chức năng và nhiệm vụ của mình, đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về công tác thanh niên. Tính đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 03 nghị định, 28 quyết định, 01 chỉ thị, 02 nghị quyết cùng nhiều đề án, chiến lược liên quan trực tiếp đến thanh niên. Các bộ, ngành đã ban hành 06 thông tư, 03 quyết định cụ thể hóa hoặc lồng ghép các cơ chế, chính sách đối với thanh niên (phụ lục kèm theo). Một số tỉnh, thành phố đã ban hành văn bản về công tác thanh niên, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm phát huy vai trò của thanh niên3.

Có thể nói, sau 9 năm thi hành, Luật thanh niên cùng hệ thống văn bản dưới luật đã tạo hành lang pháp lý cho việc bảo đảm thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của thanh niên; phát huy vai trò, trách nhiệm của thanh niên đối với nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc ban hành các VBQPPL về thanh niên còn một số hạn chế, bất cập sau:


  • Một số văn bản ban hành chậm:

Sau khi Luật có hiệu lực 1 năm, Nghị định 120/2007/NĐ-TTg hướng dẫn thi hành Luật thanh niên mới được Chính phủ ban hành. Sau 2 năm, Chính phủ ban hành Nghị định 48/2008/NĐ-CP giao chức năng QLNN về công tác thanh niên cho Bộ Nội vụ và sau 4 năm, Thủ tướng Chính phủ mới ban hành Quyết định 1471/2010/QĐ-TTg hướng dẫn xây dựng bộ máy QLNN về công tác thanh niên ở cấp trung ương. Đến năm 2011 (sau 5 năm Luật có hiệu lực), Bộ Nội vụ mới ban hành Thông tư 04/2011/TT-BNV hướng dẫn bổ sung biên chế thực hiện nhiệm vụ công tác thanh niên ở cấp địa phương. Đến nay, các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa xây dựng được quy chế phối hợp QLNN về công tác thanh niên trong cả nước và hướng dẫn thành lập Hội đồng công tác thanh niên cấp tỉnh4, dẫn đến tình trạng mô hình này chưa được thực hiện thống nhất tại các địa phương.

Một số bộ, cơ quan ngang bộ chưa thực hiện trách nhiệm được giao (theo Điều 20 Nghị định 120) trong việc ban hành văn bản hướng dẫn, thể chế hóa các quy định trong Luật thanh niên và Nghị định 120 nên các địa phương không có căn cứ để thực hiện.

- Một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn:

Nghị định 120 giao Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam chủ trì phối hợp với các bộ hướng dẫn thi hành Luật và các quy định của Nghị định. Tuy nhiên, theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Ủy ban Quốc gia về thanh niên không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, hiện nay, Bộ Nội vụ là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ QLNN về thanh niên nên quy định này không còn phù hợp.

Một số bộ, ngành được giao nhiệm vụ chủ trì hoặc phối hợp thực hiện các quy định của Luật thanh niên (theo Điều 20 Nghị định 120) hiện nay đã sáp nhập hoặc giải thể (như Ủy ban Thể dục thể thao, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em..). Một số nội dung về chức năng QLNN về công tác thanh niên trong khoản 1, Điều 5, Luật thanh niên chưa được hướng dẫn trong khoản 20, Điều 2, Nghị định 48/2008/NĐCP5 dẫn đến chức năng QLNN về công tác thanh niên chưa thực hiện đầy đủ. Trong khi đó, cũng tại khoản 20, Điều 2 Nghị định này, một số chức năng QLNN của Bộ Nội vụ lại trùng với Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam (được quy định tại Điều 22 Nghị định 120) dẫn đến sự chồng chéo nhiệm vụ giữa hai cơ quan6.

1.2. Việc thực hiện chiến lược phát triển thanh niên, lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu thực hiện chiến lược, chương trình phát triển kinh tế - xã hội

Trên cơ sở kết quả thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên giai đoạn 2003-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2474/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Chỉ thị 13/CT-TTg ngày 18/5/2012 về việc triển khai thực hiện Chiến lược; Bộ Nội vụ đã ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện. Đến nay, 100% các bộ, ngành và địa phương đã ban hành chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược.

Tuy nhiên, việc thể chế hóa, lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển thanh niên trong các chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các bộ, ngành và địa phương (theo khoản 15, Nghị định 120) chưa được đầu tư, coi trọng. Nhiều chỉ tiêu liên quan đến thanh niên được đưa ra trong Chiến lược phát triển thanh niên còn mang tính định hướng, khi triển khai trong thực tế gặp nhiều khó khăn và chưa có cơ chế đánh giá hiệu quả, tiến độ thực hiện.

1.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên

Luật thanh niên chưa quy định cụ thể cơ quan QLNN về công tác thanh niên. Đến năm 2008, Chính phủ mới ban hành Nghị định 48/2008/NĐ-CP giao chức năng QLNN về công tác thanh niên cho Bộ Nội vụ. Sau khi được giao nhiệm vụ, Bộ Nội vụ đã chỉ đạo từng bước tổ chức bộ máy thống nhất từ trung ương đến địa phương. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên được kiện toàn, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quan tâm thực hiện thường xuyên. Đề án đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ QLNN về công tác thanh niên được triển khai đã từng bước nâng cao về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh niên các cấp, các ngành trong việc tham mưu xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên7 .

Tuy nhiên, đến năm 2014, Bộ Nội vụ lại ban hành Thông tư số 15/2014/TT-BNV, ngày 31/10/2014 sáp nhập Phòng công tác thanh niên với Phòng xây dựng chính quyền thuộc Sở Nội vụ, theo đó lực lượng cán bộ chuyên trách bị cắt giảm đáng kể (từ 2-5 cán bộ làm công tác thanh niên nay chỉ còn được bố trí từ 1-3 cán bộ). Quy định này không phù hợp với Kết luận của Bộ chính trị trong Đề án tổ chức bộ máy QLNN về công tác thanh niên8. Việc sáp nhập Phòng công tác thanh niên với Phòng xây dựng chính quyền thuộc Sở Nội vụ gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động QLNN về công tác thanh niên. Hơn nữa, do không ổn định về mặt tổ chức, cán bộ thiếu kinh nghiệm và lại kiêm nhiệm nhiều việc nên hiệu quả hoạt động của bộ máy cán bộ làm công tác QLNN về thanh niên ở các cấp, nhất là cấp xã chưa cao.

1.4. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật thanh niên

Hằng năm, Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam, Bộ Nội vụ phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tổ chức nhiều đoàn kiểm tra việc thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên và chính sách, pháp luật đối với thanh niên tại các bộ, ngành, địa phương9. Một số địa phương cũng đã tổ chức các đoàn kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển thanh niên của địa phương mình. Thông qua kiểm tra, các đoàn công tác đã hướng dẫn, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; kiến nghị, đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền về việc xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật đối với thanh niên trên các lĩnh vực.

Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật liên quan đến thanh niên còn một số hạn chế bất cập.

Một trong những nguyên nhân là do sự chồng chéo nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể là: tại khoản 1 Điều 5 Luật thanh niên quy định công tác thanh tra, kiểm tra là một trong những nội dung thuộc trách nhiệm QLNN về công tác thanh niên (trách nhiệm này hiện được giao cho Bộ Nội vụ). Trong khi khoản 2 Điều 22 Nghị định 120 lại giao Ủy ban quốc gia về thanh niên Việt Nam chủ trì hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Luật thanh niên, nhưng UBQG về thanh niên VN chỉ là cơ quan tư vấn của Thủ tướng Chính phủ. Trách nhiệm chồng chéo như vậy khiến cho trong một thời gian công tác thanh tra, kiểm tra, cũng như việc đôn đốc, hướng dẫn thực hiện Luật thanh niên của ngành bị gián đoạn. Chỉ đến năm 2011, Bộ Nội vụ mới chính thức thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra của mình. Đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác này.

Công tác thanh tra, kiểm tra ở các cấp chưa được tổ chức thường xuyên và chuyên sâu nên kết quả mới chỉ dừng lại ở những đánh giá khái quát, thiếu cụ thể. Việc nắm bắt, đánh giá tình hình, kiến nghị đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền về các chính sách đối với thanh niên kém hiệu quả. Chế độ thông tin báo cáo, cơ sở dữ liệu về công tác thanh niên chưa được thiết lập và duy trì thường xuyên.

1.5. Hợp tác quốc tế về công tác thanh niên

Hoạt động đối ngoại nhà nước về công tác thanh niên được Chính phủ giao cho Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam thực hiện. Trên cơ sở đó, Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều hoạt động, chương trình giao lưu thanh niên Việt Nam với thanh niên thế giới; duy trì, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tổ chức thanh niên các nước láng giềng, bạn bè truyền thống, các nước trong khu vực; tham gia tích cực và có trách nhiệm trong các hoạt động của Liên đoàn Thanh niên dân chủ Thế giới10. Tại các địa phương, nhất là các tỉnh có chung đường biên giới, Đoàn thanh niên đã tổ chức nhiều hoạt động giao lưu thanh niên với các địa phương nước bạn.

Tuy nhiên, hoạt động đối ngoại nhà nước về công tác thanh niên đôi khi còn nặng về giao lưu, chưa có nhiều hoạt động mang tính chuyên sâu về những vấn đề toàn cầu của thanh niên hiện nay. Hơn thế, cho đến nay Chính phủ vẫn chưa giao cơ quan làm nhiệm vụ QLNN đối với hợp tác quốc tế về công tác thanh niên11.

2. Vai trò của Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong việc thực hiện Luật thanh niên

2.1.Vai trò của Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam

Với tư cách là cơ quan tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh niên, Ủy ban kịp thời tư vấn, đề xuất kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan trong chỉ đạo, điều hành và ban hành chính sách về thanh niên. Hằng năm, Ủy ban thành lập các đoàn kiểm tra việc triển khai thực hiện Luật và các chính sách về thanh niên. Các hoạt động đối ngoại nhà nước về thanh niên do Ủy ban tổ chức ngày càng được mở rộng, góp phần tích cực trong việc thể hiện trách nhiệm và nâng cao vai trò của thanh niên Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Thực hiện mục d, khoản 1, Điều 21 Nghị định 12012, Ủy ban đã phối hợp với Trung ương Đoàn xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn về việc thành lập Hội đồng công tác thanh niên cấp tỉnh. Tuy nhiên, là cơ quan tư vấn nên Ủy ban không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, do đó Thông tư hướng dẫn vẫn chưa được ban hành, dẫn đến việc thành lập Hội đồng công tác thanh niên ở các địa phương chưa thống nhất và chưa phát huy được hiệu quả hoạt động.

Bên cạnh đó, Ủy ban chưa xây dựng Quy chế phối hợp QLNN về công tác thanh niên (theo khoản 1, Điều 22, Nghị định 120) vì sau khi Nghị định 120 được ban hành, Bộ Nội vụ được Chính phủ giao thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên.



2.2. Vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Luật thanh niên đã khẳng định Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên... Nghị định 120 cũng chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn thanh niên trong việc phối hợp với các bộ ngành liên quan nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của thanh niên. Chính phủ và Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã ký Nghị quyết số 01/2012/NQLT-CP-BCHTWĐ về việc ban hành quy chế phối hợp công tác của Chính phủ và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Trên cơ sở Nghị quyết trên, các bộ, ngành đã ký kết Chương trình phối hợp với Ban Bí thư Trung ương Đoàn, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng đã ký kết chương trình phối hợp với các tỉnh, thành đoàn.

Thông qua việc triển khai các văn bản trên, tổ chức Đoàn thanh niên và các tổ chức thanh niên do Đoàn làm nòng cốt ngày càng lớn mạnh13; số lượng đoàn viên, hội viên được kết nạp tăng nhanh hàng năm; chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn ngày càng được nâng cao: Đoàn thanh niên đã phát động nhiều phong trào, tổ chức các hoạt động hỗ trợ cho thanh niên có cơ hội học tập, nghiên cứu khoa học14; quỹ quốc gia về việc làm do Trung ương đoàn quản lý đang được triển khai thực hiện có hiệu quả tại 61 tỉnh, thành phố, hoạt động vay vốn không ngừng được đẩy mạnh, chất lượng tín dụng được nâng cao15, góp phần mở ra cơ hội lập nghiệp cho thanh niên...

Qua những hoạt động tích cực của tổ chức Đoàn, thanh niên hiểu rõ hơn quyền và nghĩa vụ của mình, để từ đó phát huy sức trẻ, tính xung kích, tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Tuy nhiên, công tác xây dựng Đoàn, phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh và chăm sóc giáo dục thiếu niên, nhi đồng chậm đổi mới so với những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn đặt ra. Việc phát triển Đoàn, Hội tập hợp thanh niên ở khu vực ngoài nhà nước còn hạn chế. Các giải pháp nâng cao chất lượng đoàn viên trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả thực hiện chưa cao. Việc kết nạp đoàn viên ở một số nơi chủ yếu thiên về số lượng hơn chất lượng. Công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền một số nơi chưa đáp ứng được yêu cầu. Hiệu quả một số chương trình phối hợp của Đoàn với các ngành còn hạn chế. Việc tham mưu về cơ chế, chính sách cho các hoạt động tình nguyện của thanh niên chưa được quan tâm đúng mức.

3. Kết quả thực hiện quyền và nghĩa vụ của thanh niên được quy định trong Luật thanh niên

3.1. Kết quả thực hiện quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong các lĩnh vực:

- Trong lĩnh vực học tập

Luật thanh niên quy định thanh niên được học tập và bình đẳng về cơ hội học tập, thường xuyên nâng cao trình độ, xây dựng xã hội học tập...

Trên cơ sở đó, các bộ, ngành đã thể chế hóa các quy định về quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong học tập để xây dựng chiến lược, đề án, chương trình hành động cụ thể, tạo điều kiện cho thanh niên tiếp cận với cơ hội học tập. Bộ GD&ĐT phối hợp với Bộ LĐTB&XH và Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện chính sách hỗ trợ cho học sinh, sinh viên vay vốn để học tập16; phối hợp với các bộ, ngành ban hành chính sách về hỗ trợ học bổng, miễn, giảm học phí đối với thanh niên dân tộc thiểu số, thanh niên yếu thế, thanh niên có hoàn cảnh khó khăn... Hệ thống các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp được nâng cấp, cơ hội học tập mở rộng cho nhiều đối tượng thanh niên. Chính sách thu hút đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ cao, sinh viên giỏi về công tác của nhiều địa phương đã tạo động lực cho thanh niên nỗ lực học tập, nâng cao trình độ.

Tuy nhiên, các quy định về hỗ trợ học bổng, giảm phí học nghề, ưu tiên tư vấn, giới thiệu việc làm cho một số đối tượng thanh niên được quy định trong Luật thanh niên và Nghị định 120 cho đến nay vẫn chưa được Bộ Tài chính và các bộ, ngành phối hợp hướng dẫn cụ thể (Điều 17 Luật thanh niên và khoản 1, Điều 5; khoản 2, khoản 3, Điều 6; khoản 2, Điều 10; Điều 15; Điều 16 của Nghị định 120). Một số quy định về định mức học bổng, tiền ăn cho các đối tượng ưu tiên hiện nay không còn phù hợp với thực tiễn.



- Trong hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ

Thực hiện các nội dung trong Luật thanh niên, các bộ, ngành và địa phương đã ban hành hoặc lồng ghép các cơ chế, chính sách để tạo điều kiện cho thanh niên tham gia hoạt động, nghiên cứu khoa học. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ phát động phong trào nghiên cứu khoa học trong học sinh, sinh viên, cán bộ trẻ; tạo điều kiện cho thanh niên tham gia và làm chủ nhiệm các đề tài nghiên cứu khoa học; tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ trong độ tuổi thanh niên. Một số địa phương đã dành kinh phí phát triển khoa học công nghệ hàng năm cho các hoạt động triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật trong thanh niên.

Tuy nhiên, số lượng thanh niên tham gia nghiên cứu khoa học còn ít. Tại các trường đại học, các giảng viên trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm và uy tín để được tham gia những đề tài lớn; kinh phí của các trường, viện hạn hẹp; các giảng viên, cán bộ trẻ đang phải nỗ lực học tập vươn lên, một bộ phận vẫn phải lo kiếm sống vì lương thấp. Vì vậy, cần có những chính sách cụ thể để khuyến khích sự tham gia tích cực và hiệu quả hơn từ thanh niên đối với công tác nghiên cứu khoa học.

- Trong lao động và tạo việc làm

Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành và tổ chức triển khai nhiều chính sách pháp luật liên quan đến việc làm cho thanh niên: Đề án ''Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 - 2015”17; Đoàn thanh niên thực hiện các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện cho thanh niên lập thân, lập nghiệp18. Hoạt động đào tạo nghề được đa dạng hóa về phương thức đào tạo19, mở rộng cơ hội tham gia cho đông đảo đối tượng thanh niên như: thanh niên nông thôn, người dân tộc thiểu số, thanh niên trong diện chính sách, bộ đội xuất ngũ, đối tượng bị thu hồi đất canh tác, lao động xuất khẩu... Chất lượng đào tạo nghề được chú trọng hơn, đào tạo gắn với yêu cầu sử dụng và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động cho thanh niên cả trong và ngoài nước. Hoạt động giới thiệu việc làm được tổ chức thường xuyên, đa dạng về hình thức như: tổ chức hội chợ, sàn giao dịch, trung tâm tư vấn giới thiệu việc làm cho thanh niên, xây dựng trang web về việc làm...

Tuy nhiên, việc định hướng nghề nghiệp, giới thiệu việc làm cho thanh niên còn nhiều bất cập; công tác phân luồng học sinh học nghề sau tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở chưa hiệu quả; việc đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho thanh niên còn hạn chế; tỷ lệ thanh niên thất nghiệp còn cao20, đáng lưu ý là tỷ lệ lao động trình độ cao thất nghiệp đang có xu hướng tăng21. Chính sách thu hút thanh niên có trình độ làm việc tại địa phương chưa thực sự hấp dẫn. Chính sách hỗ trợ vay vốn cho thanh niên lập nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của thanh niên22.

- Trong bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự

Luật thanh niên nêu rõ bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của thanh niên. Nhận thức được vấn đề này, công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức an ninh, quốc phòng, truyền thống yêu nước, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên luôn được các bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện. Hàng năm, cơ quan quân sự các cấp phối hợp với các trường học trên địa bàn tổ chức bồi dưỡng kiến thức quân sự, quốc phòng cho thanh niên, tổ chức các lớp huấn luyện dân quân tự vệ, quân dự bị động viên; phát huy vai trò của thanh niên, nhất là thanh niên trong lực lượng công an, dân quân tự vệ trong việc tuần tra, phát hiện và tham gia giải quyết các vụ vi phạm pháp luật, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội.



- Trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, vui chơi, giải trí

Nhà nước đã ban hành chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư, xây dựng các công trình và tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí cho thanh niên. Đến nay, đa số các tỉnh đều có nhà văn hóa, hoặc trung tâm văn hóa để phục vụ các hoạt động của thanh niên... Bộ VHTT&DL đã cùng với Trung ương Đoàn ký kết chương trình đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trong thanh, thiếu niên; đồng thời tổ chức triển khai đề án về quy hoạch tổng thể và chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở văn hóa, vui chơi, giải trí cho thanh niên. Các cấp, ngành và địa phương đã quan tâm đầu tư, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ với hình thức phong phú, chất lượng ngày càng cao, thu hút được đông đảo thanh niên tham gia.

Tuy nhiên, cơ sở vật chất phục vụ việc vui chơi giải trí và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao cho thanh niên còn thiếu và ở một số nơi còn sử dụng sai mục đích. Việc giảm phí tham quan bảo tàng, di tích lịch sử, văn hóa cách mạng cho thanh niên theo quy định của Luật chưa được các cơ quan hữu quan hướng dẫn, thực hiện.

- Trong bảo vệ sức khỏe, hoạt động thể dục, thể thao; hôn nhân và gia đình

Để cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong bảo vệ sức khỏe, hoạt động thể dục, thể thao; hôn nhân và gia đình được quy định trong Luật thanh niên, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã phê duyệt nhiều chiến lược, đề án chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể dục thể thao trong đó có đối tượng thanh niên23. Công tác quy hoạch, phát triển các cơ sở hoạt động thể dục, thể thao cho thanh niên và ban hành cơ chế, chính sách cho các vận động viên thi đấu thể thao luôn được các cấp, ngành và các địa phương quan tâm thực hiện. Công tác tuyên truyền, tư vấn sức khỏe sinh sản cho thanh niên; giáo dục kiến thức về hôn nhân, lối sống và cách ứng xử trong gia đình đã được quan tâm.

Tuy nhiên, việc tiếp cận thông tin về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của thanh niên còn gặp nhiều khó khăn; tỷ lệ nạo phá thai trong lứa tuổi thanh niên, vị thành niên cao. Tỷ lệ ly hôn trong các cặp vợ chồng trẻ có xu hướng gia tăng. Tầm vóc, thể lực của thanh niên Việt Nam còn thua kém thanh niên nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

- Trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội

Khoản 2, Điều 23 Luật thanh niên quy định việc thực hiện trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức lấy ý kiến của thanh niên trước khi quyết định những chủ trương, chính sách liên quan đến thanh niên; khoản 2, Điều 16 Luật thanh niên quy định về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của thanh niên trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Trên cơ sở đó, hiện nay không ít các cơ quan đơn vị đưa cán bộ, công chức trẻ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt vào quy hoạch chức danh lãnh đạo, quản lý24 và có kế hoạch đào tạo làm dự nguồn nhân lực lâu dài. Bên cạnh đó, thông qua phương thức cử đại diện thanh niên tham gia Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, thanh niên đã tham gia giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đề xuất các kiến nghị với chính quyền địa phương các cấp25.

Việc lấy ý kiến của thanh niên hoặc tổ chức thanh niên trước khi quyết định những chủ trương, chính sách liên quan đến thanh niên ngày càng được các cấp, các ngành chú trọng. Định kỳ hàng năm, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền từ trung ương đến địa phương đã làm việc với tổ chức Đoàn, đối thoại với thanh niên để nắm bắt tình hình, tâm tư nguyện vọng, giải quyết những vấn đề đặt ra đối với thanh niên.

Tuy nhiên, tại một số địa phương, công tác quy hoạch, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ trẻ cũng chưa được quan tâm đúng mức; tỷ lệ cán bộ, lãnh đạo trẻ trong cấp ủy, chính quyền, các cơ quan dân cử còn chưa đạt mục tiêu đề ra. Việc tổ chức lấy ý kiến thanh niên ở một số nơi còn mang tính hình thức, các ý kiến, kiến nghị của thanh niên chưa được quan tâm tiếp thu, giải quyết.



3.2. Kết quả thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với các nhóm thanh niên đặc thù

- Đối với thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện

Thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện là một trong những lực lượng nòng cốt trong hoạt động thanh niên. Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích đối với thanh niên xung phong (TNXP) tham gia phát triển kinh tế - xã hội26. Đến nay, cả nước đã có 25 tổng đội TNXP xây dựng phát triển kinh tế. Các tổng đội TNXP thường làm nhiệm vụ ở những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; gắn với việc thực hiện các chương trình, dự án đặc thù như: xây dựng vùng kinh tế mới, di dân tái định cư, nuôi trồng thủy hải sản, đào tạo nghề; giáo dục, điều trị bệnh... Nhiều dự án do TNXP thực hiện đã đạt hiệu quả tốt như Dự án xây dựng Làng thanh niên lập nghiệp, Dự án xây dựng Đảo thanh niên, Dự án xây dựng cầu giao thông nông thôn…

Bên cạnh đó, các phong trào thanh niên tình nguyện được phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Bộ Nội vụ và các bộ ngành đang triển khai một số dự án phát huy lực lượng thanh niên tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở vùng khó khăn27.

Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức này còn một số bất cập: tổ chức TNXP ở một số nơi chưa nhận được sự quan tâm thích đáng của chính quyền địa phương; hoạt động tình nguyện của thanh niên chưa có sự quản lý của cơ quan Nhà nước28; chế độ, chính sách đối với thanh niên bị tai nạn khi tham gia hoạt động tình nguyện có tổ chức chưa được quy định29. Một số dự án mặc dù bước đầu đã phát huy được hiệu quả nhưng việc quy hoạch và bố trí việc làm cho những tình nguyện viên sau khi hoàn thành nhiệm vụ vẫn còn gặp nhiều khó khăn.



- Đối với thanh niên có tài năng

Nhà nước đã ban hành một số chính sách đối với thanh niên tài năng như: cấp học bổng khuyến khích học tập cho những thanh niên đạt kết quả học tập xuất sắc; chính sách đào tạo, bồi dưỡng thanh niên có tài năng; có cơ chế, chính sách thu hút trí thức trẻ có trình độ cao về công tác tại các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương; chính sách đối với tài năng trẻ trong lĩnh vực văn hóa, thể thao... Các bộ, ngành và nhiều địa phương đã xây dựng chính sách thu hút, quy hoạch, đào tạo sử dụng nguồn nhân lực trẻ; kịp thời tuyên dương, tôn vinh tài năng trẻ.

Tuy nhiên, việc thể chế hóa các chính sách thu hút thanh niên có tài năng còn nhiều hạn chế; những chính sách đối với thanh niên có tài năng theo đối tượng, ngành, lĩnh vực tính đến nay chưa đầy đủ, chưa thống nhất giữa các địa phương; chưa tạo ra hệ thống chính sách đồng bộ từ khâu phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng. Hầu hết các chính sách còn nặng về thu hút, đãi ngộ ban đầu nhưng chưa đề cập rõ việc bố trí, sử dụng để thanh niên có tài năng phát triển, sáng tạo và cống hiến.

- Đối với thanh niên dân tộc thiểu số

Chính sách của Nhà nước đối với thanh niên dân tộc thiểu số được quy định tại Điều 24, Luật thanh niên. Nhà nước đã ban hành và triển khai tích cực các chính sách, pháp luật trong đào tạo, bồi dưỡng thanh niên dân tộc thiểu tham gia phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời ban hành cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số; tiếp tục tạo điều kiện để thanh niên dân tộc thiểu số tham gia thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo và các dự án xây dựng nông thôn, miền núi đạt hiệu quả. Chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi tiếp tục được cải thiện; hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, dự bị đại học được củng cố và phát triển.



- Đối với thanh niên khuyết tật, thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma túy, sau cải tạo

Đối với thanh niên khuyết tật, Nhà nước đã ban hành các chính sách hỗ trợ kinh phí học nghề, miễn giảm các khoản đóng góp xây dựng trường, hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa, cấp học bổng, tạo việc làm... Tuy nhiên, tỷ lệ thanh niên khuyết tật được học nghề còn thấp, phần lớn việc làm không ổn định; gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ y tế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

Đối với thanh niên nhiễm HIV/AIDS, thanh niên sau cai nghiện ma túy, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tư vấn miễn phí về tâm lý, xã hội để tái hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ một phần tiền ăn, chi phí khám, chữa bệnh; hỗ trợ học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao để giúp họ xóa bỏ mặc cảm vươn lên hòa nhập cộng đồng.

Tuy nhiên, công tác giải quyết việc làm, hỗ trợ vốn cho thanh niên sau cai nghiện, sau cải tạo tuy được quan tâm nhưng kết quả còn hạn chế, tệ nạn nghiện ma túy vẫn có chiều hướng gia tăng; tình hình tội phạm trong thanh niên còn diễn biến phức tạp.



III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Kết quả đạt được

Qua 9 năm triển khai thực hiện, Luật thanh niên và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã tạo được hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác QLNN về thanh niên, phát huy được vai trò và tiềm năng của lực lượng thanh niên trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Tổ chức bộ máy QLNN về thanh niên được thành lập; vị trí, vai trò của các tổ chức thanh niên được nâng lên. Nhận thức của các ngành, các cấp và các địa phương về công tác thanh niên có nhiều chuyển biến. Thanh niên được quan tâm, tạo điều kiện thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Hoạt động đối ngoại nhà nước về thanh niên được tăng cường và mở rộng.



2. Bất cập, hạn chế

Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện Luật thanh niên cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế: công tác xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật còn chậm và thiếu đồng bộ; nội dung quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật còn chồng chéo, thiếu tính khả thi. Tổ chức bộ máy QLNN về công tác thanh niên chậm được kiện toàn; lực lượng cán bộ chuyên trách làm công tác thanh niên còn mỏng và thiếu ổn định. Công tác phối hợp trong triển khai hoạt động giữa các ngành, các cấp trong QLNN về công tác thanh niên chưa chặt chẽ; nhiều nơi chưa quan tâm đúng mức tới việc thể chế hóa chính sách, pháp luật về thanh niên trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển về kinh tế - xã hội của đơn vị, địa phương. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên còn chưa được thực hiện thường xuyên và hiệu quả



3. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế

- Về khách quan: Đây là một đạo luật có phạm vi, đối tượng điều chỉnh rộng, liên quan đến hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi tinh thần nỗ lực và trách nhiệm của không chỉ các cơ quan quản lý nhà nước nói chung, cơ quan quản lý nhà nước về công tác thanh niên nói riêng mà còn của toàn bộ xã hội, cũng như cần có nguồn lực đủ lớn để thực hiện một cách có hiệu quả các chính sách đề ra. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế - xã hội đất nước còn nhiều khó khăn nên nhiều chính sách ưu tiên cho đối tượng thanh niên còn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức và triển khai kịp thời.

- Về chủ quan: Một số bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện nghiêm túc trách nhiệm được giao, việc ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện Luật thanh niên còn rất chậm. Nội dung QLNN về công tác thanh niên trong các VBQPPL còn chưa cụ thể và thiếu thống nhất, có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thực hiện. Chưa có sự phân công rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện Luật thanh niên. Bộ máy QLNN về thanh niên thiếu tính ổn định, hoạt động chưa hiệu quả. Vai trò của tổ chức thanh niên trong việc giám sát, thúc đẩy việc thực hiện Luật thanh niên còn chưa được phát huy. Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật chưa thực sự sâu rộng và thường xuyên nên nhận thức về công tác thanh niên và việc thực hiện Luật thanh niên của nhiều cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thật đầy đủ, cá biệt có nơi vẫn còn coi công tác thanh niên là hoạt động phong trào và thuộc trách nhiệm của tổ chức Đoàn Thanh niên; nhiều thanh niên còn chưa nắm rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của mình được quy định trong Luật thanh niên.

IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1. Đối với Quốc hội

Đề nghị sớm sửa đổi, bổ sung Luật thanh niên, trong đó cần quan tâm những nội dung sau:

- Nghiên cứu quy định thống nhất độ tuổi thanh niên trong hệ thống pháp luật của Việt Nam30 cũng như tiệm cận với các quy định của quốc tế31. Bổ sung các cơ chế, nguồn lực thực hiện Luật thanh niên và các chính sách đối với thanh niên; có chế tài xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm. Quy định cơ chế khuyến khích và bảo đảm sự tham gia của thanh niên trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ. Bổ sung chính sách của nhà nước đối với thanh niên tình nguyện. Cụ thể hóa việc Nhà nước tạo điều kiện, phát huy vai trò của các tổ chức thanh niên.

- Bổ sung và hoàn thiện các quy định QLNN về công tác thanh niên: Quy định cụ thể cơ quan làm đầu mối giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc chủ trì, phối hợp thực hiện Luật thanh niên. Quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thực hiện Luật thanh niên. Cụ thể hóa nội dung hợp tác quốc tế về công tác thanh niên.



2. Đối với Chính phủ

Đề nghị Chính phủ:

- Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện Dự án Luật thanh niên (sửa đổi).

- Tổng kết để sửa đổi, bổ sung Nghị định 120 cho phù hợp với thực tiễn; trong đó có việc giao cơ quan chủ trì, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Luật thanh niên.

- Chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Luật thanh niên; bảo đảm nguồn lực để thực hiện các chương trình, đề án, dự án, chiến lược về thanh niên đã ban hành.

- Tổng kết, nghiên cứu hoạt động thanh niên lập nghiệp, tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo an ninh - quốc phòng tại vùng biên giới, hải đảo, từ đó có những chính sách thỏa đáng để phát huy trong thời gian tới. Có chính sách quy hoạch, bố trí, sử dụng các trí thức trẻ tình nguyện đã hoàn thành tốt nhiệm vụ sau khi tham gia các dự án.

- Xem xét lại chủ trương thành lập Hội đồng Công tác thanh niên; tiếp tục nghiên cứu mô hình tổ chức phối hợp liên ngành về công tác thanh niên cấp tỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Hoàn thiện tổ chức, bộ máy, cán bộ QLNN về công tác thanh niên theo Kết luận số 327-TB/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị về Đề án tổ chức bộ máy QLNN về công tác thanh niên.

3. Đối với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Thực hiện tốt vai trò đại diện và chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng và hợp pháp của thanh niên; phát huy vai trò tư vấn, giám sát và phản biện xã hội đối với việc thực hiện Luật thanh niên và các chính sách, pháp luật có liên quan đến thanh niên; hướng dẫn, tạo điều kiện, tổ chức các hình thức cho thanh niên tham gia xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến thanh niên.



4. Đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố

Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố tăng cường giám sát việc thực hiện Luật thanh niên và các chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên; phân bổ nguồn ngân sách phù hợp đối với hoạt động thanh niên ở địa phương.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tăng cường tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Luật thanh niên và các chính sách, pháp luật có liên quan đến thanh niên; phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan có liên quan và chính quyền các cấp thực hiện các quy định của Luật thanh niên; xây dựng cơ chế, chính sách đối với thanh niên thuộc trách nhiệm địa phương; xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện các nội dung Chiến lược phát triển thanh niên; nghiên cứu xây dựng các dự án huy động thanh niên tham gia hoạt động tình nguyện, xây dựng KT-XH ở địa phương.

Trên đây là Báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban VHGDTNTN&NĐ về việc thực hiện Luật thanh niên, kính trình Quốc hội xem xét.




Nơi nhận:

- Các vị đại biểu Quốc hội;

- Văn phòng Chính phủ;

- Các bộ, cơ quan ngang bộ;

- T.Ư Đoàn TNCS HCM; Ủy ban Quốc gia về thanh niên VN;

- Thường trực HĐND, Ban Văn hoá - Xã hội HĐND các tỉnh/tp;

- Lưu HC, VHGDTTN;

- Số e-PAS:71410



TM. ỦY BAN VĂN HÓA, GIÁO DỤC,
THANH NIÊN, THIẾU NIÊN VÀ NHI ĐỒNG


CHỦ NHIỆM

(Đã ký)

Đào Trọng Thi




1 TP.Hà Nội, Thái Bình, Lạng Sơn, Kiên Giang, TP.Hồ Chí Minh; các bộ: Nội vụ, Kế hoạch và Đầu tư , Tài chính, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Lao động - TBXH, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam.

2 Theo Báo cáo của Chính phủ trình trước Quốc hội, hàng năm có đến 16.000 – 18.000 người chưa thành niên phạm tội, chiếm 15 - 18% tội phạm. Trong 5 năm (2007 - 2012), lực lượng công an đã điều tra hơn 49.000 vụ phạm pháp hình sự với gần 76.000 đối tượng chưa thành niên phạm pháp.

3TP Hà Nội, Bắc Ninh, Gia Lai, Hà Giang, Cà Mau…

4 Đến nay mới có 10 tỉnh, thành phố thành lập Hội đồng công tác thanh niên cấp tỉnh (theo Điều 21 và Điều 22 Nghị định 120).

5 Mục 20, Điều 2 Nghị định 48 quy định QLNN về công tác thanh niên: a) Chủ trì, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các VNQPPL, chiến lược, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên; b) Hướng dẫn việc lồng ghép các cơ chế, chính sách đối với thanh niên trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình mục tiêu của các cấp, các ngành; c) Tổng kết, sơ kết, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện các quy định của pháp luật đối với thanh niên.

6 Điều 22, Nghị định 120. Trách nhiệm của UBQG về thanh niên Việt Nam: 1. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xây dựng quy chế phối hợp quản lý nhà nước về công tác thanh niên trong cả nước. 2. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các tỉnh, thành phố và TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của Luật Thanh niên và các quy định tại Nghị định này. 3. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thống kê, tổng hợp và định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện chính sách pháp luật đối với thanh niên và công tác thanh niên trong cả nước.

7 Từ năm 2011 đến nay, Bộ Nội vụ đã tổ chức 15 lớp tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ quản lý nhà nước về công tác thanh niên tại 3 miền (Bắc, Trung, Nam) cho 1.650 lượt lãnh đạo, cán bộ, công chức Vụ (Ban) Tổ chức cán bộ của các bộ, ngành Trung ương, Sở Nội vụ, Phòng Công tác thanh niên và Phòng Nội vụ cấp huyện

8Thông báo số 327-TB/TW ngày 16/4/2010 quy định: Sở Nội vụ được thành lập "Phòng công tác thanh niên” để thực hiện nhiệm vụ QLNN về công tác thanh niên trên địa bàn.

9 Hàng năm UBQG về thanh niên VN và Bộ Nội vụ tổ chức đi kiểm tra gần 50 tỉnh, thành phố.

10 Từ năm 2008- 2014, Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam, Trung ương Đoàn đã tổ chức 365 đoàn ra với 10.848 lượt người và đón 206 đoàn vào với 5.608 lượt người.

11 Nghị định 48 không giao nhiệm vụ này cho Bộ Nội vụ thực hiện.

12 Mục d, khoản 1, Điều 21 Nghị định 120 quy định: “Thành lập Hội đồng công tác thanh niên làm công tác tư vấn giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác thanh niên. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng công tác thanh niên do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi thống nhất với Ủy ban quốc gia về thanh niên Việt Nam”.

13Cả nước hiện có 63 tỉnh, thành đoàn và 04 đoàn trực thuộc, được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương

14 Chương trình “Tiếp sức mùa thi”, “Tiếp sức đến trường”, “Khi tôi 18”, phong trào “Sáng tạo trẻ”…

15 Tính đến cuối tháng 12/2014, dư nợ tăng 1.500 tỷ đồng so với năm 2013, đưa tổng số nợ trong toàn hệ thống đạt trên 14.190 tỷ đồng với trên 770.000 gia đình được vay vốn tại 23.126 tổ tiết kiệm và vay vốn do Đoàn quản lý (Nguồn: Báo cáo trung ương đoàn về việc thực hiện Luật thanh niên)

16 Đến 31/8/2014, doanh số cho vay đạt 50.398 tỷ đồng (trên 7.000 tỷ đồng/năm); dư nợ là 30.695 tỷ đồng. Chương trình đã cho vay trên 3,2 triệu lượt HSSV, đến nay còn gần 1,8 triệu HSSV đang vay vốn

17 Gồm các nội dung: Nâng cao nhận thức của thanh niên và xã hội về nghề nghiệp, việc làm; Hỗ trợ, tư vấn thanh niên khởi sự doanh nghiệp và lập nghiệp; Xây dựng các Trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm thanh niên; Giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách của nhà nước về học nghề, tạo việc làm cho thanh niên; thực hiện các chính sách tín dụng hỗ trợ thanh niên học nghề, tạo việc làm.

18 Như: Đề án xây dựng cầu giao thông nông thôn; Đề án Làng thanh niên lập nghiệp; Đề án xây dựng đảo Thanh niên...

19 Các hình thức đào tạo: chính quy, tập trung, lưu động, dạy nghề tại doanh nghiệp, làng nghề...

20 Năm 2013, có 47% người trong độ tuổi từ 15-24 thất nghiệp trong tổng số hơn 1 triệu người thất nghiệp.

21 Số lao động trình độ ĐH, CĐ thất nghiệp năm 2014 so với 2010 tăng 103%

22 Chủ yếu mới trong lĩnh vực nông nghiệp; mức cho vay thấp, lãi xuất chưa linh hoạt; mới chỉ đáp ứng 30-35% nhu cầu vay vốn của lao động.

23 Như: Chiến lược DS, SKSS Việt Nam 2011-2020; Đề án tổng thể phát triển thể lực tầm vóc người Việt giai đoạn 2011-2030; Kế hoạch tổng thể quốc gia về Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của VTN/TN Việt Nam 2006-2010 định hướng đến 2020; Đề án hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật TDTT quốc gia đến năm 2010; quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, TDTT cơ sở giai đoạn 2012-2020...

24 Từ 2007 đến 2010, có 91 cán bộ đoàn cấp tỉnh được giới thiệu tham gia cấp ủy, 80 đ/c được bầu (đạt 88%); 995 cán bộ Đoàn cấp huyện được giới thiệu, 891 đ/c được bầu (đạt 89,5%); 12.671cán bộ Đoàn cấp xã, phường, thị trấn được giới thiệu, 11.331 đ/c được bầu (đạt 89,4%); 7.137 cán bộ Đoàn và chi đoàn cơ sở được giới thiệu, 6107 đ/c được bầu (đạt 85,6%).

25 Từ năm 2008 đến nay, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tham gia góp ý 156 dự thảo VBQPPL. Các cấp bộ đoàn đã tổ chức cho ĐVTNđóng góp 1.180.022 ý kiến góp ý vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

26 Nghị định số 12/2011/NĐ-CP Ngày 30/01/2011 của Chính phủ về tổ chức và chính sách đối với TNXP;Thông tư số 11/2011/TT-BNV ngày 26/9/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 12; Thông tư Liên tịch số 119/2013/TTLT-BTC-BNV ngày 26/8/2013 của Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hoạt động thường xuyên của các tổ chức TNXP.

27 Dự án 600 trí thức trẻ ưu tú, có trình độ đại học làm Phó chủ tịch UBND xã thuộc 64 huyện nghèo; Dự án trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi...

28 Về tổ chức và hoạt động, về chính sách và tài chính, về nghĩa vụ và quyền lợi.

29 Từ năm 2000 đến năm 2011, đã có 13 thanh niên bị chết trong khi tham gia các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng; có 05 trí thức trẻ bị chết trong khi tham gia dự án trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi… Hiện tại mới chỉ có các hình thức do Đoàn thanh niên thực hiện như: động viên, thăm hỏi, tặng huy hiệu tuổi trẻ dũng cảm, hỗ trợ kinh phí cho gia đình có TNTN bị nạn.

30 Luật Thanh niên, Luật BVCSGDTE, Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự…

31 Kiến nghị của Ban VHXH, HĐND tỉnh An Giang, Hà Tĩnh, Kiên Giang, Bình Dương, Hưng Yên.




: userfiles -> files -> VanBanTaiLieuQH -> KY%20HOP%20THU%2010
KY%20HOP%20THU%2010 -> PHỤ LỤC 1 danh mục văn bản chỉ ĐẠo về CẤp giấy chứng nhận quyền sử DỤng đẤT
KY%20HOP%20THU%2010 -> ChuyểN ĐỔi thế giới của chúng ta: chưƠng trình nghị SỰ 2030 VÌ SỰ phát triển bền vững mở đầu
KY%20HOP%20THU%2010 -> Ủy ban tư pháp số: 2938/bc-ubtp13 CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
KY%20HOP%20THU%2010 -> BẢng tổng hợP Ý kiến góP Ý CỦa doanh nghiệP
KY%20HOP%20THU%2010 -> CHÍnh phủ CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc Số: 603/bc- cp hà Nội, ngày 04 tháng 11 năm 2015 BÁo cáO
KY%20HOP%20THU%2010 -> Phụ lục TỔng hợp tình hình tiếp nhận và trả LỜi chất vấn củA ĐẠi biểu quốc hộI
KY%20HOP%20THU%2010 -> BÁo cáo tổng kếT 10 NĂm thi hành luật dưỢC




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương