MỤc lục trang



tải về 1.59 Mb.
trang14/14
Chuyển đổi dữ liệu20.05.2018
Kích1.59 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Người dịch: Triệu Thành Nam

Nguồn: http://www.medicalnewstoday.com/releases/249145.php
Article Date: 19 Aug 2012 - 0:00 PDT


Nghiên cứu từ Đại Học Nam California và Viện Ngăn ngừa Ung thư California phát hiện ra rằng việc nấu thịt đỏ ở nhiệt độ cao, đặc biệt là thịt đỏ rán bằng chảo, có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt lên đến 40 %.

Mariana Stern, phó Giáo sư Y học dự phòng, Khoa Y – Đại học Nam California chỉ đạo các phân tích cho nghiên cứu mang tên: Thịt đỏ và gia cầm, thói quen nấu nướng, tính nhạy cảm của gen, và nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt: Các kết quả từ Nghiên Hợp tác của California về Ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu này cung cấp các bằng chứng mới, quan trọng về cách mà thịt đỏ và thói quen nấu nướng có thể làm tăng nguy ung thư tuyến tiền liệt

Các nghiên cứu trước đây đã nhấn mạnh vào một mối liên hệ giữa khẩu phần ăn với nhiều thịt đỏ và nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt, nhưng bằng chứng để khẳng định thì rất hạn chế. Việc quan tâm đến cách thức nấu chín thịt đỏ, tuy vậy, chỉ ra rằng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt có thể là kết quả của việc các hóa chất có khả năng gây ung thư được hình thành khi các loại thịt được nấu ở nhiệt độ cao.

Các nhà nghiên cứu đã khảo sát thông tin từ gần 2.000 người đàn ông tham giam trong Nghiên Hợp tác của California về Ung thư tuyến tiền liệt. Đây là cuộc nghiên cứu bệnh chứng đa chủng tộc, được tiến hành ở Vùng vịnh San Francisco bởi Esther John – nhà khoa học nghiên cứu cao cấp của Viện ngăn ngừa ung thư California, và ở Los Angeles bởi Sue A. Ingles, Phó giáo sư Y học Dự phòng ở Khoa Y Keck, Đại Học Nam California. Những người tham gia nghiên cứu phải hoàn thành bản câu hỏi toàn diện đánh giá lượng và loại thịt mà họ ăn vào, bao gồm thịt gia cầm và thịt đỏ đã chế biến. Thông tin liên quan đến thói quen nấu nướng (ví dụ như, rán bằng chảo, nướng băng lò…) được thu thập bằng việc sử dụng các bức ảnh màu thể hiện các mức độ chín của thịt. Hơn một 1000 người đàn ông trong cuộc nghiên cứu đã được chẩn đoán với căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt ở giai đoạn tiến triển.

“Chúng tôi phát hiện ra rằng những người đàn ông ăn nhiều hơn 1.5 khẩu phần thịt đỏ rán mỗi tuần làm nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt của họ tăng lên đến 30 %,” Stern nói. “ Thêm vào đó, những người ăn nhiều hơn 2.5 khẩu phần thịt đỏ nấu ở nhiệt nhiệt độ cao có nguy cơ bị bệnh lên đến 40 %.”

Khi xem xét kỹ lưỡng các loại thịt đỏ cụ thể, các loại Hăm-bơ-gơ, nhưng không phải là thịt miếng, có mối liên kết với nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt cao, đặc biệt là đối với nhưng người đàn ông gốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. “Chúng tôi cho rằng những phát hiện mới này là kết quả của sự tích tụ các chất gây ung thư ở các mức độ khác nhau được phát hiện trong Hăm-bơ-gơ, căn cứ vào việc chúng có thể đạt được nhiệt độ cao hơn, bên trong và bên ngoài, nhanh hơn thịt miếng”, Stern nói thêm.

Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những người đàn ông với khẩu phần ăn nhiều thịt gia cầm nướng có nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn, trong khi đó việc ăn thịt gia cầm rán có liên hệ với nguy cơ mắc bệnh cao. Stern lưu ý rằng việc dùng chảo rán, dù bất kì loại thịt nào, cũng đều làm cho nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt tăng cao. Kết quả này giống với kết quả của nghiên cứu trước đây của Stern về cá (khi được chế biến ở nhiệt độ cao, đặc biệt khi được rán bằng chảo làm tăng nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt.)

Các nhà nghiên cứu chưa làm rõ được nguyên nhân tại sao rán bằng chảo chứa đựng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt cao hơn, nhưng họ nghi ngờ đó là do các chất gây ưng thư-là các các amine dị vòng (HCAs) có khả năng gây tổn hại đến AND được hình thành trong suốt quá trình chế biến thịt đỏ và thịt gia cầm. HCAs được hình thành khi các loại được và amino axit được nấu ở nhiệt độ cao và trong thời gian dài. Các chất gây ung thư khác, như các hy-dro-các-bon thơm đa vòng (PAHs), được hình thành trong suốt quá trình nướng hoặc hun khói thịt. Khi mỡ từ thịt rơi xuống ngọn lửa, khói bốc lên sẽ để lại các PAHs trên thịt. Thực nghiệm đã khẳng định HCAs và PAHs góp phần gây ra một số loại ung thư, bao gồm cả ung thư tuyến tiền liệt.

“Chỉ riêng những quan sát từ nghiên cứu này thì chưa đủ để đưa ra bất kì khuyến cáo sức khỏe nào, nhưng căn cứ vào việc chỉ biết đến một vài yếu tố nguy cơ có thể tránh, việc hiểu các yếu tố liên quan đến khẩu phần ăn và cách thức chế biến thức ăn đối với sức sức khỏe mọi người là rất quan trọng.” Gs. Stern nói.


VITAMIN D: DẤU HIỆU TIÊN LƯỢNG UNG THƯ VÚ


Người dịch: Nguyễn Huy Hoàng, Bùi Thị Hà

Từ: http://www.medscape.com/viewarticle/775916

Ngày 10 tháng 12 năm 2012

Theo một nguyên cứu của nhóm nghiên cứu của bác sĩ Coleman, báo cáo ở hội nghị chuyên đề ung thư vú lần thứ 35 tại San Antonio thì bệnh nhân ung thư vú bị thiếu hụt vitamin D có tiên lượng xấu hơn khi điều trị, cùng với nồng độ acid zoledronic cao hơn so với những người có mức độ vitamin D bình thường.



Bác sĩ Robert Coleman, MD, từ Đại học Sheffield, Vương quốc Anh cho biết: “Những phụ nữ có đủ lượng vitamin D cho cơ thể có tiên lượng tốt hơn nhiều so với những phụ nữ bị thiếu hụt, do đó chúng ta nên kiểm tra và bổ sung nó một cách thích hợp”. “ Nhưng liệu vitamin D có thật sự là một can thiệp làm thay đổi kết quả điều trị bệnh hay không thì cần những nghiên cứu kỹhơn” - ông cho biết thêm.

Thử nghiệm AZURE (N Engl J 2011 Med. 365:1396-1405), công bố năm trước bởi nhóm nghiên cứu của bác sĩ Coleman so sánh hệ thống điều trị ung thư vú theo phác đồ và điều trị có kết hợp với acid zoledronic 4mg trong 3360 bệnh nhân bị ung thư vú giai đoạn II và III. Acid zoledronic được chỉ định để làm giảm và chậm các biến chứng ở xương của bệnh nhân ung thư có di căn.

Sau khi theo dõi khoảng 53,3 tháng, các nhà nghiên cứu thấy kết quả điều trị có tác dụng đáng kể với những phụ nữ sau mãn kinh (tỷ số nguy cơ [HR], 0,75)



Các nhà nghiên cứu đã tiến hành phân tích dấu ấn sinh học, bởi vì “ chúng tôi cảm thấy nó có thể giúp chúng ta giải thích được một số cơ chế sinh học của kết quả này”, bác sĩ Coleman cho biết.

Trong một nhóm nhỏ từ 872 bệnh nhân nghiên cứu ban đầu, các nhà nghiên cứu thấy rằng trong huyết thanh của bệnh nhân có chứa hàm lượng cơ bản của 25-hydroxyvitamin D, N-terminal propeptide loại I procollagen (PinP) - một dấu hiệu hình thành xương và loại beta C-thiết bị đầu cuối telopeptide collagen (β-ctx) - một dấu hiệu tái hấp thu xương. PinP trên 70 ng / mL được coi là bất thường, giống như nếu mức độ của β-ctx dưới 0,299 ng / mL. Đối với vitamin D, nồng độ dưới 30 ng/ mL được coi là không đủ.

Trong số 872 bệnh nhân nghiên cứu thì có gần một nửa số phụ nữ chiếm 46,9% là tiền mãn kinh, 30,5% đã hơn 5 năm sau mãn kinh, và 14,1% ít hơn 5 năm sau mãn kinh. Các phân tích cho thấy rằng không phải PinP β-ctx cho chúng ta dự đoán về kết quả điều trị", nhưng với vitamin D thì có sự khác biệt đáng ngạc nhiên", bác sĩ Coleman nói.

Cụ thể, đã không có sự khác biệt đáng kể giữa các bệnh nhân có các mức độ PinP bất thường với những người có mức bình thường trong thời gian điều trị, hoặc để xương tái phát (tỷ số nguy cơ [HR], 1,15, P = 0,5957) hoặc thời gian để tái phát xa ([HR], 0,86, P = 0,4098).

Tương tự như vậy, các bệnh nhân có β-ctx ở mức độ bình thường và bất thường đều có kết quả điều trị giống nhau với lần tái phát xương (HR 1,43, P = 0,592) và thời gian tái phát xa (HR, 1,21, P = 0,2559).

Ngược lại, hàm lượng vitamin D ở mức bình thường đã dự đoán nguy cơ tái phát thấp hơn cho xương (HR 0,11, P = 0,0257) hơn những người có hàm lượng vitamin D thấp. Ngoài ra còn có một xu hướng tiên lượng được cải thiện cho tái phát xa (HR 0,56, α= 95%, 0,31, P = 0,0519).

Với phụ nữ sau mãn kinh được cung cấp đủ vitamin D đạt được nhiều hơn từ zoledronic acid (HR 0,09) hơn so với những người có mức độ thiếu hụt (HR 0,72), sự khác biệt tiếp cận có ý nghĩa thống kê (P = 0,0747).

Phụ nữ tiền mãn kinh có hàm lượng acid zoledronic thấp thì cho dù họ có đủ (HR 1,45) hoặc không đầy đủ (HR 1,44) nhưng mức độ vitamin D dường như không có tác động (P = 0,9886).



Tuy nhiên, bác sĩ Chlebowski cho biết: “Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng chỉ có 20% của sự khác biệt trong mức độ vitamin D giữa các cá nhân có thể được giải thích bằng chế độ ăn uống, bổ sung, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, tập thể dục, và chỉ số khối cơ thể, có lẽ là 80% của sự khác biệt giữa các cá nhân mà không có bất kỳ biện pháp can thiệp bổ sung thiếu hụt nào cho thấy một sự thay đổi về kết quả điều trị ung thư vú, ngoài bệnh còi xương.”
LOÀI TẢO CÓ KHẢ NĂNG CHỮA UNG THỬ ?


Người dịch: Nguyễn Thu Giang, Nguyễn Thị Mão


Từ: http://www.sciencedaily.com/releases/2012/12/121210160846.htm

Ngày 10 tháng 12 năm 2012



Các nhà sinh vật học đã “thiết kế” tảo để tạo ra các loại thuốc chống ung thư phức tạp. Các nhà sinh vật học tại đại học UC San Diego đã thành công trong kỹ thuật tạo ra tảo biến đổi gene để sản xuất ra một loại thuốc phức tạp và đắt tiền được sử dụng để điều trị ung thư.

"Vì chúng ta có thể làm cùng loại thuốc chính xác trong tảo, chúng ta có cơ hội để giảm giá thành xuống một cách đáng kể", ông Stephen Mayfield, một giáo sư sinh học tại UC San Diego và là giám đốc của Trung tâm công nghệ sinh học tảo (Algae Biotechnology hay SD-CAB) phát biểu.

Đây là một nhóm các tổ chức nghiên cứu cũng đang làm việc để phát triển nhiên liệu sinh học mới từ tảo.

Phương pháp của họ thậm chí có thể được sử dụng để tạo ra những viên thuốc được thiết kế phức tạp mà không thể được sản xuất bởi bất cứ hệ thống nào khác, những viên thuốc có thể được dùng để điều trị ung thư hoặc những bệnh tật khác của con người theo những cách mới.

"Bạn không thể tạo ra những thuốc này trong vi khuẩn vì vi khuẩn không có khả năng gấp các protein thành các hình dạng, phức tạp ba chiều", ông Mayfield cho biết. "Và bạn không thể tạo những protein này trong các tế bào động vật có vú vì độc tố có thể giết chết chúng”.

Thành công này là đỉnh cao trong 7 năm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của Mayfield để chứng minh rằng tảo Chlamydomonas reinhardtii, một loại tảo màu xanh lá cây được sử dụng rộng rãi trong các phòng thí nghiệm sinh học như là một sinh vật mô hình di truyền có thể sản xuất một loạt các protein của con người với số lượng lớn hơn và rẻ hơn so với vi khuẩn hoặc các tế bào động vật có vú.

Mayfield và các đồng nghiệp của ông đã đạt được bước đột phá đầu tiên của họ năm năm trước khi họ đã chứng tỏ họ có thể tạo ra một protein amyloid huyết thanh động vật có vú trong tảo. Trong năm sau đó, họ đã thành công trong việc dùng tảo để sản xuất một loại protein kháng thể của con người. Trong năm 2010, họ đã chứng minh rằng các protein phức tạp hơn - loại thuốc điều trị của con người, chẳng hạn như yếu tố mạch máu tăng trưởng nội mô, hoặc VEGF, đã từng được sử dụng để điều trị các bệnh nhân bị bệnh khí thũng phổi - có thể được sản xuất trong tảo.

Sau đó, trong tháng Năm năm nay, nhóm nghiên cứu của Mayfield đã làm việc cùng một nhóm nghiên cứu khác, đứng đầu bởi Joseph Vinetz từ học Y của UC San Diego, đã thiết kế tảo để sản xuất một protein phức tạp hơn - một loại vắc-xin mới, thí nghiệm sơ bộ cho thấy, có thể bảo vệ hàng tỷ người khỏi bệnh sốt rét, một trong những bệnh phổ biến nhất trên thế giới.

"Sự phát triển của vắc-xin sốt rét cho chúng ta thấy rằng tảo có thể sản xuất protein cấu trúc thực sự phức tạp, có chứa rất nhiều các liên kết disulfide, các liên kết này sẽ gấp thành các cấu trúc ba chiều chính xác", ông Mayfield nói. "Kháng thể là các protein phức tạp đầu tiên chúng tôi thực hiện. Tuy nhiên, thuốc chủng ngừa sốt rét là phức tạp, với các liên kết disunphua khá bất thường. Vì vậy, một khi chúng tôi đã làm điều đó, chúng tôi tin rằng chúng tôi có thể làm bất cứ điều gì trong tảo".

Trong phát triển mới nhất của họ, các nhà khoa học đã biến đổi gene tảo để sản xuất protein, phức tạp ba chiều với hai "domain" - một trong số đó chứa một kháng thể, có thể là nơi cư trú và tấn công tới một tế bào ung thư và một domain khác có chứa một độc tố, độc tố này giết chết các tế bào ung thư phía ngoài biên. Như vậy "protein dung hợp" hiện nay được tạo ra bởi các công ty dược phẩm trong một quá trình phức tạp gồm hai bước bằng sự phát triển domain kháng thể đầu tiên trong một tế bào chuột đồng Trung Quốc, hay CHO. Kháng thể được tinh chế, sau đó được gắn với một loại độc tố bên ngoài tế bào. Sau đó, protein cuối cùng được tái tinh khiết.


Domain cấu trúc có thể được định nghĩa là những bộ phận, những khu vực trong một phân tử protein được cuộn gấp trong không gian giống như một phân tử protein nhỏ hoàn chỉnh và thường là những nơi thực hiện chức năng liên kết, chức năng lắp ráp của phân tử protein trong hoạt động chức năng của nó. Trong nhiều protein domain gắn liền với chức năng kết hợp đặc hiệu và ở nhiều enzym được cấu tạo từ các domain thì trung tâm hoạt động lại được bố trí ở biên giới của hai hay nhiều domain. Sự thành thành các domain trong phân tử protein tạo ra khả năng tương tác linh hoạt giữa các đại phân tử, khả năng cơ động, dịch chuyển tương ứng giữa những bộ phận trong quá trình thực hiện chức năng sinh học. Ở những protein nguồn gốc khác nhau, nhưng có chức năng tương tự thì các domain có cấu trúc tương đối giống nhau.

"Chúng tôi có một lợi thế gấp đôi so với quá trình đó", ông Mayfield nói. "Đầu tiên, chúng tôi thực hiện điều này như là một loại protein duy nhất với các kháng thể và các domain độc đã hợp nhất với nhau trong một gene đơn, vì vậy chúng tôi chỉ phải tinh chế nó lần thứ hai. Bởi vì chúng tôi thực hiện điều này trong tảo thay vì trong các tế bào CHO, chúng tôi có lợi thế về chi phí hơn nhiều trong việc sản xuất các protein".

Protein dung hợp mà các nhà nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã sản xuất từ ​​tảo là giống với một trong số được phát triển bởi các công ty dược phẩm với một chi phí đề xuất nhiều hơn 100.000$ . Các nhà nghiên cứu cho biết cùng một loại protein này có thể được sản xuất trong tảo với giá thành chỉ bằng một phần nhỏ so với giá trên. Và các nhà nghiên cứu UCSD - Miller Tran, Christina Van, Dan Barrera và Jack Bui, tại trường Y của UC San Diego - xác nhận rằng hợp chất này làm việc giống như phương pháp điều trị đắt tiền hơn: nó đã cư trú trên các tế bào ung thư và ức chế sự phát triển của khối u ở những con chuột trong phòng thí nghiệm.

Mayfield cho biết một protein dung hợp như vậy có thể đã không được sản xuất trong một tế bào CHO động vật có vú, bởi vì các chất độc sẽ giết chết con vật. Nhưng vì protein được sản xuất trong lạp lục của tảo - nơi quá trình quang hợp diễn ra - do vậy các protein này đã không giết chết tảo.

”Protein được cô lập bên trong lục lạp", Mayfield nói. “Và lục lạp có protein khác so với phần còn lại của tế bào, và những protein này không bị ảnh hưởng bởi độc tố. Nếu các protein chúng tôi tạo ra đã bị thoát ra khỏi lục lạp, nó có thể đã làm chết các tế bào. Vì vậy, thật tuyệt vời để nghĩ rằng không có bất kỳ phân tử nào thoát ra khỏi các lục lạp. Có hàng ngàn bản sao của protein đó bên trong các lục lạp và chúng không hề thoát ra ngoài”.

Mayfield cho biết sản xuất protein dung hợp đặc biệt này là khá đơn giản bởi vì nó liên quan đến pha trộn hai domain - một để nhận biết và liên kết với các tế bào ung thư và một để giết chúng. Nhưng trong tương lai, ông cho rằng các phương pháp giống như phương pháp này có thể dùng để thiết kế tảo nhằm sản xuất các protein phức tạp hơn với nhiều các domain hơn.

"Liệu chúng ta có thể kết hợp bốn hoặc năm tính chất và sản xuất một loại protein thiết kế trong tảo với đa chức năng mà không tồn tại trong tự nhiên không. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể?" ông nói thêm. "Giả sử tôi muốn một vài protein thụ thể với một loạt các protein kích hoạt để tôi có thể kích thích sự sản xuất xương hoặc sự sản xuất các neuron thần kinh? Tại một số điểm bạn có thể bắt đầu suy nghĩ về các loại thuốc theo cùng một cách chúng ta nghĩ về việc lắp ráp một máy tính, kết hợp các mô-đun khác nhau với các mục đích cụ thể. Chúng ta có thể sản xuất một loại protein có một domain nhắm đến loại tế bào mà bạn muốn tác động đến, và một domain khác xác định cái mà bạn muốn tế bào đó sẽ thực hiện".

Dự án nghiên cứu được hỗ trợ bởi các khoản tài trợ từ Quỹ Khoa học Quốc gia và tổ chức Skaggs Family Foundation.






1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương