MỤc lục trang



tải về 1.59 Mb.
trang11/14
Chuyển đổi dữ liệu20.05.2018
Kích1.59 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

Lê Xuân Khởi*, Nguyễn Kim Lương**

*Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Vĩnh Phúc

**Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên



TÓM TẮT

Nghiên cứu thực hiện ở 262 bệnh nhân đã được chẩn đoán đái tháo đường đang điều trị ngoại trú từ tháng 3/2012 đến tháng 10/2012 tại phòng khám nội tiết, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường ngoại trú và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả kiểm soát chuyển hóa cho người bệnh ĐTĐ theo WHO năm 2002 và khuyến cáo của Hội nội tiết đái tháo đường 2009. Kết quả: hàm lượng trung bình của HbA1C là 6,80 ± 0,87; kiểm soát HbA1C ở mức tốt là 19,5% và mức kém là 55,3%. Các yếu tố chế độ ăn, chế độ luyện tập, sử dụng thuốc có ảnh hưởng không tốt đến kết quả kiểm soát HbA1c.

Từ khóa: Đái tháo đường/ kiểm soát glucose máu
EVALUATE THE RESULTS OF OUT PATIENT RESIDENT DIABETIS CONTROL IN VINH PHUC GENERAL HOSPITAL

Lê Xuân Khởi*, Nguyễn Kim Lương**


*Vinh Phuc Media Center - Health Education

**Thai Nguyen General Hospital
SUMMARY

Study conducted in 262 patients who had been diagnosed with diabetes are treated outpatients from 3/2012 to 10/2012 in the endocrine clinic of Vinh Phuc Genaral Hospital. Study objectives: evaluate the results of outpatient diabetic control and analysis of a number of factors affecting treatment outcome.Evaluation criteria results metabolic control for patients with diabetes according to the WHO in 2002 and recommended of Diabetes Endocrine Society 2009. Results: The average grade of HbA1C is 6.80 ± 0.87; HbA1C control is good at 19.5% and a low of 55.3%.The factors the patients diet, indivi dual sport, medicine employ have bad influence on blood HbA1c control.

Key words: Diabetes/glucose control
ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường là bệnh mang tính xã hội, ảnh hưởng nguy hại đến sức khoẻ cộng đồng, là gánh nặng cho toàn xã hội. Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh. Năm 1990 lần đầu tiên điều tra dịch tễ được tiến hành tại Hà Nội tỷ lệ mắc là 1,2 %, đến 2002 tỷ lệ này đã tăng lên gấp đôi là 2,16%. Một nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào năm 2006 cho thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường chung cho cả nước là 2,7%, đáng lưu ý trong đó có tới 64,6% người bệnh không biết mình mắc bệnh [1]. Đái tháo đường đang là vấn đề cấp bách cho công tác chăm sóc sức khoẻ, nhiều công trình nghiên cứu về đái tháo đường đã được tiến hành trên phạm vi cả nước. Công tác khám sàng lọc phát hiện sớm, chăm sóc, điều trị và quản lý bệnh đái tháo đường tại Vĩnh Phúc còn gặp rất nhiều khó khăn.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012.

2. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm 262 bệnh nhân đã được chẩn đoán đái tháo đường đang điều trị ngoại trú từ tháng 3/2012 đến tháng 10/2012 tại phòng khám nội tiết, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc theo tiêu chuẩn chuẩn đoán của ADA năm 1997.

2. Chỉ tiêu nghiên cứu

* Thông tin chung: tuổi, giới, nghề nghiệp, thời gian phát hiện bệnh, biến chứng

* Chỉ tiêu lâm sàng: đo huyết áp, BMI, điên tim, soi đáy mắt.

* Chỉ tiêu cận lâm sàng: lấy máu lúc đói để định lượng HbA1c, glucose, cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL- C, LDL– C, creatinin, SGOT, SGPT, protein, bilirubin, CK-MB. Xét nghiệm protein niệu.

* Phương pháp sử dụng thuốc hạ glucose máu:

- Đơn trị liệu: insulin, sulfonylurea, biguanid

- Phối hợp thuốc: Sulfonylurea + Biguanid; Sulfonylurea + Insulin; Biguanid + Insulin.

* Đánh giá kết quả thu được theo các tiêu chuấn sau: Phân loại thể trạng theo chỉ số khối cơ thể áp dụng cho người châu Á. Phân loại tăng huyết áp theo JNC VI - 1997. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả kiểm soát chuyển hóa cho người bệnh ĐTĐ theo WHO năm 2002 và khuyến cáo của Hội nội tiết đái tháo đường 2009 .



KẾT QUẢ

1. Đánh giá kết quả điều trị

Bảng 1. Mức độ kiểm soát glucose máu lúc đói và HbA1c của đối tượng nghiên cứu .

Chỉ số

Mức độ

Glucose (mmol/l)

HbA1c (%)

n

Tỷ lệ (%)

n

Tỷ lệ (%)

Tốt

54

20,6

51

19,5

Chấp nhậm

72

27,5

66

25,2

Kém

136

51,9

145

55,3

Tổng số

262

100

262

100

± SD

7,96 ± 2,44

6,80 ± 0,87

Bảng 2. Mức độ sự kiểm soát các thành phần lipid của đối tượng nghiên cứu.

Mức độ

Chỉ số

Tốt

Chấp nhận

Kém

n


n

%

n

%

n

%

Cholesterol(mmol/l)

69

26,4

85

32,4

108

41,2

262

Triglycerid(mmol/l)

67

25,6

76

29,0

119

45,4

262

HDL - C (mmol/l)

78

29,8

123

46,9

61

23,3

262

LDL - C (mmol/l)

65

24,8

122

46,6

75

28,6

262

Bảng 3. Một số biến chứng theo thời gian phát hiện bệnh của đỗi tượng nghiên cứu.

Thời gian

Biến chứng

< 1 năm

( n = 56)

1 – 5 năm

( n = 99)

> 5 năm

( n = 107)

Tổng số

( n = 262)

n

%

n

%

n

%

n

%

Tim mạch

5

8,9

14

14,1

30

28,0

49

18,7

Mắt

7

12,5

14

14,1

27

25,2

48

18,3

Thận

4

7,1

15

15,2

24

22,4

43

16,4

Thần kinh

5

8,9

11

11,1

15

14,0

31

11,8

Hô hấp

1

1,8

6

6,1

7

6,5

14

5,3

Da

2

3,6

3

3,0

9

8,4

14

5,3

2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kiểm soát ĐTĐ.

Bảng 4. Mức độ kiểm soát HbA1c với chế độ ăn.

Mức độ

Chế độ ăn

Tốt

Chấp nhận

Kém

Tổng

n

%

n

%

n

%

n

%

Tuân thủ

41

46,1

34

38,2

14

15,7

89

34,0

Không tuân thủ

10

5,8

32

18,5

131

75,7

173

66,0

P

< 0,05

< 0,05

< 0,05




Bảng 5 .Kiểm soát HbA1c với mức độ TDTT.

Mức độ

TDTT

Tốt

Chấp nhận

Kém

n

%

n

%

n

%

TDTT Thường xuyên( n = 127)

46

36,2

59

46,5

22

17,3

Không tập ( n = 135)

5

3,7

7

5,2

123

91,1

P

< 0,05

< 0,05

< 0,05

Bảng 6. Cách sử dụng thuốc và kiểm soát HbA1c.

Mức độ

Sử dụng thuốc

Tốt

Chấp nhận

Kém

n

%

n

%

n

%

Insulin ( n = 18) (1)

1

5,5

3

16,7

14

77,8

Metformin (n = 42) (2)

2

4,8

6

14,3

34

80,9

Diamicron (n = 45) (3)

2

4,4

7

15,6

36

80,0

Metformin+Diamicron (n=102) (4)

31

30,4

29

28,4

42

41,2

Metformin + Insulin (n = 30) (5)

7

23,3

9

30,0

14

46,7

Diamicron + Insulin (n = 25) (6)

8

32,0

12

48,0

5

20,0

p

1&5 < 0,05

2&4 < 0,05

3&6 < 0,05

BÀN LUẬN

  1. Kết quả kiểm soát ĐTĐ điều trị ngoại trú.

Hàm lượng HbA1C phản ánh rõ việc kiểm soát đường huyết trong 2 - 3 tháng trước khi làm xét nghiệm, vì thế chỉ số này thường được dùng để đánh giá kết quả điều trị đái tháo đường ngoại trú. Nghiên cứu của chúng tôi thấy kiểm soát HbA1C ở các mức tốt, chấp nhận, kém lần lượt là 19,5%; 25,2% và 55,3%. Nguyễn Thị Ngọc Lan nghiên cứu 180 bệnh nhân tại bệnh viện A Thái Nguyên HbA1C ở các mức tốt, chấp nhận, kém lần lượt là 29,44%; 40,56%; 30,0% [5]. Nguyễn Thị Thu Minh nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên cho kết quả tốt 18,2%; chấp nhận 29,2% và kém 52,2% [6] Nguyễn Ngọc Chất nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định mức độ kiểm soát HbA1c là tốt 31,6%; chấp nhận 35,4% và kém là 33,0% [3].

Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên và đặc điểm chung đều là kiểm soát glucose máu ở mức kém đều rất cao. Để dự phòng biến chứng mạn tính, vấn đề kiểm soát glucose máu cho bệnh nhân ngoại trú cần được chặt chẽ hơn nữa.

Rối loạn lipid máu tham gia vào sự tạo thành các mảng xơ vữa làm tăng nguy cơ biến chứng mạch máu. Đái tháo đường đi thường đi kèm với rối loạn chuyển hóa lipid, đây cũng có thể là hậu quả của tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường. Theo nghiên cứu của Tô Văn Hải và Nguyễn Thị Phúc tỷ lệ bệnh nhân tăng Cholesterol chiếm 41,67%, tăng Triglycerid 38,89%; tăng LDL-C chiếm 25% và giảm HDL-C chiếm 26,39%. Nghiên cứu của Hoàng Trung Vinh (2006) cho thấy tỷ lệ Cholesterol tăng 61,9%, tăng Triglycerid 59,04 LDL-C tăng 68,57%. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Khang tại bệnh viện C Thái Nguyên cho thấy kết quả bệnh lý là Cholesterol tăng 67,2%, tăng triglycerid 59,0%, HDL-C 36,9%, LDL-C 52,5% [4].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có 122/262 (46,6%) bệnh nhân rối loạn ít nhất 1 thành phần lipid, tỷ lệ kiểm soát kém ở các thông số lần lượt là Cholesterol 41,2%, Triglycerid 45,4%, HDL-C 23,3% và LDL-C là 28,6%.



2. Một số yếu tố liên quan đến kết quả kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường.

Chế độ ăn liên quan chặt chẽ đến tình trạng kiểm soát glucose máu vì chế độ ăn là một biện pháp điều trị trong bệnh đái tháo đường, mỗi bệnh nhân cần phối hợp với bác sĩ để xây dựng cho mình một chế độ ăn cụ thể và phải tuân thủ trong suốt quá trình điều trị. Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở nhóm tuân thủ chế độ ăn kiểm soát HbA1c ở mức tốt là 46,1% cao hơn hẳn nhóm không tuân thủ chế độ ăn 5,8%.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở những người thường xuyên luyện tập thể dục thể thao thì tỷ lệ kiểm soát glucose máu dựa vào HbA1c rất cao ở mức tốt, chấp nhận và rất thấp ở mức kém. Vận động thể lực là một trong những biện pháp điều trị không dùng thuốc cho bệnh nhân đái tháo đường, hoạt động thể lực giúp cho việc tiêu thụ đường dễ dàng do đó làm giảm lượng đường máu, mặt khác tiêu thụ năng lượng tăng làm giảm nguy cơ béo phì.

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ đối tương được điều trị phối hợp thuốc là 59,6%, cao nhất là tỷ lệ điều trị phối hợp 2 loại thuốc uống chiếm 38,9%; thấp nhất là đơn trị liệu bằng insulin chiếm 6,9%.

Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Chi, Trần Quang Trung tại bệnh viện trung ương Huế cho kết quả kiểm soát HbA1c ở các phác đồ điều trị như sau: Insulin đơn trị liệu tốt 13,33%; chấp nhận 13,33%; kém 73,34; thuốc uống đơn trị liệu tốt 17,39%; chấp nhận 47,83%; kém 34,78%; phối hợp 2 thuốc uống kiểm soát HbA1c các mức tốt, chấp nhận, kém lần lượt là 38,1%; 33,33%; 28,57%. Phối hợp thuốc uống và insulin tốt 44,9%; chấp nhận 30,61% và kém là 24,49% [2]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Khang (2009) sau khi theo dõi ở 122 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị bằng Diamicron kết hợp với Metformin có kết quả HbA1C kiểm soát tốt tăng từ 2,5% lên 20,5%; kiểm soát kém giảm từ 86,9% xuống còn 50,8% sau điều trị 3 tháng và các triệu chứng lâm sàng đều giảm rõ rệt so với trước điều trị [4]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Minh (2011) cho kết quả nhóm điều trị phối hợp Gliclazid với Metformin kiểm soát HbA1c tốt hơn nhóm điều trị bằng Gliclazid đơn thuần [6].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu trên và cùng chung nhận định kiểm soát HbA1c ở nhóm điều trị phối hợp tốt hơn ở nhóm đơn trị liệu, trong nghiên cứu của chúng tôi kiểm soát HbA1c tốt nhất ở nhóm phối hợp Diamicron + Insulin 32,0%; sau đó đến nhóm điều trị bằng Metformin + Diamicron 30,4%; phác đồ Metformin +Insulin là 23,3%. Vì vậy trong công tác điều trị lâm sàng cần chú trọng đến phối hợp sử dụng các thuốc hạ đường huyết trong điều trị đái tháo đường ngoại trú

KẾT LUẬN

1. Kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc:

- Tỷ lệ bệnh nhân có biến chứng là 120 bệnh nhân có ít nhất 1 biến chứng là 48,5%, cao nhất là nhóm trên 70 tuổi 71,7%; thấp nhất là nhóm dưới 40 tuổi 22,2%. Biến chứng tim mạch 18,7%; biến chứng mắt 18,3%.

- Hàm lượng Glucose trung bình của nhóm nghiên cứu là 7,96 ± 2,44; kiểm soát glucose máu lúc đói ở mức độ tốt là 20,6% và mức độ kém là 51,9%.

Hàm lượng trung bình của HbA1C là 6,80 ± 0,87; kiểm soát HbA1C ở mức tốt là 19,5% và mức kém là 55,3%.



2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kiểm soát glucose máu.

Kiểm soát HbA1c mức độ tốt ở đối tượng tuân thủ chế độ ăn là 46,1%; không tuân thủ là 5,8%. Đối tượng thường xuyên tập TTTD kiểm soát tốt là 36,2%; nhóm không tập TDTT là 3,7%. Đối tượng sử dụng phối hợp thuốc hạ glucose máu kiểm soát HbA1c tốt hơn nhóm điều trị bằng phác đồ đơn trị liệu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Tạ Văn Bình (2006), “Bệnh đái đường tăng glucose máu”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.

  2. Lê Văn Chi, Trần Quang Trung (2010), “Tình hình sử dụng thuốc hạ glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị NT-ĐTĐ-RLCH miền trung tây nguyên lần thứ VII, tr. 377-388.

  3. Nguyễn Ngọc Chất (2010), “ Đánh giá hiệu quả điều trị dựa vào glucose, HbA1c và một số chỉ số khác ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị NT-ĐTĐ-RLCH miền trung tây nguyên lần thứ VII, tr. 377-388.

  4. Nguyễn Thị Khang (2009), "Đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường typ 2 bằng Diamicron kết hợp Metformin tại bệnh viện C Thái Nguyên". Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị NT-ĐTĐ-RLCH miền trung tây nguyên lần thứ VII, tr. 187-197.

  5. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011), “Đánh giá kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện A Thái Nguyên”. Luận văn thạc sĩ Y học, tr. 31-33.

  6. Nguyễn Thị Thu Minh (2011), “Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh nhân đái tháo đường typ 2 trên 60 tuổi bằng Gliclazid đơn thuần và phối hợp Metfomin tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên”. Luận văn bác sỹ chuyên khoa cấp 2, tr.55-56.

  7. G. Scherthaner. Et al (2004), Guide study: double - blind comparison of one - daily gliclazide MR and glimepiride in typ 2 diabetes patients, European journal of clinical investigation, pp. 535 -542.

  8. Saenz A. et al (2005), Metformin monotherapy for typ 2 diabetes mellitus, the cochrane collaboration cochrane review, issue 3.

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM NGỨA CỦA CHLORPHENIRAMIN (kháng H1 ) PHỐI HỢP VỚI FAMOTIDIN (kháng H2) TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH SẨN NGỨA NỘI SINH

1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương