KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang31/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   27   28   29   30   31   32   33   34   ...   86

Trả lời: Tại công văn số 8123/BCT-KH ngày 21/8/2014

Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, ngành ban hành phục vụ công tác quản lý nhà nước đối với việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, cấp phép xây dựng và hoạt động cho các cửa hàng xăng dầu bao gồm:

- Nghị định 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

- Thông tư 39/2011/TT-BGTVT ngày 18 tháng 5 năm 2011 của Bộ Giao thông vận tải quy định chi tiết một số Điều của Nghị định 11/2010/NĐ-CP;

- Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03 tháng 4 năm 2008 của Bộ Xây dựng ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng, số hiệu QCXDVN 01:2008/BXD;

- Thông tư số 02/TT-BXD ngày 05 tháng 02 năm 2010 của Bộ Xây dựng ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị, số hiệu QCVN 07:2010/BXD;

- Thông tư số 11/2013/TT-BCT ngày 18 tháng 6 năm 2013 của Bộ Công Thương ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu thiết kế của hàng xăng dầu, số hiệu QCVN 01:2013/BCT.

Các văn bản nêu trên đã đặt ra các quy định về bảo vệ kết cấu đường bộ, khu vực bảo vệ công trình và khoảng cách ly, vệ sinh an toàn, yêu cầu về công tác quy hoạch xây dựng, công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị, phân cấp cửa hàng xăng dầu, phòng cháy chữa cháy, khoảng cách an toàn từ cột bơm đến các công trình bên ngoài cửa hàng và giữa các cửa hàng xăng dầu...

Do các văn bản nêu trên được xây dựng và ban hành bởi nhiều cơ quan và các thời điểm khác nhau, mặt khác, do nhu cầu quản lý và sự phát triển kinh tế xã hội nên còn một số quy định chưa đồng bộ, chồng lấn và thiếu thống nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thẩm định, phê duyệt quy hoạch, cấp phép xây dựng và hoạt động cho các của hàng xăng dầu, cụ thể:

- Để bảo vệ kết cấu giao thông đường bộ, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 39/2011/TT-BGTVT ngày 18 tháng 5 năm 2011 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2010 về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ quy định khoảng cách giữa các cửa hàng xăng dầu dọc tuyến quốc lộ không nhỏ hơn 2.000m trong khu vực đô thị và không nhỏ hơn 12.000m ngoài khu vực đô thị (được hiểu là tính về một phía của tuyến đường) và không quy định khoảng cách giữa các cửa hàng xăng dầu trên các tuyến đường tỉnh, huyện, đường đô thị... Trong khi đó, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng QCVN 07:2010/BXD của Bộ Xây dựng lại quy định khoảng cách giữa các cửa hàng xăng dầu không nhỏ hơn 300m. Đây chính là sự thiếu đồng bộ của các văn bản pháp quy gây khó khăn cho việc thực hiện.

- Việc thực hiện Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng, số hiệu QCXDVN 01:2008/BXD của Bộ Xây dựng đã phát sinh một số vấn đề khó khăn khi thực hiện công tác quy hoạch xây dựng về liên quan đến khoảng cách từ cửa hàng xăng dầu đến chỉ giới đường đỏ, quy định đối với cửa hàng xây dựng nằm gần giao lộ, phòng cháy chữa cháy, di tích lịch sử văn hoá, khoảng cách giữa 2 cửa hàng xăng dầu...

Xác định được những bất cập nêu trên, với chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng, Bộ Xây dựng hiện đang sửa đổi Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng, số hiệu QCXDVN 01:2008/BXD và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng QCVN 07:2010/BXD để tháo gỡ các khó khăn.

Với chức năng quản lý nhà nước được giao, Bộ Công Thương sẽ tích cực phối hợp với Bộ Xây dựng trong các vấn đề liên quan để sớm ban hành các văn bản nêu trên, giải quyết các vấn đề còn vướng mắc đã được nêu tại kiến nghị của cử tri.

68. Cử tri tỉnh Thái Bình kiến nghị: Đề nghị Bộ Công thương chỉ đạo sớm triển khai dự án “Thử nghiệm công nghệ khí hóa than để khai thác than ngầm tại Thái Bình” của Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam.

Chỉ đạo Tập đoàn Hóa chất Việt Nam sớm triển khai xây dựng dự án Amomniac (NH3), công xuất 200.000 tấn/năm tại Cụm công nghiệp Thái Thọ, huyện Thái Thụy để làm nguyên liệu cho Nhà máy sản xuất Nitrat Amon của Tập đoàn Than – Khoáng sản và phục vụ các nhu cầu khác của đất nước.

Trả lời: Tại công văn số 8127/BCT-KH ngày 21/8/2014

Ngày 04 tháng 4 năm 2014, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Văn bản số 2250/VPCP-KTN về việc điều tra, đánh giá và thử nghiệm khí hóa than ngầm tại đồng bằng Sông Hồng, theo đó, thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: (i) Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục thực hiện Đề án “Điều tra đánh giá tổng thể tài nguyên than phần đất liền, bể Sông Hồng”, phấn đấu cuối năm 2015 có báo cáo kết quả; (ii) Đồng ý đề nghị của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam về việc lựa chọn vị trí tại khu vực Hợp Châu - Thiên Tường, Tiền Hải, Thái Bình để thử nghiệm công nghệ khí hóa than ngầm, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm việc với đối tác nước ngoài, xin ý kiến Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình lựa chọn diện tích phù hợp, sát bờ biển để lập Dự án thử nghiệm trình Bộ Công Thương thẩm định; (iii) Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét cấp phép thăm dò kịp thời, đúng quy định để thực hiện Dự án thử nghiệm, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thực hiện điều tra, thăm dò và thử nghiệm.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại Công văn số 2250/VPCP-KTN, Bộ Công Thương đã chỉ đạo Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam làm việc với các đối tác nước ngoài và xin ý kiến của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình, lựa chọn diện tích phù hợp để lập Dự án thử nghiệm, trình Bộ Công Thương thẩm định theo quy định. Hiện nay, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đang phối hợp với các đơn vị có liên quan để triển khai thực hiện, cụ thể:

- Tiến hành khảo sát thực địa khu vực ngoài đê biển tại xã Nam Thịnh và Nam Hưng, huyện Tiền Hải; phối hợp với các Sở, ngành tại địa phương thu thập tài liệu (bản đồ địa chính, hiện trạng sử dụng đất, khu vực hoạt động khoáng sản…).

- Làm việc với đối tác Linc Energy (Úc) và Marubeni (Nhật Bản), các đối tác đề nghị cần phải thăm dò, đánh giá các thông số kỹ thuật quan trọng tại khu vực trước khi tiến hành thử nghiệm.

- Triển khai lập Đề án thăm dò khoáng sản than tại khu vực Hợp Châu - Thiên Tường, Tiền Hải, Thái Bình.

Ngày 03 tháng 7 năm 2014, tại cuộc họp về Quy hoạch phát triển ngành than, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo, song song với việc khoanh định diện tích lập Báo cáo điều tra, đánh giá tiềm năng than đồng bằng Sông Hồng, Bộ Tài nguyên và Môi trường cung cấp kết quả điều tra khu vực lập báo cáo cho Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam để có thêm thông tin cho việc lập Đề án thăm dò.

Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã có Văn bản số 3655/TKV-TN ngày 03 tháng 7 năm 2014 về việc tham khảo tài liệu phục vụ lập Đề án thăm dò than tại khu vực Hợp Châu - Thiên Tường, Tiền Hải, Thái Bình gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo đó, đề nghị được tham khảo, thu thập các tài liệu điều tra do Nhà nước thực hiện tại khu vực. Sau khi được sự đồng ý của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam sẽ có thêm cơ sở để hoàn thiện Đề án thăm dò than trình phê duyệt, cấp phép thăm dò theo quy định. Khi có kết quả thăm dò, đánh giá về các thông số kỹ thuật quan trọng tại khu vực mới có đủ cơ sở để lập, trình duyệt và thực hiện Dự án thử nghiệm công nghệ khí hóa than.

Trong thời gian qua, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã tiến hành điều tra, khảo sát để lựa chọn địa điểm đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất Amomniac (NH3). Hiện nay, Tập đoàn đang thực hiện thủ tục để lập Báo cáo đầu tư của dự án. Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đẩy nhanh tiến độ lập dự án.

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1. Cử tri các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Trị, An Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu kiến nghị: Đề nghị Nhà nước tăng cường công tác tuyên truyền nội dung Luật Đất đai sửa đổi, in ấn gửi đến tận thôn bản, khối phố cho nhân dân đọc và tìm hiểu

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Ngay sau khi Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã khẩn trương triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai cho các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

Đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức nhiều Hội nghị trong cả nước giới thiệu nội dung của Luật đất đai và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật cho các Bộ, ngành, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường của 63 tỉnh, thành phố. Đặc biệt, trong tháng 6 năm 2014, Bộ đã tổ chức 03 Hội nghị (tại các thành phố: Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng) giới thiệu những nội dung đổi mới về chính sách, pháp luật đất đai cho đội ngũ tuyên truyền viên ở các Bộ, ngành, địa phương để tiếp tục phổ biến tuyên truyền tới người dân và doanh nghiệp. Cùng với với việc tổ chức các hội nghị, Bộ đã biên tập, in ấn, phát hành các tài liệu để cung cấp cho các Bộ, ngành và các địa phương trong cả nước và phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí đăng bài viết, bản tin, phóng sự tuyên truyền, phổ biến những điểm mới của Luật đất đai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Ngoài ra, các Bộ, ngành, địa phương cũng đã tích cực trong việc tập huấn, tuyên truyền, phố biến các nội dung đổi mới của Luật cho đội ngũ cán bộ có liên quan, người dân và doanh nghiệp.



2. Cử tri tỉnh Lào Cai và thành phố Hà Nội kiến nghị: Đề nghị ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (sửa đổi) vào đúng thời điểm Luật có hiệu lực và nội dung các nghị định, thông tư cần đảm bảo việc áp dụng được thống nhất và lâu dài

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Ngay sau khi Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã khẩn trương xây dựng và trình Chính phủ ban hành 03 Nghị định, gồm: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về giá đất và Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Cùng với việc hoàn thiện trình Chính phủ ban hành các Nghị định, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và ban hành 10 Thông tư mà Luật đất đai và các Nghị định của Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết để thi hành.

Nhìn chung, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai đã được chuẩn bị công phu, theo đúng trình tự, thủ tục, bảo đảm nội dung, tiến độ tạo thành hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý, sử dụng đất đai.

Đối với Nghị định quy định về khung giá đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang hoàn thiện theo ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương và sẽ trình Chính phủ ban hành trong thời gian tới.



3. Cử tri các tỉnh Hà Nam, Long An và thành phố Hải Phòng kiến nghị: Đề nghị Nhà nước rà soát kỹ lại các dự án đã được giao đất cho doanh nghiệp nhưng sử dụng không hiệu quả, lãng phí, để trên cơ sở đó thu hồi lại các phần diện tích sử dụng không hiệu quả, giao cho tổ chức, cá nhân khác có năng lực. Đồng thời, quan tâm giải quyết sớm việc bố trí tái định cư cho nhân dân vùng có dự án quy hoạch.

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Trong thời gian vừa qua, để xử lý tình trạng tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng sử dụng không hiệu quả, lãng phí Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ ngành liên quan đã chỉ đạo triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp, cụ thể:

- Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Chỉ thị: số 134/CT-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2010 về tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm luật đất đai của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất; số 2196/CT-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2011 về một số giải pháp tăng cường quản lý thị trường bất động sản; số 07/CT-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2012 về việc chấn chỉnh công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; số 32/CT-TTg ngày 07 tháng 12 năm 2012 về việc loại bỏ những rào cản và hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư.

- Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 134/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các công văn hướng dẫn, đôn đốc thực hiện gửi các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để triển khai thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ trên phạm vi cả nước. Đồng thời, Bộ đã thành lập các Đoàn thanh tra, kiểm tra thực hiện các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, trong đó: có 02 đoàn liên ngành (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ và Bộ Xây dựng) tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; 06 đoàn thanh tra và 09 đoàn kiểm tra tại 42 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Qua kiểm tra đã phát hiện có 8.161 tổ chức vi phạm với diện tích 128.033,131 ha. Các dạng vi phạm chủ yếu là chủ đầu tư chậm đưa đất vào sử dụng, chậm tiến độ triển khai thực hiện dự án được phê duyệt; không thực hiện đúng các hạng mục công trình của dự án đầu tư theo quy hoạch chi tiết được phê duyệt; chậm, nợ tiền sử dụng đất, không thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định; sử dụng đất không đúng mục đích; chuyển nhượng nhà, đất không đúng quy định của pháp luật. Kết quả, đã xử lý 5.178 tổ chức sử dụng đất có vi phạm với diện tích đất 105.037 ha.

- Để tiếp tục giải quyết tình trạng các các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng chậm đưa đất vào sử dụng, vi phạm trong quá trình sử dụng đất dẫn đến lãng phí đất đai, Luật Đất đai năm 2013 đã có chế tài mạnh để xử lý như: cho phép chủ đầu tư được chậm tiến độ hơn so với quy định hiện hành 24 tháng nhưng phải nộp một khoản tiền tương ứng với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời hạn đó; nếu hết 24 tháng cho phép chậm tiến độ này mà vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất. Luật cũng đưa ra các quy định để ngăn ngừa phát sinh mới các trường hợp dự án chậm triển khai, để lãng phí đất đai như: việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm để đảm bảo phù hợp với khả năng đầu tư và huy động nguồn lực của địa phương; quy định điều kiện để được giao đất, cho thuê đất (chủ đầu tư phải có năng lực tài chính để đảm bảo việc sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư; phải ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm các quy định của pháp luật đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác).

Mặt khác, theo quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải có trách nhiệm rà soát công bố các dự án, chủ có đầu tư có vi phạm gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường để đăng tải công khai trên Cổng thông tin của Bộ để các địa phương căn cứ vào đó xem xét các điều kiện để giao đất. Với các quy định này, sẽ góp phần hạn chế được tình trạng dử dụng đất lãng phí, không hiệu quả.

Trong thời gian tới Bộ sẽ tiếp tục thanh tra, kiểm tra đồng thời chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tích cực và quyết liệt hơn trong việc xử lý đối với các trường hợp vi phạm.



4. Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị: Đề nghị xem xét lại quy định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, để người dân có thể giải quyết lợi ích được dễ dàng, vì pháp luật quy định khi cần chuyển quyền sử dụng đất thì phải được sự đồng ý của các thành viên trong gia đình, thực tế đã có trường hợp một số người con trong gia đình không đồng ý thì người cha không thể chuyển nhượng được, trong khi đó người cha cần tiền để trị bệnh hoặc cần cho những nhu cầu khác đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Theo quy định tại Khoản 29 Điều 3 của Luật đất đai năm 2013, hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất. Như vậy, tại thời điểm xác lập quyền sử dụng đất mà cá nhân trong hộ gia đình không có quyền và nghĩa vụ liên quan thì không được coi là thành viên trong hộ có chung quyền sử dụng đất.

Khi thành viên trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất thì các giao dịch về quyền sử dụng đất phải có sự đồng ý của thành viên theo quy định tại Khoản 2 Điều 109 của Bộ luật dân sự. Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi cho các thành viên trong hộ gia đình.

5. Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị: Khi Luật đất đai (sửa đổi) có hiệu lực, đề nghị định giá đất nông nghiệp và phi nông nghiệp cho phù hợp, tránh tình trạng như thời gian qua, việc định giá giữa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp chênh lệch quá lớn, dẫn đến người nông dân có diện tích đất nông nghiệp lớn, khi vay vốn để sản xuất, ngân hàng định giá thấp hơn người có đất phi nông nghiệp

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Để hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2013 về giá đất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về giá đất; Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất. Các văn bản nêu trên đã quy định cụ thể 05 phương pháp định giá đất và điều kiện áp dụng từng phương pháp khi thực hiện việc định giá đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trong thời gian qua, nâng cao chất lượng định giá đất.



6. Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị: Tại khoản 4 Điều 174 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở mà được miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất;

b) Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này mà được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng;

c) Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư vì mục đích lợi nhuận không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng”.

Quy định như trên là không hợp lý về mặt ưu đãi: Dự án được miễn tiền sử dụng đất, theo quy định của Luật đất đai (năm 2003), Luật đầu tư là ưu đãi hơn dự án giảm tiền sử dụng đất. Nhưng quy định trên thì dự án miễn tiền sử dụng đất (trừ dự án xây dựng nhà ở) không được bảo đảm thế chấp vay vốn ngân hàng (có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng), trong khi dự án được giảm tiền sử dụng đất thì được bảo đảm thế chấp vay vốn ngân hàng (có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp không được miễn hoặc không được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với loại đất có mục đích sử dụng tương ứng). Thực tế có dự án được giảm đến 70% tiền sử dụng đất (gần như miễn) thì được bảo đảm thế chấp. Cũng là quy định như trên nhưng dự án xây dựng kinh doanh nhà ở (bất động sản) thì lại được bảo đảm thế chấp. Đề nghị khi ban hành nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai cần giải quyết mâu thuẫn trên, đặc biệt là chính sách nông nghiệp, nông thôn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Quyền và nghĩa vụ của của tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đã được quy định cụ thể tại Điều 174 của Luật đất đai năm 2013; trong đó Khoản 4 Điều này có quy định về quyền và nghĩa vụ của của tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Luật không giao Chính phủ quy định chi tiết Điều này. Mặt khác, việc giải quyết vướng mắc trong chính sách về miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính.



7. Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị: Hiện nay đất đai là vấn đề nổi cộm ở nhiều địa phương, dẫn đến tham nhũng, lãng phí mất cán bộ... đề nghị cần có biện pháp quản lý chặt chẽ, xử lý nghiêm người vi phạm để răn đe, thực hiện tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Vấn đề cử tri phản ánh đã được quy định trong Luật đất đai năm 2013, trong đó đã tăng cường hơn tính công khai, minh bạch; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện giám sát về quản lý, sử dụng đất. Quy định thiết lập hệ thống theo dõi, đánh giá của các cơ quan nhà nước và của nhân dân trong quản lý, sử dụng đất đai. Luật đất đai cũng bổ sung quy định về trách nhiệm của người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai; quy định xử lý trách nhiệm của người thực thi công vụ vi phạm pháp luật đất đai và người đứng đầu cơ quan, tổ chức để xảy ra vi phạm pháp luật đất đai. Các quy định này sẽ tăng cường chế độ trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thực thi công vụ, bảo đảm việc quản lý đất đai chặt chẽ và hiệu quả.

Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, để tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật và ngăn ngừa các hành vi vi phạm.

8. Cử tri tỉnh Bắc Ninh kiến nghị: Đề nghị xem xét việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, vì đến hết năm 2013 đã hết hạn

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai thì hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao, công nhận, nhận chuyển quyền sử dụng đất, khi hết thời hạn sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều 126 và Khoản 3 Điều 210 của Luật đất đai mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng đất.



9. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Đề nghị ban hành chính sách giải quyết về nhu cầu đất ở, đất sản xuất đối với hộ gia đình dân tộc thiểu số mới tách hộ, vì dân số tăng nhưng phạm vi đất sản xuất, đất ở của nhân dân vùng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp do khâu quy hoạch không sát với thực tế và diện tích đất lớn đều do các nông, lâm trường quản lý, sử dụng

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Các kiến nghị của cử tri đã được quy định trong Luật đất đai năm 2013, cụ thể như sau:

- Luật đã để riêng 1 Điều quy định về trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số (Điều 27 Luật đất đai năm 2013), trong đó có quy định Nhà nước có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng; có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp.

- Luật còn quy định đối với các tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 để sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì phải rà soát lại hiện trạng sử dụng đất, lập phương án sử dụng đất, trong đó xác định rõ diện tích, ranh giới sử dụng đất, diện tích đất giữ lại sử dụng, diện tích đất bàn giao lại cho địa phương. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc rà soát, phê duyệt phương án sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất theo phương án sử dụng đất được phê duyệt; thu hồi diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, giao khoán, cho thuê, cho mượn trái pháp luật, bị lấn, bị chiếm để tạo quỹ đất giao, cho thuê đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Việc giao đất, cho thuê đất phải ưu tiên hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số không có đất hoặc thiếu đất sản xuất ở địa phương (Khoản 2 Điều 133 Luật đất đai năm 2013).

Trong quá trình thực hiện sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động, các công ty nông, lâm nghiệp đang sử dụng đất có trách nhiệm rà soát hiện trạng sử dụng đất, đề xuất phương án sử dụng đất. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án sử dụng đất. Đối với quỹ đất các công ty nông, lâm nghiệp phải bàn giao cho địa phương thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập phương án sử dụng đất để xây dựng các công trình công cộng; giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân ở địa phương không có đất hoặc thiếu đất sản xuất; giao đất, cho thuê đất cho người đang sử dụng đất nếu người sử dụng đất có nhu cầu và việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương (Điều 46 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai)…

- Để bảo vệ đất sản xuất của đồng bào dân tộc, Luật còn quy định hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số sử dụng đất do Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất sau 10 năm, kể từ ngày có quyết định giao đất theo quy định của Chính phủ (Khoản 3 Điều 192 Luật đất đai năm 2013).



10. Cử tri tỉnh Hà Nam kiến nghị: Thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, dịch vụ là cần thiết. Tuy nhiên, cử tri đề nghị Nhà nước cần có quy hoạch cụ thể đối với những vùng đất đang thu hồi để tránh lãng phí. Đồng thời, sớm hỗ trợ cho người dân theo quy định, tránh để cử tri kiến nghị nhiều, ảnh hưởng đến dư luận xã hội



1   ...   27   28   29   30   31   32   33   34   ...   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương