BỘ CÔng nghiệP



tải về 1.15 Mb.
trang3/8
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích1.15 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

Mục 1. CÔNG TÁC KHOAN


Điều 173.

Phụ thuộc vào điều kiện sử dụng, việc lựa chọn máy khoan và cơ cấu phụ trợ kèm theo phải căn cứ vào những chỉ số nêu ở Bảng 1. Dụng cụ khoan (mũi khoan than, mũi khoan đá, choòng khoan) phải phù hợp với máy khoan đã chọn, tính chất đất đá và đường kính thỏi thuốc nổ.


Bảng 1


Kiểu máy khoan theo tiết diện đường lò, m2

Điều kiện sử dụng (hệ số f)

nhỏ hơn 7,5

7.5 - 12,5

lớn hơn 12,5

Khoan điện và khoan khi ép cầm tay

Khoan dàn ; khoan xoay (xe khoan và tổ hợp khoan xúc)

Khoan xoay

Nhỏ hơn 2

Khoan điện và khí nén cầm tay truyền động cưỡng bức (có cơ cấu định vị); khoan dàn

Khoan dàn; khoan xoay

Khoan xoay

2-9

Búa khoan khí nén cầm tay đặt trên giá đỡ

Khoan đập-xoay và xoay-đập

9-16

Búa khoan khí nén cầm tay đặt trên giá đỡ

Khoan đập xoay

Lớn hơn 16
Ghi chú

a) Khi đào các đường lò đứng từ trên xuống dưới, nên dùng thiết bị khoan chuyên dùng hay búa khoan cầm tay.

b) Khi đào các đường lò đứng từ dưới lên trên, nên dùng búa khoan có giá kiểu ống lồng.

Điều 174.

1. Để phân phối khí nén cho các búa khoan, sử dụng bộ phân phối khí có van đấu nối với ống dẫn bằng cao su đường kính trong không nhỏ hơn 50mm và chiều dài từ 20 đến 30m.

2. Nâng hạ thiết bị khoan khi đào giếng đứng phải bằng container chuyên dùng.

Điều 175.

Khi đào giếng đứng, áp suất khí nén trong bộ phân phối khí không được nhỏ hơn 6 KG/cm2, còn khi đào lò bằng, lò nghiêng không được nhỏ hơn 5 KG/cm2.



Điều 176.

Khi đào lò bằng, qua mỗi đoạn từ 300 đến 400m đường ống dẫn khí nén, cũng như tại vị trí treo ống phải đặt bộ tách dầu và hơi nước.



Điều 177.

Thiết bị khoan phải đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh công nghiệp về tiếng ồn và độ rung, cũng như phải được trang bị phương tiện giảm bụi và thu bụi trong lúc làm việc.



Điều 178.

Mỗi máy khoan làm việc ở gương lò phải có hai bộ dụng cụ: một bộ làm việc và một bộ dự phòng.



Điều 179.

Giới hạn mòn của mũi khoan hợp kim được xác định khi trên lưỡi cắt hình thành diện tích mòn có chiều rộng 2mm theo đường kính tính từ rìa mũi khoan. Mũi khoan được coi là mòn hoàn toàn, nếu chiều cao tấm hợp kim cứng chỉ còn từ 3 đến 4mm hoặc đường kính lỗ khoan không lớn hơn 5mm so với đường kính thỏi thuốc nổ.



Điều 180.

Đường kính định mức mũi khoan than phải lớn hơn đường kính giới hạn 2mm.

Đường kính định mức mũi khoan đá phải lớn hơn đường kính giới hạn là 2mm khi khoan đất đá có hệ số kiên cố trung bình f = 9, 4mm khi f = 9  16 và 6mm khi f >16.

Điều 181.

Để đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả công tác khoan, phải thực hiện các quy định sau đây:

1. Sửa nóc và gương trước khi khoan, đánh dấu lỗ khoan theo hộ chiếu khoan nổ đã được duyệt;

2. Định vị cần khoan bằng cơ cấu định vị chuyên dùng;

3. Nghiêm cấm người đứng trong vùng hoạt động của cần đỡ khoan;

4. Áp dụng chế độ khoan phù hợp với tính chất cơ lý đất đá và phương pháp khoan;

5. Tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu trong vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa định kỳ trong quá trình sử dụng. Kịp thời mài lại những dụng cụ khoan bị mòn bằng máy mài chuyên dùng, dùng thước chuẩn để kiểm tra kích thước hình học của dụng cụ.

Mục 2. CÔNG TÁC KHOAN NỔ MÌN


Điều 182.

Mọi công việc khoan nổ đều phải thực hiện theo quy định "Quy phạm an toàn về bảo quản, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp".



Điều 183.

Phải dập bụi phát sinh khi nổ mìn bằng cách tạo sương mù. Khi khoan, ở mỗi gương lò chuẩn bị phải bố trí hai vùng sương mù: vùng thứ nhất cách gương lò từ 15 đến 20m, vùng thứ hai cách gương lò từ 30 đến 40m. Thiết kế tạo sương mù phải đáp ứng yêu cầu sao cho bụi nước phun ra bao phủ được toàn bộ tiết diện đường lò trên chiều dài ít nhất là 5m.



Điều 184.

Việc tạo môi trường chống bụi (màn nước tạo bằng phương pháp nổ hoặc phun) ở khoảng không gian gần gương lò phải thực hiện theo các quy định hiện hành.



Điều 185.

Để phòng ngừa hiện tượng cháy thuốc nổ (chuyển hóa từ nổ sang cháy) trong các lỗ mìn, không cho phép:

1. Để lại phoi khoan than hoặc đá ở chỗ tiếp giáp giữa các thỏi thuốc nổ;

2. Có khe hở giữa các đầu thỏi thuốc nổ;

3. Sử dụng thuốc nổ bị đóng tảng hay bị lèn chặt làm cản trở sự truyền nổ;

4. Sử dụng các thỏi thuốc nổ chất lượng xấu, đặc biệt là các thỏi thuốc nổ mà ở đầu bị phủ đầy chất paraphin;

5. Làm ướt các thỏi thuốc nổ;

6. Giảm khoảng cách cho phép giữa các lỗ mìn kề nhau;

7. Sử dụng vật liệu nổ quá thời hạn sử dụng.

Điều 186.

1. Chỉ được phép nổ mìn tạo lớp đệm trên dàn chống cứng khi trực tiếp trên dàn không có những khoảng rỗng khó thông gió.

2. Khi nổ mìn tạo lớp đệm trên dàn chống, tất cả mọi người đều phải ra ngoài mặt đất và phải tiến hành vào ngày nghỉ.

Điều 187.

Khi lượng khí Mêtan thoát ra lớn, để cách ly gương giếng trong thời gian nổ mìn, cho phép làm ngập gương giếng bằng nước cao 20cm tính từ điểm cao nhất của gương giếng.

Chương X

THÔNG GIÓ, PHÒNG CHỐNG KHÍ NỔ

Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 188.

1. Thiết kế thông gió mỏ phải thực hiện theo quy định tại "Quy phạm an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch".

2. Thiết kế thông gió mỏ bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Lựa chọn sơ đồ, phương pháp thông gió và vị trí đặt quạt gió;

b) Tính toán lượng gió chung cho toàn mỏ, cũng như cho các hộ tiêu thụ;

c) Tính toán hạ áp của quạt gió chính;

d) Lựa chọn quạt gió chính;

đ) Tính toán sự phân phối và điều chỉnh lượng gió theo yêu cầu của từng hộ tiêu thụ.



Điều 189.

Việc lựa chọn sơ đồ và phương pháp thông gió (có tính đến độ chứa khí dự kiến trong các đường lò) phải được thực hiện đồng thời với việc lựa chọn sơ đồ mở vỉa và chuẩn bị khai trường, các hệ thống khai thác và trình tự khai thác trên cơ sở tính toán kinh tế-kỹ thuật. Mạng thông gió phải đơn giản và giảm được số lượng các nhánh đường lò nối chéo, các luồng gió giao nhau, các đường lò phụ nối luồng gió sạch với luồng gió bẩn (lò nối, lò cắt) và các công trình thông gió (đặc biệt là cầu gió, tường chắn và cửa gió).



Điều 190.

1. Khi lựa chọn sơ đồ thông gió phải tính đến phương pháp sử dụng nhiều nhất gió sạch để thông gió các đường lò vận tải và khai thác, cũng như hạn chế được tối đa luồng gió sạch đi theo các đường lò đặt băng tải chính.

2. Sơ đồ thông gió thích hợp nhất là những sơ đồ sau:

a) Sơ đồ thông gió sườn: Khi chiều dài khai trường lớn, mỏ xếp loại III trở lên theo khí Mêtan và mỏ có nguy hiểm phụt than, khí bất ngờ cũng như khi khai thác các vỉa than gần mặt đất;

b) Sơ đồ thông gió trung tâm: Khi khai trường có kích thước không lớn;

c) Sơ đồ thông gió trung tâm-sườn (hỗn hợp): Khi các khu khai thác độc lập nằm ở trung tâm khai trường hoặc ở hai cánh, cũng như khi thông gió riêng cho các mức khai thác.



Điều 191.

1. Lựa chọn phương pháp thông gió phải dựa trên cơ sở so sánh kinh tế, kỹ thuật và đảm bảo an toàn cho công tác mỏ.

2. Đối với những mỏ có khí nổ phải sử dụng phương pháp thông gió hút.

3. Phương pháp thông gió đẩy áp dụng cho những mỏ không có khí, có khí nổ loại I và loại II khi khai thác mức đầu tiên và những mức có sự liên hệ với mặt đất qua các kẽ nứt và các vùng sụt lún.

4. Phương pháp thông gió đẩy-hút (hỗn hợp) được áp dụng khi khai thác những vỉa than tự cháy và sức cản khí động học của mạng đường lò lớn.

Điều 192.

Khi liên hợp các quạt gió chính, phải kiểm tra tính ổn định và hiệu suất công tác của từng quạt gió.



Điều 193.

Đối với những mỏ xếp loại siêu hạng theo khí Mêtan, hạ áp lớn nhất cho phép là 300mm cột nước và không lớn hơn 450mm cột nước đối với những mỏ có công suất từ 4000t/ngày-đêm trở lên. Khi khai thác các vỉa dày, dốc đứng, than có xu hướng tự cháy thì hạ áp không được vượt quá 200mm cột nước.



Điều 194.

Khi thiết kế thông gió, phải dự tính toàn bộ các biện pháp làm giảm sức cản khí động học của mạng thông gió bằng cách sau:

1. Trong giếng mỏ: Lựa chọn các thanh chống ngang, kết cấu đường cáp dẫn và những kết cấu khác đặt trong giếng sao cho có hình dạng hợp lý để giảm sức cản luồng gió chuyển dịch;

2. Trong các đường lò cơ bản: Lựa chọn vì chống có sức cản nhỏ và chèn kín thành đường lò bằng những tấm bê tông cốt thép hay vật liệu tổng hợp.



Điều 195.

1. Phải tiến hành định kỳ đo hạ áp và khí; đối với các mỏ sâu phải đo cả nhiệt độ để kiểm tra và thực hiện các biện pháp bảo đảm chế độ thông gió.

2. Thời hạn giữa hai lần đo do cơ quan quản lý có thẩm quyền quyết định, nhưng không được lớn hơn 3 năm.

Điều 196.

Tất cả các loại dụng cụ kiểm tra thành phần không khí mỏ (dụng cụ cầm tay, dụng cụ tự động đặt cố định), phải được kiểm định tính năng làm việc và độ chính xác của các trị số đo tương ứng theo chỉ dẫn của nhà máy chế tạo. Người kiểm định các dụng cụ đo thành phần không khí mỏ phải có chuyên môn được đào tạo theo quy định.



Điều 197.

Khi áp dụng các phương pháp điều chỉnh lưu lượng gió, phải tính toán so sánh các yếu tố kinh tế-kỹ thuật của chúng. Trường hợp điều chỉnh lượng gió bằng cách làm giảm sức cản khí động học trong đường lò, thì sau khi điều chỉnh phải kiểm tra lại chế độ công tác của quạt gió chính.



Điều 198.

1. Mỗi gương lò khấu than và các gương lò cụt phải được thông gió bằng luồng gió sạch riêng biệt.

2. Cho phép thông gió nối tiếp các gương lò chợ (không lớn hơn 2 lò chợ) trên cùng một vỉa, một tầng thuộc các vỉa than không nguy hiểm về phụt than và khí bất ngờ. Đối với mỏ loại III và siêu hạng theo khí Mêtan, thông gió nối tiếp các gương lò chợ phải được cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt.

3. Khi thông gió nối tiếp phải đảm bảo các yêu cầu sau:

a) Tổng chiều dài các gương lò chợ không lớn hơn 400m;

b) Khoảng cách giữa các gương lò chợ kề nhau không lớn hơn 300m;

c) Phải bổ sung gió sạch từ lò dọc vỉa trung gian trước khi vào lò chợ được thông gió nối tiếp. Phải đảm bảo lưu lượng gió bổ sung không nhỏ hơn số liệu tính toán, tốc độ gió tối thiểu 0,15m/s và hàm lượng khí Mêtan không vượt quá 0,5%;

d) Phải đưa người lao động ra chỗ có luồng gió sạch khi nổ mìn ở lò chợ dưới mà lò chợ trên có hàm lượng khí độc đi vào vượt quá 0,008% theo thể tích quy đổi ra Oxit cácbon.



Điều 199.

1. Thông gió các đường lò chuẩn bị được thực hiện bằng hạ áp chung của mỏ hoặc bằng quạt cục bộ.

2. Khi đào lò cụt mà thông gió bằng hạ áp chung của mỏ, phải đào lò song song để thoát gió thải, qua mỗi đoạn 30m phải đào cúp nối đường lò song song với đường lò đang đào. Khi đào xong một cúp mới, phải bịt kín những cúp cũ bằng những thành chắn gỗ hay đá và trát kín bề mặt thành chắn bằng đất sét không cho gió lọt qua.

Điều 200.

1. Khi thông gió bằng quạt cục bộ, các quạt phải làm việc liên tục.

2. Trường hợp ngừng quạt cục bộ hay chế độ thông gió bị vi phạm, phải dừng mọi công việc ở gương lò, cắt mạch cung cấp điện và mọi người phải nhanh chóng thoát ra đường lò có gió sạch.

Điều 201.

1. Vị trí đặt quạt cục bộ phải theo thiết kế được Giám đốc mỏ phê duyệt.

2. Quạt cục bộ phải đặt ở luồng gió sạch cách luồng gió thải không nhỏ hơn 10m. Năng suất của quạt cục bộ không được vượt quá 70% lưu lượng gió ở vị trí đặt quạt.

3. Cấm đặt quạt cục bộ trong lò chợ, trừ trường hợp phải đào lò tránh phay khi lò chợ đã có lối thoát.

4. Trường hợp phải đặt nhiều quạt cục bộ trên cùng một lò mà mỗi quạt làm việc có đường ống riêng và các quạt cách nhau nhỏ hơn 10m thì tổng lưu lượng gió của các quạt không được lớn hơn lưu lượng gió ở vị trí đặt quạt đầu tiên tính theo chiều gió.

5. Việc đặt quạt cục bộ ở đường lò gió thải được thông gió bằng hạ áp chung của mỏ phải được phép của Giám đốc với điều kiện hàm lượng khí Mêtan và thành phần không khí mỏ phù hợp với quy định tại "Quy phạm an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch".

6. Đối với mỏ loại III và siêu hạng theo khí Mêtan, phải kiểm tra hàm lượng khí Mêtan phía trước quạt cục bộ bằng thiết bị đo tự động cố định.

7. Nghiêm cấm đặt quạt cục bộ ở những đường lò gió thải thuộc các vỉa than nguy hiểm về phụt than, khí bất ngờ.

8. Tại mỗi vị trí đặt quạt cục bộ phải có bảng ghi:


  1. Lưu lượng gió thực tế của quạt;

  2. Lưu lượng gió thực tế của lò tại vị trí đặt;

  3. Lưu lượng gió thực tế tại gương lò cụt;

  4. Chiều dài tối đa đoạn lò độc đạo cần thông gió;

đ) Thời gian thông gió sau khi nổ mìn;

  1. Ngày, tháng, năm và chữ ký của người ghi.

9. Khi đào hoặc đánh sập các lò thông gió liền với gương khai thác, cho phép đặt quạt cục bộ hoạt động bằng năng lượng khí nén với các điều kiện sau:

a) Quạt cục bộ đặt cách gương khấu không gần hơn 15m tính theo chiều gió;

b) Chiều dài đoạn lò cụt không lớn hơn 30m;

c) Thành phần không khí mỏ đảm bảo yêu cầu của "Quy phạm an toàn trong các hầm lò than diệp thạch" và hàm lượng khí Mêtan đi ra từ đoạn lò cụt nhỏ hơn 1%;

10. Khoảng cách từ đầu tường ngăn hoặc đầu ống gió đến gương không được lớn hơn 8m đối với mỏ có khí nổ và 12m đối với mỏ không có khí nổ. Ở cuối đường ống gió mềm phải có vòng kim loại đỡ (ít nhất 2 vòng) hoặc đoạn ống bằng vật liệu cứng chiều dài 2m để đảm bảo tiết diện ống gió ra. Đoạn nối ống gió với quạt cục bộ phải bằng kim loại có chiều dài ít nhất 1m.

Mục 2. CÁC TRẠM QUẠT GIÓ VÀ CÔNG TRÌNH THÔNG GIÓ

Điều 202.

1. Các cầu gió chính dùng cho một số khu khai thác, cũng như các cầu gió khu vực có lượng gió thông qua lớn hơn 5m3/s phải là loại cầu vòng xây bằng đá, bê tông hoặc bê tông cốt thép. Các tường chắn ở cầu gió phải làm bằng đá hay bằng bê tông.

2. Để lượng gió thông qua lớn hơn hoặc bằng 20m3/s, phải tiến hành đào đường lò vòng, thành lò nối phải phẳng và có tiết diện sử dụng như ở đường lò nối liền vào với nó.

3. Các cầu gió khu vực có lượng gió đi qua nhỏ hơn 5m3/s phải được làm bằng ống kim loại có tiết diện không nhỏ hơn 0,5m2 và chiều dày thành ống không nhỏ hơn 2mm.

4. Đối với các cầu gió kiểu ống, cho phép làm các tường chắn bằng gỗ nhưng phải trát kín mặt ngoài bằng đất sét.

Điều 203.

Khi mức độ tiếng ồn vượt quá quy định cho phép, các trạm quạt gió phải có bộ phận giảm thanh. Phải bố trí các giếng gió vào và những cửa hút sao cho gió sạch vào lò. Trường hợp cần thiết, phải có các biện pháp đặc biệt để làm sạch gió vào lò như dẫn gió bằng rãnh riêng, sử dụng phin lọc, màn nước.



Điều 204.

1. Tường rãnh gió trạm quạt chính phải kín và nhẵn. Các rãnh gió của trạm quạt gió chính và phụ phải được kiểm tra ít nhất một lần trong một tháng và định kỳ dọn sạch khi tiết diện của rãnh giảm 10%.

2. Những vị trí giao nhau giữa rãnh gió và giếng không được gãy khúc và phải có lưới thép chắn.

3. Các công trình đảo chiều gió và ngắt luồng gió phải được kết cấu tự đóng kín khít.



Điều 205.

1. Các trạm quạt gió chính phải được trang bị áp kế tự ghi và đồng hồ đo vòng quay khi quạt truyền động bằng dây đai. Đối với mỏ xếp loại III, siêu hạng theo khí Mêtan và nguy hiểm phụt khí, ngoài những dụng cụ cần thiết trên, phải có thêm lưu kế tự ghi. Đồ thị của dụng cụ tự ghi phải được lưu trữ ít nhất là 2 năm.

2. Các trạm quạt gió chính, cũng như tất cả các thiết bị thông gió phụ trợ đều phải được trang bị đồng hồ đo hạ áp.

Điều 206.

Trường hợp dùng quạt cục bộ phải đảm bảo các yêu cầu sau:

1. Khi lắp ống dẫn gió gồm nhiều đoạn ống có đường kính khác nhau, thì những ống có đường kính lớn hơn đặt về phía quạt gió, những ống có đường kính nhỏ hơn đặt về phía gương lò;

2. Các mối nối ống gió mềm bằng cơ cấu nối tiêu chuẩn được sản xuất hàng loạt;

3. Ống gió mềm và các cơ cấu nối ống phải treo trên dây thép đường kính từ 5 đến 6mm và kéo căng tránh gấp khúc, nhăn nhúm trên mặt ống;

4. Các ống gió mềm trong các đường lò đứng hay nghiêng phải được định vị chặt vào thành lò ở các chỗ nối hoặc treo lên hai dây cáp;

5. Những đoạn ống gió bị hư hỏng phải thay kịp thời.

Mục 3. DỰ BÁO ĐỘ THOÁT KHÍ TRONG CÁC ĐƯỜNG LÒ

VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN SỰ THOÁT KHÍ

Điều 207.

Khi các phương tiện thông gió không thể hạ thấp hàm lượng khí Mêtan đến giới hạn cho phép, phải áp dụng biện pháp tháo khí trước từ vỉa hoặc phương pháp điều khiển sự thoát khí khác (khí Mêtan hay hỗn hợp khí được tháo trực tiếp từ vỉa và đưa lên mặt đất hoặc đưa vào luồng gió thải theo các ống dẫn, các lỗ khoan thoát khí hoặc theo các đường lò cách ly với mạng thông gió mỏ).



Điều 208.

Phải tính toán quá trình tháo khí từ vỉa cho từng lò riêng trên cơ sở các số liệu đo thực tế (đối với mỏ đang hoạt động) và theo các quy định hiện hành, đồng thời tham khảo hiệu quả thoát khí ở các mỏ lân cận (khi thiết kế mỏ mới). Trong điều kiện cho phép, khí Mêtan tháo ra được sử dụng làm nhiên liệu phục vụ cho mục đích khác.



Điều 209.

1. Phải kết thúc việc xây dựng hệ thống tháo khí từ vỉa (lắp đặt trạm bơm chân không và ống dẫn khí) trước khi đưa mỏ vào sản xuất.

2. Đối với những mức khai thác mới và khai trường đòi hỏi tháo khí sơ bộ, phải có thêm thời gian dự phòng để tháo khí trước khi đưa mỏ vào khai thác.

Điều 210.

1. Phụ thuộc mức độ thoát khí Mêtan từ các nguồn riêng biệt trong tổng thể lượng thoát khí Mêtan vào các đường lò, phải áp dụng các biện pháp tháo khí sau:

a) Tháo khí từ các vỉa xen kẽ ở những vùng đang được giảm khí cục bộ;

b) Tháo khí từ các vỉa đang khai thác;

c) Tháo khí từ khoảng không đã khai thác các vỉa rất gần nhau và khi cần thiết phải tính đến việc tháo khí từ những lớp đất đá bao quanh vỉa.

2. Đối với những đường lò có hàm lượng khí lớn, khi tháo khí từ một nguồn riêng biệt không bảo đảm hạ thấp nồng độ Mêtan theo yêu cầu, thì phải tháo khí ra từ một số nguồn.

3. Tổ chức thực hiện công việc tháo khí phải thực hiện theo quy định tại văn bản "Hướng dẫn tháo khí trong các mỏ than hầm lò" và "Quy phạm an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch".

Chương XI



PHÒNG CHỐNG CHÁY Ở TRONG MỎ

Điều 211.

1. Trong quá trình xây dựng, khai thác cũng như cải tạo mỏ, phải thực hiện các biện pháp phòng chống cháy, đồng thời thủ tiêu nhanh chóng hoặc cách ly khi cháy xảy ra. Biện pháp phòng chống cháy phải phù hợp với kế hoạch thủ tiêu sự cố của mỏ có sự thoả thuận của Trung tâm cấp cứu mỏ được cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt.

2. Trong thiết kế mỏ (mỏ mới, mỏ cải tạo và mỏ đang hoạt động), các biện pháp phòng chống cháy phải có các nội dung sau:

a) Phương pháp mở vỉa chuẩn bị khai trường và hệ thống khai thác phải đảm bảo an toàn về cháy;

b) Đối với các vỉa than có xu hướng tự cháy, phải áp dụng sơ đồ và phương pháp thông gió điều khiển được luồng gió trong trường hợp sự cố cháy và lối rút an toàn của mọi người ra khỏi mỏ (hay đến luồng gió sạch), cũng như đảm bảo cách ly chắc chắn các khu vực đã khai thác;

c) Sơ đồ cung cấp điện, các thiết bị điện an toàn về cháy nổ;

d) Sử dụng các hệ thống thuỷ lực (tổ hợp cơ giới khấu than, cột chống) có chất lỏng làm việc an toàn về cháy;

đ) Áp dụng công nghệ khai thác và đào lò chuẩn bị hạn chế công tác khoan nổ mìn;

e) Ưu tiên sử dụng vật liệu không cháy để chống lò.

Điều 212.

Trong quá trình khai thác, phải đề ra và thực hiện các biện pháp phòng và thủ tiêu cháy xảy ra ở trong mỏ, trong đó đề cập đến các vấn đề:

1. Khả năng chống cháy của các đường lò và các công trình trên mặt đất;

2. Biện pháp an toàn khi sử dụng các nguồn lửa ở những nơi được phép;

3. Trang bị các phương tiện dập cháy, cách ly kịp thời các khu vực đã khai thác và các biện pháp khác đã được quy định tại "Quy phạm an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch".

Điều 213.

Mọi người làm việc ở mỏ phải được huấn luyện cách sử dụng các phương tiện dập cháy và phải biết rõ vị trí đặt các phương tiện đó trong khu vực làm việc của mình.



Điều 214.

Các công trình trên mặt mỏ phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu "Tiêu chuẩn phòng chống cháy trong thiết kế xây dựng các công trình công nghiệp và dân dụng".



Điều 215.

Khi khai thác các vỉa than có tính tự cháy, việc mở vỉa và chuẩn bị khai trường, lựa chọn hệ thống khai thác, chế độ thông gió phải thực hiện theo các quy định về khai thác các vỉa than có tính tự cháy.



Điều 216.

Công tác phòng chống cháy cũng như giải toả khu vực cháy đã được dập tắt phải thực hiện thủ các quy định tại "Quy phạm an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch" và "Quy định về tổ chức và hoạt động của lực lượng cấp cứu mỏ chuyên trách" do Bộ Công nghiệp ban hành.

Chương XII

THOÁT NƯỚC MỎ

Điều 217.

Các trạm bơm cố định của mỏ bao gồm các trạm chính bơm nước của toàn mỏ lên mặt đất và các trạm khu vực bơm nước từ các khu vực về hầm chứa của trạm bơm chính, hoặc bơm thẳng lên mặt đất qua lỗ khoan, giếng nhỏ.



Điều 218.

1. Khi nước mỏ có chỉ số pH nhỏ hơn 5, các máy bơm, đường ống, đầu hút phải có khả năng chịu axit.

2. Khi chỉ số pH lớn hơn 6, tất cả thiết bị bơm thoát nước phải là chủng loại dùng cho nước trung tính.

Điều 219.

Các trạm bơm chính phải có trang thiết bị tự động và điều khiển từ xa, đảm bảo hoạt động bình thường kể cả khi không có người phục vụ.



Điều 220.

1. Để bố trí được nhiều đường ống hút, hầm bơm phải có bể hút nối trực tiếp vào bể chứa nước hoặc qua bể gom nước.

2. Các bể hút phải có bộ phận ngăn cách để thuận tiện khi nạo vét. Đáy của bể gom nước và bể hút phải thấp hơn đáy của bể chứa nước tối thiểu là 1m.

Điều 221.

1. Đối với các mỏ nguy hiểm về bục nước, dung tích bể chứa nước phải đảm bảo:

a) Đối với trạm bơm chính, không nhỏ hơn lưu lượng nước chảy vào bình thường trong 8 giờ;

b) Đối với trạm bơm khu vực không nhỏ hơn lưu lượng nước chảy vào bình thường trong 4 giờ.

2. Ngoài ra, đề phòng sự cố phải có các lò chứa nước bằng cách sử dụng lại các lò cũ.

Điều 222.

Bể gom nước phải được nạo vét thường xuyên không để tích tụ bùn quá 30% dung tích chứa. Không phụ thuộc vào lượng bùn tích tụ trong bể, trước mùa mưa bể phải được nạo vét. Khi áp dụng biện pháp làm sạch bằng thuỷ lực, phần nằm ngang của bể phải có độ dốc 0,01 đến 0,02 về phía hầm bơm.



Điều 223.

Các trạm bơm thoát nước chính hay khu vực phải được trang bị máy đo áp suất và lưu lượng.



Điều 224.

Đường ống chịu áp của trạm bơm thoát nước chính trước khi đưa vào vận hành phải thử với áp suất thuỷ lực gấp 1,25 lần áp suất công tác.



Điều 225.

1. Các trạm bơm thoát nước làm việc với cao độ lớn hơn 400m nhất thiết phải có phương tiện bảo hiểm để giảm sự va đập thuỷ lực.

2. Không phụ thuộc vào công suất, cho phép sử dụng van tự động thường xuyên mở đối với tất cả các trạm bơm thoát nước điều khiển tự động


: data -> documents
documents -> Số: /2010/NĐ-cp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> BỘ KẾ hoạch và ĐẦu tư Số: 10/2015/tt-bkhđt cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> Ủy ban nhân dân tỉnh phú YÊn cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> Ủy ban nhân dân tỉnh phú YÊn cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> BỘ CÔng thưƠng giao thông vận tải tài chính cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> BỘ KẾ hoạch và ĐẦu tư
documents -> Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005
documents -> BỘ CÔng nghiệp số: 47/2006/QĐ-bcn
documents -> BỘ CÔng nghiệp số: 35/2006/QĐ-bcn
documents -> THÔng tư Quy định thực hiện một số nội dung của Quy chế quản lý cụm công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 105/2009/QĐ-ttg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ


1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương