MỤc lục trang



tải về 1.59 Mb.
trang12/14
Chuyển đổi dữ liệu20.05.2018
Kích1.59 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

Ngô Thị Thảo*, Nguyễn Quý Thái*, Trần Văn Tiến**

* Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên;

** Bệnh viện Da liễu Trung ương



TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tác dụng giảm ngứa của chlorpheniramin phối hợp với famotidin trong điều trị bệnh sẩn ngứa nội sinh. Phương pháp: thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, cỡ mẫu thuận tiện gồm các bệnh nhân được chẩn đoán sẩn ngứa nội sinh điều trị tại Khoa Da liễu, Bệnh viên Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Nhóm nghiên cứu dùng chlopheniramin 4mg x 2 lần/ngày phối hợp với famotidin 20mg/ngày. Nhóm chứng dùng chlopheniramin 4mg x 2 lần/ngày. Kết quả: Thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng giảm ngứa sau dùng thuốc tại các thời điểm trong khoảng từ sau 30 phút đến 3 giờ ở hai nhóm không thấy có sự khác biệt (p> 0,05). Tỷ lệ bệnh nhân có thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa trên 5 giờ ở nhóm nghiên cứu là 50,0%, cao hơn nhóm chứng là 11,1% ( p<0,05). So sánh hiệu quả sau điều trị nhóm nghiên cứu đạt kết quả tốt 92,9% cao hơn nhóm chứng là 70,4% (p<0,05). Một số tác dụng không mong muốn (buồn ngủ, đau đầu, khô miệng) gặp ở cả 2 nhóm không có sự khác biệt. Kết luận: phối hợp chlopheniramin và famotidin trong điều trị bệnh sẩn ngứa nội sinh thấy thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng giảm ngứa không có sự khác biệt so với dùng chlopheniramin đơn thuần, thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa kéo dài hơn và kết quả điều trị tốt hơn.

Từ khóa: chlorpheniramin, famotidin, sẩn ngứa, kháng histamin.
EVALUATION OF THE EFFECT OF CHLORPHENIRAMINE (anti H1) IN COMBINATION WITH FAMOTIDINE (anti H2) FOR TREATMENT OF INTERNAL PRURIGO
Ngo Thi Thao*, Nguyen Quy Thai*, Tran Van Tien**

*Thai Nguyen University of Medicine & Pharmacy

**The Central Hospital of Dermatology

SUMMARY

Objective: To evaluate the effect of Chlorpheniramine combines with famotidine in the treatment of endogenous prurigo. Methods: Clinical trials with a control, convenience sample size of in-patients diagnosed as internal prurigo at the Department of Dermatology-General Hospital in Thai Nguyen. The study group was treated by using chlopheniramin 4mg x 2 times / day together with famotidine 20mg/day. The control group used Chlopheniramin 4mg x 2 times / day. Results: The time for drugs to reduce itching was ranging from 30 minutes to 3 hours in the two groups and no difference had been found (p> 0.05). The percentage of patients remained to have less itching more than 5 hours in the research group was 50.0%, higher than that of the control group (11.1%), p <0.05. The research group team achieved good results at 92.9%, higher than in the control, 70.4% (p <0.05). Some unwanted effects (drowsiness, headache, dry mouth) occurred in both groups and did not differ sinifficantly. Conclusion: The combination of chlopheniramin and famotidine in the treatment of endogenous prurigo showed that the time for drug to control itching was not differ from using chlopheniramin alone, however, the duration of reduce itching lasted longer and better results were achieved.



Keywords: Chlorpheniramine, famotidine, internal prurigo, antihistamines
I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Sẩn ngứa (prurigo) là một bệnh da thường gặp, biểu hiện lâm sàng đặc trưng là ngứa. Bệnh chiếm khoảng 30%-45% các bệnh da liễu đến khám tại các phòng khám chuyên khoa [1]. Bệnh tiến triển dai dẳng, hay tái phát. Dựa vào nguồn gốc của các yếu tố gây bênh, người ta chia sẩn ngứa thành 2 loại: Sẩn ngứa ngoại sinh, nguyên nhân do các yếu tố bên ngoài như ký sinh trùng, côn trùng đốt; các yếu tố môi trường (lông chim, chó, mèo, gia súc, gia cầm; bụi, hơi, khí độc, độ ẩm ...). Sẩn ngứa nội sinh, nguyên nhân do các yếu tố bên trong cơ thể như rối loạn tiêu hóa (táo bón), rối loạn chức năng gan thận; rối loạn chuyển hóa, nội tiết như đái tháo đường, mỡ máu [1],[2]. Nhiều khi không tìm thấy căn nguyên. Điều trị còn gặp nhiều khó khăn.

Sẩn ngứa thường không gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của người bệnh. Vì vậy, điều trị sẩn ngứa ngoài việc loại trừ căn nguyên thì điều trị chống ngứa là chủ yếu và hết sức quan trọng. Thuốc chính dùng điều trị chống ngứa là kháng histamin thụ thể H1 (kháng H1) [3]. Kháng histamin thụ thể H2 chủ yếu dùng điều trị loét dạ dày, tá tràng. Tuy nhiên, ở da cũng có khoảng 15% thụ thể H2 [4]. Các công trình nghiên cứu về điều trị một số bệnh da dị ứng cho thấy dùng phối hợp kháng H1 với kháng H2 có hiệu quả tốt [6]. Để tích lũy thêm kinh nghiệm điều trị bệnh sẩn ngứa nội sinh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Đánh giá tác dụng giảm ngứa của chlorpheniramin phối hợp với famotidin trong điều trị bệnh sẩn ngứa nội sinh tại khoa Da liễu-Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân sẩn ngứa nội sinh được điều trị tại Khoa Da liễu, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên từ 10/2011 đến 4/2012.

- Tiêu chuẩn lựa chọn: bệnh nhân được chẩn đoán sẩn ngứa nội sinh, từ 18 tuổi trở lên.

- Tiêu chuẩn loại trừ: sẩn ngứa không phải do nguyên nhân nội sinh, phụ nữ có thai, suy gan thận nặng, suy giảm miễn dịch, chống chỉ định với kháng histamin.



2.2. Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, tiến hành trên hai nhóm bệnh nhân, cỡ mẫu thuận tiện:

Nhóm nghiên cứu dùng chlopheniramin uống 4mg x 2 lần/ngày phối hợp với famotidin uống 20mg /ngày.

Nhóm chứng dùng chlopheniramin uống 4mg x 2 lần/ngày.

- Đánh giá mức độ giảm ngứa:

Thời gian bắt đầu có tác dụng: là từ khi uống thuốc đến khi bệnh nhân cảm thấy ngứa bắt đầu giảm.

Thời gian duy trì tác dụng: là từ khi xuất hiện tác dụng giảm ngứa đến khi ngứa tái phát sau khi dùng thuốc.

- Thời điểm đánh giá mức độ ngứa sau: 6, 9, 12 ngày điều trị.

- Xác định tác dụng không mong muốn của mỗi phương pháp.

- Đánh giá hiệu quả điều trị theo 3 mức: tốt, trung bình, chưa tốt.

Tốt: hết ngứa, tác dụng kéo dài.

Trung bình: ngứa giảm chậm, tác dụng ngắn.

Chưa tốt: ngứa không giảm.

- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y học, phần mềm STATA 10.0.



III. KẾT QUẢ

Bảng 3.1: Mức độ ngứa của bệnh nhân trước điều trị

Nhóm
Mức độ ngứa

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

p


n

%

n

%

Nặng

12

42,9

11

40,7

> 0,05

Vừa

16

57,1

16

59,3

> 0,05

Nhẹ

0

0,0

0

0,0

> 0,05

Tổng

28

100,0

27

100,0




Nhận xét: tỷ lệ các mức độ ngứa của 2 nhóm không có sự khác biệt.

Bảng 3.2. Thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng giảm ngứa



Nhóm
Thời gian

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

p

n

%

n

%

30 phút

2

7,1

1

3,7

> 0,05

1h

8

28,6

7

25,9

> 0,05

2h

12

42,9

10

37,0

> 0,05

3h

6

21,4

8

29,6

> 0,05

>3h

0

0,0

1

3,7

> 0,05

Tổng

28

100,0

27

100,0



Nhận xét: thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng giảm ngứa ở bệnh nhân của 2 nhóm trong 3 giờ khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Bảng 3.3. Thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa của thuốc



Nhóm
Thời gian

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

p

n

%

n

%

2h-3h

2

7,1

7

25,9

> 0,05

3h-5h

12

42,9

17

63,0

> 0,05

>5h

14

50,0

3

11,1

<0.05

Tổng

28

100,0

27

100,0



Nhận xét: tỷ lệ bệnh nhân có thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa dưới 5 giờ của 2 nhóm chưa thấy sự khác biệt (p>0,05), trên 5h nhóm nghiên cứu có 50,0% bệnh nhân thuốc vẫn còn tác dụng cao hơn nhóm chứng là 11,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Bảng 3.4: Diễn biến mức độ ngứa của 2 nhóm sau 6 ngày điều trị



Nhóm
Mức độ ngứa

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng


p

n

%

n

%

Nặng

0

0,0

1

3,7

> 0,05

Vừa

8

28,6

9

33,3

> 0,05

Nhẹ

18

64,3

16

59,3

> 0,05

Hết ngứa

2

7,1

1

3,7

> 0,05

Tổng

28

100,0

27

100,0



Nhận xét: sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân ngứa ở các mức độ sau 6 ngày điều trị ở hai nhóm chưa thấy có ý nghĩa thống kê với p> 0,05.

Bảng 3.5 : Diễn biến mức độ ngứa của 2 nhóm sau 9 ngày điều trị



Nhóm
Mức độ ngứa

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng


p

n

%

n

%

Nặng

0

0,0

1

3,7

> 0,05

Vừa

3

10,7

5

18,5

> 0,05

Nhẹ

7

25,0

11

40,8

> 0,05

Hết ngứa

18

64,3

10

37,0

< 0,05

Tổng

28

100,0

27

100,0




Nhận xét: sau 9 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân hết ngứa ở nhóm nghiên cứu là 64,3%, cao hơn so với nhóm chứng là 37,0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Bảng 3.6: Diễn biến mức độ ngứa của 2 nhóm sau 12 ngày điều trị



Nhóm
Mức độ ngứa

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

p

n

%

n

%

Nặng

0

0

0

0




Vừa

0

0

0

0




Nhẹ

3

10,7

5

18,5

> 0,05

Hết ngứa

25

89,3

22

81,5

> 0,05

Tổng

28

100

27

100



Nhận xét: sau 12 ngày điều trị, 100% bệnh nhân ở cả 2 nhóm hết ngứa hoặc chỉ còn ngứa nhẹ.

Bảng 3.7: So sánh kết quả giảm ngứa giữa 2 nhóm sau điều trị

Nhóm

Kết quả

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

p


n

%

n

%

Tốt

26

92,9

19

70,4

< 0,05

Trung bình

2

7,1

7

25,9

> 0,05

Chưa tốt

0

0,0

1

3,7

> 0,05

Tổng

28

100,0

27

100,0




Nhận xét: sau điều trị, nhóm nghiên cứu đạt kết quả giảm ngứa tốt là 92,9%, cao hơn nhóm chứng 70,4%; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Bảng 3.8: Một số tác dụng không mong muốn

Nhóm

Biểu hiện

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng


p

n

%

n

%

Buồn ngủ

19

67,9

19

70,7

> 0,05

Đau đầu

2

7,1

1

3,7

> 0,05

Khô miệng

3

10,7

4

14,8

> 0,05

Nhận xét: các tác dụng không mong muốn như: buồn ngủ, khô miệng, đau đầu của 2 nhóm khác nhau không có ý nghỉa thống kê.

IV. BÀN LUẬN

Đặc điểm của 2 nhóm nghiên cứu: kết quả ở bảng 3.1 cho thấy nhóm nghiên cứu, tỷ lệ mức độ ngứa nặng là 42,9 và ngứa vừa là 57,1 so với nhóm chứng lần lượt là 40,7 và 59,3, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Như vậy, giữa hai nhóm có sự tương đồng về mức độ ngứa.

Theo dõi thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng giảm ngứa: kết quả ở bảng 3.2 thấy tỷ lệ bệnh nhân có thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng tại các thời điểm trong khoảng sau 30 phút dùng thuốc đến 3 giờ ở hai nhóm không có sự khác biệt với p> 0,05. Nhóm chứng có một trường hợp sau trên 3 giờ thuốc vẫn chưa có tác dụng giảm ngứa. Theo kết quả nghiên cứu của A del Cuvillo, J Mullol, J Bartra về dược động học của một số kháng histamin thì thấy chlopheniramin xuất hiện trong máu sau khi uống từ 30 phút đến 1 giờ, kết quả của Tmax là 2,8 giờ ± 0,8 và duy trì tác dụng trong khoảng 4giờ ± 1 [3]. Còn đối với famotidin có thể tác dụng giảm ngứa chậm hơn chlopheniramin. Cho nên, sự khác biệt về thời gian thuốc bắt đầu có tác dụng ở hai nhóm không có ý nghĩa thống kê.

Thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa, kết quả ở bảng 3.3 thấy giữa hai nhóm trong khoảng 5 giờ khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Trên 5 giờ, nhóm nghiên cứu thuốc vẫn còn tác dụng ở 50,0% bệnh nhân, cao hơn nhóm chứng là 11,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Kết quả này, chúng tôi cho rằng có thể là do famotidin tác dụng giảm ngứa chậm nên đã phát huy được vai trò hiệp đồng với chlopheniramin để kéo dài thời gian tác dụng giảm ngứa. Như vậy, sơ bộ nhận xét khi phối hợp chlorpheniramin với famotidin để điều trị bệnh sẩn ngứa nội sinh thì thấy thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa lâu hơn so với khi chỉ dùng chlorpheniramin đơn thuần. Nghiên cứu của Kaur S, Greaves MW (1981) cũng thấy khi phối hợp chlorpheniramin với cimetidin kiểm soát ngứa và phát ban tốt hơn khi chỉ dùng chlorpheniramin [5].

Ngứa là triệu chứng cơ năng và gặp ở 100% bệnh nhân sẩn ngứa với các mức độ nặng nhẹ khác nhau: nặng, vừa và nhẹ. Diễn biến mức độ ngứa của 2 nhóm trong vòng 6 ngày điều trị (bảng 3.4) không thấy có sự khác biệt. Sau 9 ngày điều trị (bảng 3.5), nhóm nghiên cứu có 18 bênh nhân hết ngứa, chiếm 64,3%, cao hơn so với nhóm chứng có 10 bệnh nhân, chiếm 37,0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Như vậy, có thể nói phối hợp chlopheniramin với famotidin trong điều trị sẩn ngứa nội sinh hiệu quả cao hơn so với chlophenitamin đơn thuần.

Sau 12 ngày điều trị, bệnh nhân của cả 2 nhóm đều hết ngứa hoặc chỉ còn ngứa nhẹ (bảng 3.6). Đối chiếu với kết quả sau 9 ngày điều trị (bảng 3.5), một lần nữa củng cố thêm nhận xét là dùng phối hợp chlopheniramin với famotidin có tác dụng giảm ngứa tốt hơn so với chlophenitamin đơn thuần.

So sánh hiệu quả sau điều trị giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng, bảng 3.7 thấy nhóm nghiên cứu đạt kết quả tốt 92,9% trường hợp cao hơn nhóm chứng là 70,4%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Chúng tôi chưa tham khảo được tài liệu nào nói về việc phối hợp chlopheniramin với famotidin trong điều trị bệnh sẩn ngứa nội sinh nên không có số liệu để so sánh với kết quả của chúng tôi.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi bước đầu cho thấy tác dụng có lợi trên lâm sàng của việc phối hợp thuốc kháng H1 với H2 trong điều trị giảm ngứa. Nguyên nhân gây ngứa được biết đến trong các bệnh da dị ứng là do sự giải phóng histamin từ tế bào Mast. Khoảng 85% thụ thể histamin trong da là của H1, còn lại 15% là của H2. Vì vậy, sự có mặt của kháng H2 giúp ổn định tế bào Mast và kiểm soát ngứa tốt hơn do ức chế sự giải phóng histamin một cách đầy đủ hơn. Một số tác giả cho rằng việc phối hợp kháng H1 với H2 làm giảm khả năng chuyển hóa kháng H1 tại gan [5],[7]. Đây cũng có thể là lý do kháng H2 có tác dụng hiệp đồng, hỗ trợ kéo dài tác dụng của kháng H1. Tuy nhiên, các tác giả đều kiến nghị vấn đề này cần được nghiên cứu thêm.

Tác dụng không mong muốn của thuốc có thể gặp, kết quả bảng 3.8 thấy là: buồn ngủ 67,9%, khô miệng 10,7%, đau đầu 7,1% so với nhóm chứng lần lượt là 70,4%, 14,8%, 3,7%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, không có bệnh nhân nào ở cả 2 nhóm phải ngừng điều trị. Chúng tôi cũng chưa tham khảo tài liệu nào nói về những tác dụng không mong muốn khi phối hợp chlopheniramin với famotidin trong điều trị bệnh sẩn ngứa nội sinh, nên chúng tôi không có số liệu để so sánh với kết quả của mình.

IV. KẾT LUẬN

Tỷ lệ bệnh nhân có thời gian duy trì tác dụng giảm ngứa trên 5 giờ của nhóm dùng chlopheniramin phối hợp với famotidin trong bệnh sẩn ngứa nội sinh là 50,0%, cao hơn nhóm dùng chlopheniramin đơn thuần là 11,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Sau 9 ngày điều trị, tỷ lệ bệnh nhân hết ngứa ở nhóm nghiên cứu là 64,3%, cao hơn so với nhóm chứng 37,0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Sau điều trị nhóm nghiên cứu đạt kết quả tốt 92,9% cao hơn nhóm chứng là 70,4%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

Một số tác dụng không mong muốn (buồn ngủ, đau đầu, khô miệng) gặp cả ở hai nhóm không có sự khác biệt và không có bệnh nhân nào phải ngừng điều trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ môn Da liễu – Trường Đại học Y Hà Nội (1994), Bệnh Da liễu, Nhà xuất bản Y học , tr 87-91.

2. Nguyễn Qúy Thái, Phạm Công Chính, Trần Văn Tiến (2011), Bệnh da miễn dịch – dị ứng, Nhà xuất bản Dân trí, Hà Nội, tr 98-103.

3. A del Cuvillo, J Mullol, J Bartra (2006), "Comparative pharmacology of the H1 antihistamin", J Investig Allergol Clin Immunol; Vol.16, Supplement 1:3-12.

4. Allen P. Kaplan, MD (2002), "Chronic urticaria and angioedema", N Engl J Med, Vol. 346, No. 3 January 17.

5. Kaur S, Greaves MW (1981), "Factitious urticaria (dermographism): treatment by cimetidine and chlorpheniramine in a randomized double-blind study" Br Dermatol, Feb; 104(2): 185-90.

6. Lin RY, Curry A, Pesola GR (2000), "Improved outcomes in patients with acute allergic syndromes who are treated with combined H1 and H2 antagonists", Ann Emerg Med ;36:462-468

7. Majid Mirsadraee , Parisa Saeedi , Habib Emami (2004), "Combination of H1 and H2 Receptor Antagonists in, Treatment of Asthmatic Patients", Tanaffos 3(12), 57-62.

PHỤ NỮ DÙNG THUỐC ĐIỀU TRỊ VÔ SINH KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG SẢN XUẤT THÊM TRỨNG CÓ NGUY CƠ GIA TĂNG PHÁT TRIỂN KHỐI U BUỒNG TRỨNG.


1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương