PHẬt giáo nguyên thủy theravāda nền tảng phật giáO


ĐỀ MỤC NIỆM ÂN ĐỨC PHẬT (BUDDHANUSSATI)



tải về 1.48 Mb.
trang5/25
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích1.48 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   25

ĐỀ MỤC NIỆM ÂN ĐỨC PHẬT
(BUDDHANUSSATI)


Ân đức Phật là đối tượng của đề mục niệm Ân đức Phật. Đề mục niệm Ân đức Phật là 1 trong 10 đề mục niệm (ānussati) cũng là 1 trong 40 đề mục thiền định.

Muốn tiến hành đề mục niệm Ân đức Phật, trước tiên hành giả cần phải học hỏi, nghiên cứu cho hiểu rõ ý nghĩa 9 Ân đức Phật kỹ càng từng các chi pháp cho thật rành rẽ phần pháp học.

Về phần pháp hành, trước khi tiến hành đề mục niệm Ân đức Phật, hành giả có đức tin nơi Tam Bảo:

Nếu là người cận sự nam, cận sự nữ, thì nên xin thọ phép quy y Tam Bảo và ngũ giới hoặc bát giới, cửu giới...

Nếu là Sadi, thì nên xin thọ phép quy y Tam Bảo và Sadi thập giới với vị Thầy tế độ hoặc với một vị Đại đức.

Nếu là vị Tỳ khưu, thì nên xin sám hối āpatti với một vị Tỳ khưu khác.

Như vậy, là thuộc về phần pháp hành giới.

Khi hành giả đã có giới trong sạch trọn vẹn sẽ làm nền tảng cho pháp hành thiền định đề mục niệm Ân đức Phật.



Phương pháp niệm Ân đức Phật

9 Ân đức này chỉ có nơi Chư Phật Chánh Đẳng Giác mà thôi. Ngoài Chư Phật ấy ra, không có một Samôn, Bàlamôn, chư thiên, chư phạm thiên nào có đầy đủ trọn vẹn 9 Ân đức này. Do đó gọi là 9 Ân đức Phật. Chư Phật trong quá khứ, Đức Phật trong hiện tại, Chư Phật trong vị lai đều có 9 Ân đức này.

Để dễ liên tưởng đến 9 Ân đức Phật, hành giả nên ngồi trước tượng Đức Phật hoặc trước ngôi Bảo Tháp nơi tôn thờ Xá lợi của Đức Phật, hoặc tại Đại cội Bồ đề nơi Đức Bồ Tát chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, hoặc một nơi thanh vắng, để thuận lợi tiến hành đề mục niệm Ân đức Phật.

Niệm Ân đức Phật có nhiều cách.



Cách thứ nhất (phổ thông): Niệm 9 Ân đức Phật

Hành giả tiến hành niệm 9 Ân đức Phật như sau:

Itipi so Bhagavā Arahaṃ, Sammāsambuddho, Vijjācaraṇasampanno, Sugato, Lokavidū, Anuttaro purisadammasāratthi, Satthādevamanussānaṃ, Buddho, Bhagavā.”...

Hành giả tâm niệm đến Ân đức Phật nào, nên hiểu rõ ý nghĩa và chi pháp của Ân đức Phật ấy, định tâm theo dõi mỗi Ân đức Phật như vậy, hằng trăm lần, hằng ngàn lần... trong suốt thời gian tiến hành niệm 9 Ân đức Phật, để làm tăng trưởng đức tin trong sạch nơi Đức Phật Bảo.



Cách thứ nhì: Niệm một câu Ân đức Phật.

Hành giả có thể chọn một câu Ân đức Phật nào trong 9 Ân đức Phật làm đối tượng, để tiến hành niệm Ân đức Phật, nên hiểu rõ ý nghĩa và chi pháp của Ân đức Phật ấy, luôn định tâm nơi Ân đức Phật ấy.

Ví dụ: Niệm Ân đức Phật thứ nhất Itipi so Bhagavā Arahaṃ..., Itipi so Bhagavā Arahaṃ...

Hoặc: Niệm Ân đức Phật thứ tám Itipi so Bhagavā Buddho..., Itipi so Bhagavā Buddho...

Hoặc: Niệm Ân đức Phật thứ chín Itipi so Bhagavā Bhagavā..., Itipi so Bhagavā Bhagavā...

Hành giả tâm niệm câu Ân đức ấy đồng thời hiểu rõ ý nghĩa và chi pháp của Ân đức Phật ấy, định tâm theo dõi Ân đức Phật ấy hằng trăm lần, hằng ngàn lần... trong suốt thời gian tiến hành niệm Ân đức Phật, để làm tăng trưởng đức tin trong sạch nơi Đức Phật Bảo.



Cách thứ ba: Niệm một danh hiệu Ân đức Phật.

Hành giả có thể chọn một danh hiệu Ân đức Phật nào trong 9 Ân đức Phật làm đối tượng, để tiến hành niệm Ân đức Phật, nên hiểu rõ ý nghĩa và chi pháp của danh từ Ân đức Phật ấy, luôn định tâm nơi Ân đức Phật ấy.

Ví dụ: Niệm Arahaṃ..., Arahaṃ..., Arahaṃ...

Hoặc: Niệm Buddho..., Buddho..., Buddho...

Hoặc: Niệm Bhagavā..., Bhagavā..., Bhagavā...

Hành giả tâm niệm danh từ Ân đức Phật ấy đồng thời hiểu rõ ý nghĩa và chi pháp của Ân đức Phật ấy, định tâm theo dõi Ân đức Phật ấy hằng trăm lần, hằng ngàn lần... suốt trong thời gian tiến hành niệm Ân đức Phật, để làm tăng trưởng đức tin trong sạch nơi Đức Phật Bảo.

Đề mục niệm Ân đức Phật là một đề mục dễ làm cho phát sinh đức tin nơi Tam Bảo, mà đức tin là nền tảng mọi thiện pháp từ dục giới thiện pháp, sắc giới thiện pháp, vô sắc giới thiện pháp cho đến Siêu tam giới thiện pháp.

Đề mục niệm Ân đức Phật không chỉ là đề mục thiền định, có khả năng dẫn đến chứng đạt cận định, mà còn là đối tượng làm nền tảng để tiến hành thiền tuệ, dẫn đến sự nhàm chán trong ngũ uẩn, diệt tận tham ái, phiền não, chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn được. Như Đức Phật dạy:

Này chư Tỳ khưu, có một pháp hành mà hành giả đã tiến hành, đã hành thuần thục, chắc chắn dẫn đến phát sinh sự nhàm chán trong ngũ uẩn, danh pháp - sắc pháp, để diệt tận tham ái, sân hận, si mê, để làm vắng lặng mọi phiền não, để phát sinh trí tuệ thiền tuệ, thấy rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, để chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn.

Pháp hành ấy là gì?

Pháp hành ấy chính là Buddhānussati: pháp hành niệm Ân đức Phật.

Này chư Tỳ khưu, pháp hành niệm Ân đức Phật, mà hành giả đã tiến hành, đã hành thuần thục, chắc chắn dẫn đến phát sinh sự nhàm chán trong ngũ uẩn, danh pháp, sắc pháp, để diệt tận tham ái, sân hận, si mê, để làm vắng lặng mọi phiền não, để phát sinh trí tuệ thiền tuệ, thấy rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, để chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn” [22] .

Qua lời giáo huấn của Đức Phật trên, thì đề mục niệm Ân đức Phật không chỉ là đề mục thiền định, mà còn làm nền tảng để tiến hành thiền tuệ nữa.

Đề mục niệm Ân đức Phật có hai giai đoạn:



Giai đoạn đầu: Đề mục niệm Ân đức Phật thuộc thiền định, hành giả tiến hành niệm Ân đức Phật có khả năng dẫn đến sự chứng đạt đến cận định (phương pháp đã trình bày ở phần trước).

Giai đoạn sau: Sau khi tiến hành đề mục niệm Ân đức Phật chứng đạt đến cận định, hành giả cần phải thoát ra khỏi đề mục niệm Ân đức Phật, dùng tâm cận định của đề mục niệm Ân đức Phật làm đối tượng, làm nền tảng để tiến hành thiền tuệ.

Pháp hành thiền tuệ

Hành giả tiến hành thiền tuệ cần phải có danh pháp, sắc pháp hoặc thân, thọ, tâm, pháp thuộc Chân nghĩa pháp (Paramatthadhamma) làm đối tượng thiền tuệ.



Đề mục niệm Ân đức Phật làm nền tảng, làm đối tượng để tiến hành thiền tuệ như thế nào?

Đúng theo thực tánh của các pháp, thì không có người niệm Ân đức Phật, mà chỉ có tâm đại thiện hợp với trí tuệ làm phận sự niệm Ân đức Phật mà thôi.

Hành giả tiến hành thiền định với đề mục niệm Ân đức Phật đạt đến cận định được phân tích theo danh pháp sắc pháp như sau:

Tâm cận định này là tâm đại thiện hợp với trí tuệ thuộc về danh pháp

(thuộc về phần niệm tâm trong Tứ Niệm Xứ).



Tâm cận định này nương nhờ nơi (hadayavatthu) sắc ý căn thuộc về sắc pháp.

Như vậy, danh pháp liên quan với sắc pháp này làm đối tượng của pháp hành thiền tuệ.

Hay một cách khác:

Tâm cận định này là tâm đại thiện hợp với trí tuệ, thuộc về thức uẩn.

Thọ tâm sở đồng sinh với tâm đại thiện ấy, thuộc về thọ uẩn.

Tưởng tâm sở đồng sinh với tâm đại thiện ấy, thuộc về tưởng uẩn.

Các tâm sở còn lại đồng sinh với tâm đại thiện ấy, thuộc về hành uẩn.

Sắc ý căn (hadayavatthu) là nơi nương nhờ để phát sinh tâm cận định (tâm đại thiện ấy), thuộc sắc uẩn.

(ngũ uẩn này, thuộc về phần niệm pháp trong Tứ Niệm Xứ)

Như vậy, ngũ uẩn này làm đối tượng của pháp hành thiền tuệ.

Hành giả tiến hành thiền tuệ, có chánh niệm, có trí tuệ thiền tuệ, thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp hoặc ngũ uẩn có sự sinh, sự diệt; trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp hoặc của ngũ uẩn, dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái, mọi ác pháp, trở thành bậc Thánh Arahán.

Như vậy, gọi là đề mục niệm Ân đức Phật làm nền tảng để tiến hành thiền tuệ.

Như Đức Phật dạy:

Này chư Tỳ khưu, pháp hành niệm Ân đức Phật mà hành giả đã tiến hành, đã hành thuần thục, chắc chắn dẫn đến phát sinh sự nhàm chán trong ngũ uẩn, danh pháp, sắc pháp này, để diệt tận tham ái, sân hận, si mê, để làm vắng lặng mọi phiền não, để phát sinh trí tuệ thiền tuệ, thấy rõ, biết rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, để chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn”.

Quả báu đặc biệt niệm Ân đức Phật

Hành giả tiến hành niệm Ân đức Phật, trong kiếp hiện tại chưa chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn, hành giả sẽ được hưởng những quả báu đặc biệt ngay trong kiếp hiện tại và nhiều kiếp vị lai như sau:



- Được phần đông chúng sinh kính trọng.

- Tâm thiện trong sạch thanh tịnh.

- Khi sắp chết, tâm bình tĩnh sáng suốt, không mê muội.

- Sau khi chết, do thiện nghiệp này cho quả tái sinh làm người cao quý hoặc chư thiên cao quý.

- Tái sinh kiếp nào cũng thuộc hàng chúng sinh cao quý.

- Có sắc thân xinh đẹp đáng ngưỡng mộ.

- Các bộ phận trong thân thể đều xinh đẹp đáng quý.

- Thân có mùi thơm tỏa ra.

- Miệng có mùi thơm tỏa ra.

- Có trí tuệ nhiều.

- Có trí tuệ sâu sắc.

- Có trí tuệ sắc bén.

- Có trí tuệ nhanh nhẹn.

- Có trí tuệ phong phú.

- Trí tuệ phi thường.

- Nói lời hay có lợi ích…

- Kiếp vị lai có duyên lành gặp Đức Phật, lắng nghe chánh pháp dễ dàng chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn...

Đó là những quả báu phát sinh từ niệm Ân đức Phật.



Nhận xét về đề mục niệm Ân đức Phật

Đề mục niệm Ân đức Phật là một đề mục thiền định dễ phát sinh đức tin nơi Đức Phật, nơi Đức Pháp, nơi Đức Tăng. Tất cả mọi thiện pháp từ dục giới thiện pháp, sắc giới thiện pháp, vô sắc giới thiện pháp cho đến Siêu tam giới thiện pháp đều bắt nguồn từ đức tin trong sạch.



Ban đầu có đức tin sau càng vững chắc

Có số người, ban đầu nghe đến danh hiệu Buddho: Đức Phật, liền phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật, phát sinh hỷ lạc chưa từng có bao giờ.

Như trường hợp ông phú hộ Anāthapiṇḍika: Nghe ông phú hộ kinh thành Rājagaha gọi đến danh hiệu Buddho: Đức Phật, ông phú hộ Anāthapiṇḍika liền phát sinh tâm hỷ lạc chưa từng có, phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật, muốn đến hầu đảnh lễ Đức Phật ngay, nhưng ban đêm không phải thời; ông chờ đợi đến sáng, trong lúc nằm ông niệm tưởng đến Buddho: Đức Phật, nên tâm phát sinh ánh sáng, ông tưởng gần sáng, liền thức dậy, ông đến hầu đảnh lễ Đức Phật vào canh chót đêm ấy. Đức Phật thuyết pháp tế độ ông phú hộ, ông lắng nghe chánh pháp liền chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu.

Trường hợp Đức vua Mahākappina cùng với 1.000 quan cận thần, khi nghe nhóm lái buôn tâu rằng:

Buddho uppanno: Đức Phật đã xuất hiện trên thế gian. Đức vua lắng nghe danh hiệu Buddho: Đức Phật, liền phát sinh tâm hỷ lạc chưa từng có.

Dhammo uppanno: Đức Pháp đã xuất hiện trên thế gian. Đức vua lắng nghe danh hiệu Dhammo: Đức Pháp, liền phát sinh tâm hỷ lạc chưa từng có.

Saṃgho uppanno: Đức Tăng đã xuất hiện trên thế gian. Đức vua lắng nghe danh hiệu Saṃgho: Đức Tăng, liền phát sinh tâm hỷ lạc chưa từng có.

Đức vua ban thưởng cho nhóm lái buôn 3.000 đồng Kahāpana (một số tiền rất lớn của thời bấy giờ).

Đức vua không chịu hồi cung, mà từ đó Đức vua cùng 1.000 quan cận thần ngự đến hầu Đức Phật. Sau khi lắng nghe chánh pháp. Đức vua cùng 1.000 quan cận thần liền chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu, xin Đức Phật cho phép xuất gia trở thành Tỳ khưu, rồi chứng đắc thành bậc Thánh Arahán cùng Tứ Tuệ Phân Tích, Lục thông tại nơi ấy v.v…

Ban đầu không có đức tin, sau mới phát sinh đức tin

Có số người ban đầu nghe đến danh hiệu Buddho: Đức Phật liền phát sinh tâm ác, muốn tìm đến tranh tài, đấu trí với Đức Phật.

Như trường hợp ông Bàlamôn Bhāradvāja đến tìm Đức Phật để tranh tài đấu trí. Nhưng sau khi ông lắng nghe, hiểu rõ chánh pháp của Đức Phật, mới phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật, kính xin Ngài cho phép xuất gia trở thành Tỳ khưu. Tỳ khưu Bhāradvāja tinh tấn tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng đắc thành bậc Thánh Arahán cao thượng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Phật.

Trường hợp ông Bàlamôn Akkosaka nghe tin người anh là Bàlamôn Bhāradvāja đã xuất gia theo Đức Phật, ông Bàlamôn Akkosaka nổi cơn giận dữ, tìm đến gặp Đức Phật, chửi mắng, hăm dọa Ngài. Nhưng sau khi ông lắng nghe, hiểu rõ chánh pháp của Ngài, mới phát sinh đức tin trong sạch nơi Ngài, kính xin Ngài cho phép xuất gia trở thành Tỳ khưu. Tỳ khưu Akkosaka tinh tấn tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng đắc thành bậc Thánh Arahán cao thượng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Phật.

Trường hợp kẻ cướp sát nhân Aṅgulimāla nhìn thấy Đức Phật liền đuổi theo để giết Ngài, đến khi kiệt sức đứng lại, lắng nghe Đức Phật trả lời câu hỏi, liền tỉnh ngộ, ném bỏ khí giới, đảnh lễ dưới bàn chân của Đức Phật, rồi xin Ngài cho phép xuất gia trở thành Tỳ khưu. Về sau, Tỳ khưu Aṅgulimāla tiến hành thiền tuệ, chứng đắc thành bậc Thánh Arahán.

Trường hợp Đức Phật ngự đến lâu đài của dạ xoa Āḷavaka, ngự trên bảo tọa của y. Dạ xoa Āḷavaka nghe tin, liền nổi cơn giận dữ, trở về dùng mọi phép mầu nguy hiểm để xua đuổi Đức Phật, nhưng y hoàn toàn bất lực. Cuối cùng y có một câu kệ khó, mà từ lâu y quên hẳn câu trả lời, y đem câu kệ ấy đặt điều kiện hỏi Đức Phật. Đức Phật đã giải đáp đúng ý nghĩa sâu sắc của câu kệ, làm cho dạ xoa Āḷavaka vô cùng hoan hỷ, đồng thời y chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu, có đức tin trong sạch vững chắc nơi Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng...



Vậy do nguyên nhân nào, ban đầu có một số người vừa nghe đến danh hiệu Buddho: Đức Phật, liền phát sinh tâm hỷ lạc chưa từng có bao giờ, phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật, nghe chánh pháp trở thành bậc Thánh Thanh Văn của Ngài. Và có số người ban đầu vừa nghe đến danh hiệu Buddho: Đức Phật, liền phát sinh tâm sân, bực tức, nhưng sau đó, họ lắng nghe và hiểu rõ chánh pháp của Đức Phật, mới phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật và trở thành bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Ngài?

Theo nhận xét thấy, nhóm người thứ nhất đặt trọng tâm nơi Đức Phật. Cho nên, khi họ lắng nghe đến danh hiệu Buddho: Đức Phật, liền phát sinh tâm hỷ lạc chưa từng có bao giờ, rồi phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật, đến hầu đảnh lễ, lắng nghe Ngài thuyết pháp tế độ, họ liền chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Ngài.

Nhóm người thứ nhì đặt trọng tâm nơi Đức Pháp, cho nên khi họ lắng nghe hiểu rõ chánh pháp của Đức Phật, mới phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật, rồi tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Phật.

Như vậy đề mục niệm Ân đức Phật là một đề mục thiền định, dễ phát sinh đức tin nơi Đức Phật.

Nếu hành giả tiến hành đề mục niệm Ân đức Phật thành thói quen, được tích lũy trong tâm trải qua thời gian lâu dài từ những kiếp quá khứ, thì nay kiếp hiện tại này, khi nghe danh hiệu Buddho: Đức Phật, liền phát sinh tâm hỷ lạc, phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Phật.

Nếu kiếp hiện tại, hành giả thường tinh tấn tiến hành đề mục niệm Ân đức Phật, thì cũng dễ phát sinh đức tin nơi Đức Phật, phát sinh tâm hỷ lạc, mọi thiện pháp được phát triển và tăng trưởng tốt, đem lại sự an lạc cả trong kiếp hiện tại, lẫn nhiều kiếp trong vị lai.



Phương pháp niệm Ân đức Phật

Chư Phật Chánh Đẳng Giác có 9 Ân đức, được phân tích ra từng mỗi Ân đức Phật như sau:



Itipi so Bhagavā Arahaṃ,
Itipi so Bhagavā Sammāsambuddho,
Itipi so Bhagavā Vijjācaraṇasampanno,
Itipi so Bhagavā Sugato,
Itipi so Bhagavā Lokavidū,
Itipi so Bhagavā Anuttaro purisadammasāratthi
Itipi so Bhagavā Satthādevamanussānam,
Itipi so Bhagavā Buddho,
Itipi so Bhagavā Bhagavā.

Hành giả niệm mỗi chữ nào, hiểu rõ ý nghĩa của mỗi chữ ấy; niệm mỗi câu nào, hiểu rõ chi pháp của câu ấy; và niệm mỗi Ân đức Phật nào, hiểu rõ ý nghĩa và chi pháp của Ân đức Phật ấy. Hành giả chắc chắn sẽ phát sinh đức tin trong sạch và sâu sắc nơi Tam Bảo.

Đề mục thiền định niệm 9 Ân đức Phật có ý nghĩa vô cùng vi tế, sâu sắc rộng lớn vô lượng vô biên...; vì vậy định tâm không thể an định vào một điểm nào nhất định được, nên đề mục niệm 9 Ân đức Phật này chỉ có khả năng dẫn đến chứng đạt cận định (upacārasamādhi) mà thôi, không thể chứng đạt đến an định (upacāsamādhi), do đó không chứng đắc được bậc thiền hữu sắc nào. Như vậy, tâm cận định này vẫn còn trong dục giới đại thiện tâm, song có một tầm quan trọng rất lớn trong giáo pháp của Đức Phật.

Thật vậy, trong tất cả 40 đề mục thiền định đều đạt đến cận định (upacārasamādhi) cả thảy, chỉ có một số đề mục thiền định có khả năng dẫn đến chứng đạt an định (upacāsamādhi) mà thôi. Trong tất cả mọi đề mục thiền định ấy, có những đề mục thiền định trong Phật giáo và ngoài Phật giáo. Song đề mục niệm Ân đức Phật, đề mục niệm Ân đức Pháp, đề mục niệm Ân đức Tăng, đề mục niệm tưởng đến Ân đức Niết Bàn (upasamānussati)… chỉ có trong Phật giáo, mà không có ngoài Phật giáo; những đề mục thiền định này chỉ có khả năng dẫn đến chứng đạt cận định mà thôi.

-ooOoo-

[1] Samyuttanikāya, Sagāthavagga, kinh Dhajaggasutta.

[2] 5 pháp chướng ngại: Tham dục, thù hận, buồn chán-buồn ngủ, phóng tâm-hối hận, hoài nghi.

[3] 7 pháp phiền não ngủ ngầm trong tâm: Ái dục ngủ ngầm, kiếp ái ngủ ngầm, sân hận ngủ ngầm, ngã mạn ngủ ngầm, tà kiến ngủ ngầm, hoài nghi ngủ ngầm và vô minh ngủ ngầm.

[4] Ba giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

[5] Bốn loài: thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hoá sanh.

[6] Vāsanā: Tiền khiên tật này, đối với bậc Thánh Thanh Văn không thể diệt được, dù là bậc Thánh Arahán. Bậc Thánh Thanh Văn Arahán chỉ có khả năng diệt đoạn tuyệt được 1.500 loại phiền não và 108 loại tham ái mà thôi, nhưng không thể diệt được mọi tiền khiên tật đã tích luỹ từ vô lượng kiếp ở quá khứ.

[7] Abhidhammapiṭaka Bộ Vibhaṅgapāḷi.

[8] Có nghĩa thay đổi mỗi kiếp mà người đó gọi là “chết”

[9] Aṅguttaranikāya, phần Ekakanipāta

[10] Samyuttanikāya, Mahāvagga, kinh Dhammacakkappavattanasutta.

[11] Chư Phật Độc Giác đã tự mình chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán gọi là Đức Phật Độc Giác; mà Ngài không thuyết pháp tế độ chúng sinh khác cùng chứng ngộ nghĩa chân lý Tứ Thánh Đế y theo Ngài. Bởi vì, Ngài không chế định được ngôn ngữ để thuyết pháp như Đức Phật Chánh Đẳng Giác. Còn bậc Thánh Thanh Văn, sở dĩ thuyết pháp tế độ chúng sinh được là do nhờ nghe học hỏi theo lời giáo huấn của Đức Phật.

[12] 5 pháp chủ: Tín pháp chủ, tấn pháp chủ, niệm pháp chủ, định pháp chủ, tuệ pháp chủ.

[13] Vivaṭṭathāyī asaṅkhyeyyakappa: A-tăng-kỳ kiếp trụ của trái đất.

[14] Đại kiếp (mahākappa): Trải qua 4 atăng kỳ thành-trụ-hoại-không của kiếp trái đất.

[15] Aṅguttaranikāya - Atthakanipāta, kinh Dīghajānusutta

[16] Tránh 5 nghề: Nghề buôn bán vũ khí; nghề buôn bán người hoặc súc vật; nghề buôn bán rượu và các chất say; nghề buôn bán các loại thuốc độc sát hại chúng sinh; nghề buôn bán thịt các loài thú.

[17] Con đường làm cho phát triển của cải: Kết bạn với bậc thiện trí, không ăn chơi đàng điếm, không uống rượu, không chơi cờ bạc.

[18] Khuddkanikāya, bộ Vimānavatthu chuyện Mandukadevaputta.

[19] A-tăng-kỳ dịch âm từ Pāli: Asaṅkhyeyya nghĩa là vô số kiếp trái đất.

[20] Đại kiếp trái đất dịch từ danh từ Pāli mahākappa: Thời gian kiếp trái đất trải qua 4 a tăng kỳ thành-trụ-hoại-không.

[21] Bộ Chú giải Aṅguttaranikāya, phần Ekakanipata….

[22] Aṅguttaranikāya, phần EkadhammaPāḷi

-ooOoo-




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   25


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương