MỤc lục trang



tải về 1.59 Mb.
trang8/14
Chuyển đổi dữ liệu20.05.2018
Kích1.59 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   14

Nhận xét:

- Tỷ lệ xã có Bác sĩ có xu hướng giảm: năm 2009, 2010 là 100% , năm 2011 giảm còn 94,4%. So với tiêu chuẩn Bộ y tế còn thiếu 5,6%.

- Tỷ lệ xã, thị trấn có YSĐK có xu hướng tăng: năm 2009

là 77,8%, năm 2011 là 83,3%. So với tiêu chuẩn Bộ y tế quy định còn thiếu 16,7%.

- Tỷ lệ xã, thị trấn có YSĐK định hướng sản nhi hoặc nữ hộ sinh trung học có xu hướng tăng: năm 2009 là 83,3%, năm 2010, 2011 là 88,9%. So với tiêu chuẩn Bộ y tế quy định còn thiếu 11,1%.

- Tỷ lệ xã, thị trấn có YSĐK định hướng y học dân tộc có xu hướng tăng: năm 2009, 2010 là 38,9%, năm 2011 là 66,7%. So với tiêu chuẩn Bộ y tế quy định còn thiếu 33,3%.

- 100% xã ,thị trấn đã có điều dưỡng theo đúng quy định Bộ y tế.

- Tỷ lệ xã, thị trấn có dược sĩ trung học trong 3 năm không thay đổi đều ở mức 22,2%. So với tiêu chuẩn Bộ y tế quy định còn thiếu 77,8%.

- Tỷ lệ bác sĩ / cán bộ chuyên ngành y có trình độ trung cấp, năm 2009 là 1/3, năm 2011 đạt 1/3,48, tỷ lệ này gần đạt so với quy định (1/ 3,5 - 4).

- Bình quân số cán bộ y tế / Trạm y tế năm 2009 , 2010 là 5,6 cán bộ/Trạm, năm 2011 là 6,1 cán bộ / Trạm y tế. So với tiêu chuẩn định mức Bộ y tế quy định thì bình quân số lượng cán bộ y tế / Trạm y tế đạt yêu cầu.



Bảng 3.2. Thực trạng nhân lực y tế chung của TTYT huyện theo chuyên môn:

Năm

Chỉ số nhân lực



2009

2010

2011

Quy định của Bộ y tế

Thiếu hụt

SL


Tỷ lệ (%)

SL

Tỷ lệ (%)

SL

Tỷ lệ (%)

Tổng số nhân lực y tế chung


129

129

140

154

14

Tổng số cán bộ trong biên chế


129

100

129

100

140

100

154

14



Trong đó

Bác sỹ CKI, cao học, bác sĩ

29

22,5

30

23,3

26

18,6

27

1

Trong đó:+ Bác sĩ chính quy

8

27,6

8

26,7

8

30,8







+ Bác sĩ chuyên tu

21

72,4

22

73,3

18

69,2







Dược sĩ Đại học

0

0

0

0

0

0

1

1

Đại học khác

1

0,8

1

0,8

2

1,4

2

0

Y sỹ ĐK

21

16,3

19

14,7

20

14,3

20

0

YSĐK ĐHSN

13

10,1

13

10,1

13

9,3

19



0


Cử nhân Nữ hộ sinh

1

0,8

1

0,8

1

0,7

Nữ hộ sinh Trung học

4

3,1

5

3,9

5

3,6

YSĐK ĐHDP

1

0,8

1

0,8

8

5,7

8

0

YSĐK ĐHYHDT

7

5,4

7

5,4

13

9,3

18

5

Cử nhân điều dưỡng

1

0,8

1

0,8

1

0,7

1

0

Điều dưỡng Trung học

39

30,2

39

30,2

40

28,6

40

0

Cử nhân xét nghiệm y học

0

0

0

0

0

0

1

1

Kỹ thuật viên Trung học

2

1,6

2

1,6

2

1,4

2

0

Dược sĩ Trung học

6

4,7

6

4,7

6

4,3

18

14

Trung học khác

2

1,6

2

1,6

1

0,7

1

0

Cán bộ sơ học

2

1,6

2

1,6

2

1,4

2

0

TS CB chuyên trách dân số xã

18

18

18

18

0

Tổng số nhân viên YTTB

333

333

334

337

3

Tổng số cộng tác viên dân số

333

333

334

337

3

Nhận xét:

- YSĐK, YSĐK định hướng sản nhi,YSĐK định hướng y học dân tộc, YSĐK định hướng dự phòng chiếm tỷ lệ cao nhất năm 2009 chiếm 32,6%, năm 2010 chiếm 32%, năm 2011 chiếm 38,6%.

- Tỷ lệ Bác sĩ có xu hướng giảm xuống năm 2009 chiếm 22,5%, năm 2011 giảm xuống còn 18,6%. Bác sĩ chủ yếu hệ chuyên tu ( 69,2-73,3%), cao gấp trên 2 lần so hệ chính quy ( 26,7-30,8%).

- Số lượng cán bộ y tế năm 2011 so với năm 2010 đã có sự gia tăng từ 129 lên 140 người. Tuy nhiên tổng số cán bộ còn thiếu so với định mức 22 người. Trong đó bác sĩ thiếu 1 người, Dược sĩ đại học thiếu 1 người, Dược sĩ Trung cấp thiếu 14 người , YSĐK định hướng YHDT còn thiếu 5 người, Cử nhân xét nghiệm y học thiếu 1 người.

- Năm 2011 nhân lực của Trung tâm y tế đã tăng

so với năm 2009, 2010 cả về số lượng và chất lượng, đó là chuyển từ TYT xã lên 3 Bác sĩ và 1 kế toán trung học đã học xong cử nhân kế toán. Về số lượng biên chế trung tâm đã dủ , tuy nhiên về cơ cấu vẫn chưa hợp lý vẫn còn thiếu 1 Dược sĩ đại học và 1 cử nhân xét nghiệm y học.



- Nhân lực y tế tuyến xã của Phổ Yên năm 2011 tăng 9 biên chế so năm 2010, tuy nhiên số Bác sĩ lại giảm đi 6 người, đa số bác sĩ công tác tại xã học hệ chuyên tu, năm 2011 chiếm tới 83,3%. Bác sỹ có 18 người , xong do có 1 xã có 2 bác sĩ nên vẫn còn 1 xã chưa có bác sĩ, YSĐK đinh hướng y học dân tộc còn thiếu 5 người, Dược sĩ trung học còn thiếu 14 người.YTTB còn thiếu 3 xóm chưa có cán bộ hoạt động.

Bảng 3.3.Thực trạng thời gian đào tạo nhân lực YTTB :

Thơi gian đào tạo

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng

%

Trung cấp

9

2,7

9

2,7

10

3

9 tháng

77

23,1

76

22,8

76

22,8

6 tháng

87

26,1

86

25,8

89

26,6

3 tháng

116

34,8

118

35,4

152

45,5

Chư­a đào tạo

44

13,2

44

13,2

7

2,1

Tổng số

333

100

333

100

334

100

Nhận xét:

- Nhân viên YTTB có trình độ trung cấp chiếm 2,7-3%, chủ yếu trong số này là cán bộ y tế đã nghỉ hưu về tham gia công tác tại địa phương. Số nhân viên YTTB được đào tạo thời gian 9 tháng chiếm tỷ lệ còn thấp: năm 2009: 23,1%, năm 2010, 2011: 22,8. Nhân viên YTTB được đào tạo thời gian 3 tháng tăng dần lên từ 34,8% năm 2009, lên 35,4 năm 2010 chiếm và 45,5% năm 2011, ngược lại số chưa được đào tạo giảm từ 13,2 năm 2009, 2010 xuống còn 2,1% năm 2011.



IV. BÀN LUẬN

Thực trạng nguồn nhân lực y tế ở Trung tâm y tế huyện Phổ Yên 3 năm qua

Qua nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực Trung tâm y tế và TYT cho thấy:

Tỷ lệ xã có Bác sĩ có xu hướng giảm : năm 2009, 2010 là 100% , năm 2011 giảm còn 17/18 xã = 94,4%. Tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ của tỉnh Thái Nguyên 91;2%[7], cũng cao hơn tỷ lệ của cả nước ( cả nước đạt 67,38%) [2]. Điều đáng nói ở đây là huyện Phổ Yên nói riêng tỉnh Thái Nguyên nói chung đã đạt tỷ lệ 100% số xã có bác sĩ từ năm 2000. Tuy nhiên trong những năm gần đây xảy ra tình trạng bác sĩ xã xin chuyển công tác lên tuyến trên . Trong 3 năm bác sĩ xã của Phổ Yên đã chuyển lên tuyến trên 12 người . Nên chăng Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ thích hợp nhằm tuyển dụng và giữ được cán bộ có trình độ, nhất là bác sĩ công tác tại trạm y tế xã. Đồng thời các TTYT cũng chủ động chọn lựa những y sĩ ưu tú giử đi đào tạo chuyên tu bác sĩ để chủ động cùng với tuyển dụng đáp ứng nhu cầu 100% số xã có bác sĩ vào năm 2015, đến năm 2020 có 25% xã có 2 bác sĩ. Đảm bảo 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế trong đó có 70% xã vào năm 2015 và 100% xã năm 2020 đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020 theo đề án củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 [6].

Tỷ lệ dược sĩ trung học: Phổ yên mới có 4/18 trạm y tế xã có dược sĩ trung cấp chiếm 22,2% làm việc ở TYT. Như vậy, việc quản lý cấp phát thuốc theo đơn ở các TYT hiện nay chủ yếu là do dược tá sơ cấp đảm nhiệm, số này chủ yếu là cán bộ trung cấp y tế (điều dưỡng hoặc y sĩ) được cử đi học chương trình dược tá để kiêm nhiệm thêm công tác dược.Đây chỉ là giải pháp tình thế, làm cho hiệu quả công việc không cao . Ngành cần có kế hoạch khắc phục trong thời gian tới để bố trí đúng người, đúng việc và thực hiện cơ cấu cán bộ theo quy định bộ y tế đó là mỗi trạm y tế cần có 1 dược sĩ trung học( đối với xã miền núi có thế dược sĩ sơ học, có thể chuyên trách hoặc kiêm nhiệm)[4].

Bình quân số cán bộ y tế / Trạm y tế của Huyện Phổ yên năm 2009, 2010 là 5,6 cán bộ/Trạm, năm 2011 là 6,1 cán bộ / Trạm y tế. Bình quân này của Phổ Yên cao hơn tỷ lệ bình quân tỉnh Thái Nguyên, bình quân 5,5 cán bộ/trạm y tế xã [7]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu của Cao Thị Thu Ngân tỉnh Bắc Kạn, số cán bộ bình quân/trạm của Bắc Kạn là 4,26 cán bộ [5]. So với tiêu chuẩn định mức Bộ y tế quy định thì bình quân số lượng cán bộ y tế/Trạm y tế đạt yêu cầu. Theo thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 5/6/2007 của liên bộ Bộ Y tế - Bộ Nội vụ, mỗi trạm y tế cần có tối thiểu 5 cán bộ. Đối với xã miền núi tăng 1000 dân được tăng 1 biên chê, đồng bằng, trung du tăng 1500-2000 dân được tăng 1 biên chế, theo đó Phổ yên còn thiếu 14 cán bộ [1]. Như vậy số lượng cán bộ y tế xã còn thiếu so với định mức theo quy định tại thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV,ngày 5/6/2007 của liên bộ Bộ Y tế - Bộ Nội vụ . Vì vậy, để đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ của trạm y tế xã. Trung tâm y tế cần có kế hoạch tuyển mới, lập kế hoạch đào tạo để có thể từng bước đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho TYT tuyến xã cả về số lượng và cơ cấu cán bộ. (chú ý người địa phương, tuyển người và đào tạo theo cơ cấu cán bộ).

Bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ YSĐK, YSĐK định hướng sản nhi,YSĐK định hướng y học dân tộc, YSĐK định hướng dự phòng chiếm tỷ lệ cao nhất năm 2009 chiếm 32,6%, năm 2010 chiếm 32%, năm 2011 chiếm 38,6%. Đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng tuyến y tế cơ sở đứng sau bác sĩ, vì chiếm số lượng đông đảo nhất và có thể khám chữa bệnh cho nhân dân khi vắng bác sĩ. Ở những xã không có bác sĩ họ là người chịu trách nhiệm chính , trong số họ có rất nhiều y sĩ có kinh nghiệm có trình độ chuyên môn và gắn bó với công việc. Đây là nguồn để có thể tuyển chọn đào tạo bác sĩ bổ xung cho y tế cơ sở.

Lực lượng điều dưỡng chiếm tỷ lệ thứ 2 sau đối tượng y sĩ, tỷ lệ này có xu hướng giảm trong 3 năm qua thể hiên năm 2009, 2010 chiếm 31%, năm 2011 chiếm 29,3%. Lực lượng này có hạn chế đó là người thực hiện y lệnh của y bác sĩ , không được phép khám chữa bệnh kê đơn, trong khi số lượng người TYT hạn chế 5-6 cán bộ nên khi phân trực không đứng một mình được mà lực lượng này chiếm gần 1/3 số cán bộ TYT. Đây là vấn đề mà bộ y tế nên nghiên cứu về cơ cấu cán bộ của TYT . Theo chúng tôi cán bộ công tác tại TYT phải có kiến thức rộng đa khoa như bác sĩ đa khoa, y sĩ đa khoa hoặc bác sĩ , y sĩ đa khoa định hướng chuyên khoa gì đó. Như vậy kiến thức anh vừa rộng và sâu ở chuyên khoa của mình, để cán bộ có thể giải quyết được mọi công việc khi thực hiện nhiệm vụ nhất là khi trực vì TYT trực chỉ có 1-2YBS / ca trực. Vì thực tế bác sĩ , y sĩ đa khoa có thể làm việc của điều dưỡng, nữ hộ sinh trong ca trực, xong các đối tượng này không thể làm các việc của y bác sĩ.

- Số lượng cán bộ y tế năm 2011 so với năm 2010 đã có sự gia tăng từ 129 lên 140 người. Tuy nhiên tổng số cán bộ còn thiếu so với quy định bộ y tế bác sĩ 1, dược sĩ đại học 1, Dược sĩ Trung cấp thiếu 14 người , YSĐK định hướng YHDT còn thiếu 5 người, cử nhân xét nghiệm y học 1 người.

Bảng 3.3: Về đội ngũ NVYTTB qua nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ bao phủ nhân viên y tế thôn bản chiếm 99,1%, còn thiếu 0,9% số thôn bản chưa có YTTB. Nhân viên YTTB có trình độ trung cấp chiếm 2,7-3%, chủ yếu trong số này là cán bộ y tế đã nghỉ hưu về tham gia công tác tại địa phương. Số nhân viên YTTB được đào tạo thời gian 9 tháng chiếm tỷ lệ còn thấp: năm 2009: 23,1%, năm 2010, 2011: 22,8%. Nhân viên YTTB được đào tạo thời gian 3 tháng tăng dần lên từ 34,8% năm 2009, lên 35,4% năm 2010 chiếm và 45,5% năm 2011, ngược lại số chưa được đào tạo giảm từ 13,2 năm 2009, 2010 xuống còn 2,1% năm 2011.Tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Cao Thị Thu Ngân, tỉnh Bắc Kạn, số nhân viên YTTB được đào tạo thời gian 9 tháng tăng từ 34,35% năm 2008 lên 57,53% năm 2010, nhân viên YTTB được đào tạo thời gian 3 tháng giảm dần từ 65,65% năm 2008, xuống 41,4% năm 2010 , số chưa đào tạo chỉ còn 1,1%[5].Đây là việc cần phải giải quyết trong thời gian tới, đó là có kế hoạch tuyển thêm biên chế YTTB cho 3 xóm chưa có và lên kế hoạch đào tạo cho số YTTB chưa qua đào tạo. Đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đối tượng YTTB 3 tháng, 6 tháng lên 9 tháng để nâng cao hiệu quả hoạt động. Nhân viên YTTB cần được trang bị 01 túi YTTB để hoạt động [3].Tuy nhiên túi thuốc YTTB cấp từ những năm 2000 suốt từ hồi đó không có cấp bổ xung và thay thế. Do đó cho đến nay hầu hết YTTB không còn túi thuốc, số nhân viên y tế thôn bản công tác tại Tiểu khu, khối phố thuộc thị trấn hiện nay vẫn chưa có phụ cấp, dẫn đến hiệu quả công việc không cao.

V. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu, phân tích nguồn nhân lực của Trung tâm y tế huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên trong 3 năm từ 2009 đến 2011, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

- Cán bộ công tác tại Trung tâm y tế huyện Phổ Yên và TYT xã, thị trấn đến năm 2011 là 140 người, trong đó: Trung tâm y tế huyện 31 người, Trạm y tế xã là 109 người. Ngoài ra còn có 334 nhân viên y tế thôn bản và 334 công tác viên dân số đang hoạt động tại các thôn bản. Cán bộ có trình độ đại học trở lên là 30 người chiếm 21,4%,

- Tỷ lệ xã có Bác sĩ năm 2011 giảm còn 94,4%, tỷ lệ xã, thị trấn có YSĐK định hướng y học dân tộc năm 2011 là 66,7%. So với tiêu chuẩn Bộ y tế quy định còn thiếu 33,3%, tỷ lệ xã, thị trấn có dược sĩ trung học năm 2011 là 22,2%. So với tiêu chuẩn Bộ y tế quy định còn thiếu 77,8%, Bình quân số cán bộ y tế / Trạm y tế năm 2009 , 2010 là 5,6 cán bộ/Trạm, năm 2011 là 6,1 cán bộ / Trạm y tế.



- Nhân lực chung của TTYT còn thiếu 1 bác sĩ, 1 dược sĩ đại học, 5 y sĩ đa khoa định hướng y học dân tộc, 14 dược sĩ trung học, 1 cử nhân xét nghiệm y học, 3 y tế thôn bản.

Khuyến nghị: Cải tiến chế độ lương, phụ cấp, chế độ thu hút với cán bộ công tác ở xã nhất là bác sĩ, xây dựng kế hoạch bảo đảm cơ cấu cán bộ hợp lý hợp lý từ trung tâm y tế đến Trạm Y tế thông qua tuyển mới, đào tạo nâng cao trình độ cán bộ và điều chuyển nơi thừa sang nơi thiếu.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ y tế -Bộ Nội vụ (2007), Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước, Hà Nội, ngày 05/6/2007.

  2. Bộ y tế ( 2010) Quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2011-2020

  3. Bộ y tế (2010) thông tư số 39 /2010/TT-BYT quy định tiêu chuẩn chức năng nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn bản , ngày 10/9/2010.

  4. Bộ y tế ( 2011), Quyết định số 3447/QĐ-BYT về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011-2020, ngày 22/9/2011.

  5. Cao Thị Thu Ngân (2011) Nghiên cứu thực trạng nhân lực của các Trạm y tế xã , phường, thị trấn ở tỉnh Bắc Kạn và xây dựng giải pháp phát triển nguồn nhân lực y tế xã giai đoạn 2011-2015.

  6. UBND tỉnh Thái Nguyên (2012), Đề án củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở Tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, Thái Nguyên 6/2012.

  7. UBND tỉnh Thái Nguyên (2011), Quyết định số 2843 /QĐ-UBND về việc phê duyệt chương trình phát triển sự nghiệp y tế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015, định hướng đến 2020, Thái Nguyên ngày 09/11/2011.

NGHIÊN CỨU SỰ LIÊN QUAN GIỮA ĐƯỜNG MÁU SAU ĂN VỚI MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HÓA VÀ BIẾN CHỨNG Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN


1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương