Ủy ban nhân dân huyện bình cháNH



tải về 56.09 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu24.07.2016
Kích56.09 Kb.


Y BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: /QĐ-UBND

Bình Chánh, ngày tháng 11 năm 2012



QUYẾT ĐỊNH

Về việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị Hạnh, cư trú tại 1A25/4 ấp 1,

xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh

(lần đầu)




CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Khiếu nại ngày 11 tháng 11 năm 2011;

Căn cứ Luật Tố tụng hành chính ngày 07 tháng 12 năm 2010;

Căn cứ Quyết định số 3301/QĐ-UB ngày 30 tháng 6 năm 2004 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tạm giao đất cho Khu Quản lý giao thông đô thị để tổ chức bồi thường giải phóng mặt bằng đầu tư xây dựng đường song hành và cải tạo mở rộng Tỉnh lộ 10 thuộc địa bàn các quận 6, quận Bình Tân và huyện Bình Chánh;

Căn cứ Quyết định 2340/QĐ-UBND ngày 28 tháng 5 năm 2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố về duyệt Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh;

Căn cứ Quyết định số 284/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về điều chỉnh Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh;

Căn cứ Quyết định số 4409/QĐ-UBND ngày 17 tháng 10 năm 2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố về điều chỉnh Quyết định số 3301/QĐ-UB ngày 30 tháng 6 năm 2004 của Ủy ban nhân dân Thành phố về thu hồi đất để bồi thường giải phóng mặt bằng chuẩn bị thực hiện Dự án cải tạo, mở rộng đường Tỉnh lộ 10 thuộc địa bàn quận Bình Tân và huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh;

Căn cứ Phương án số 17/PA-HĐBT ngày 21 tháng 01 năm 2011 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 24 tháng 01 năm 2011;

Xét đơn khiếu nại ngày 10 tháng 7 năm 2012 của bà Lê Thị Hạnh.

Địa chỉ cư trú tại: 1A25/4 ấp 1, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khiếu nại đối với Quyết định số 1046/QĐ-UBND ngày 20 tháng 3 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh về hỗ trợ thiệt hại vật kiến trúc đối với bà Lê Thị Hạnh, địa chỉ cư trú: tại 1A25/4 ấp 1, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ giải tỏa: 1A25/4 ấp 1, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, thuộc một phần thửa số 107, tờ bản đồ số 07, tài liệu 299/TTg (tương ứng một phần đường, tờ bản đồ số 129, tài liệu Bản đồ địa chính năm 2005), thuộc Bộ địa chính xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh.

Nội dung khiếu nại

Yêu cầu được bồi thường phần đất bị ảnh hưởng trong Dự án Tỉnh lộ 10 có diện tích 30,4m2. Ngoài nội dung khiếu nại trên, bà Lê Thị Hạnh không còn nội dung khiếu nại nào khác.



Kết quả xác minh nội dung khiếu nại

Phần đất bà Lê Thị Hạnh đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện Dự án đầu tư mở rộng đường Tỉnh Lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh có diện tích 30,4m2, thuộc một phần thửa số 107, tờ bản đồ số 07, tài liệu 299/TTg (tương ứng một phần đường, tờ bản đồ số 129, tài liệu bản đồ địa chính năm 2005), thuộc Bộ địa chính xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh.

Ngày 20 tháng 3 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định 1046/QĐ-UBND về hỗ trợ thiệt hại vật kiến trúc đối với bà Lê Thị Hạnh, kèm Phiếu chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ thiệt hại số 756/PCT-BBT ngày 14 tháng 11 năm 2011 của Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại đối với bà Lê Thị Hạnh, cụ thể như sau:

* Hỗ trợ về vật kiến trúc sân gạch tàu: diện tích 20,5m2 x hệ số 1,3 x 90.000đồng/m2 x 40% = 959.400 đồng.

Tổng chi phí bồi thường, hỗ trợ thiệt hại mà bà Lê Thị hạnh nhận là: 959.400đồng (Chín trăm năm mươi chín ngàn, bốn trăm đồng).

Căn cứ tài liệu, hồ sơ hiện có và kết quả thẩm tra xác minh của các cơ quan chuyên môn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh kết luận như sau:

Căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đo đạc - Thiết kế - Xây dựng An Lạc lập ngày 03 tháng 3 năm 2009, được bà Lê Thị Hạnh ký xác nhận ngày 09 tháng 4 năm 2009 và Ủy ban nhân dân xã Phạm Văn Hai ký xác nhận ngày 28 tháng 9 năm 2010, thể hiện phần đất của bà Lê Thị Hạnh đang sử dụng, bị ảnh hưởng trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh. Vị trí mặt tiền đường Tỉnh lộ 10, tổng diện tích sử dụng là 30,4m2, thuộc một phần thửa số 107(diện tích 30,4m2, loại đất T), tờ bản đồ số 07, tài liệu 299/TTg. Theo tài liệu bản đồ địa chính 2005 thì phần đất trên là đường b (diện tích 30,4m2), tờ bản đồ số 129, Bộ địa chính xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh.

Phần đất trên có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị Sang hiến đất (lò gạch Vĩnh Lộc) cho nhà nước theo Quyết định số 337/QĐ-UB ngày 27 tháng 5 năm 1976 của Ủy ban nhân dân Thành phố.

Ngày 26 tháng 5 năm 1977, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 606/QĐ-UB về việc giao lò gạch Vĩnh Lộc cho Sở Nông nghiệp quản lý. Ngày 02 tháng 12 năm 1981, Sở Nông nghiệp ban hành Quyết định số 2956/NN-QĐ về chuyển giao xí nghiệp QD gạch Vĩnh Lộc sang trực thuộc Công ty Xây lắp thuộc Sở Nông nghiệp.

Ngày 29 tháng 12 năm 1992, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 300/QĐ-UB về việc xác định Công ty Xây lắp Nông nghiệp là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn. Ngày 30 tháng 8 năm 2000, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 5904/QĐ-UB, sáp nhập Công ty Xây lắp thuộc Sở Nông nghiệp vào Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn.

Ngày 27 tháng 8 năm 2004, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Công văn số 5119/UB-TM về dự án khu dân cư tại số 42B Tỉnh lộ 10 xã Phạm Văn Hai huyện Bình Chánh. Cụ thể, Ủy ban nhân dân Thành phố giải quyết như sau: “Chấp thuận cho Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn chuyển mục đích sử dụng đất (phần diện tích đất còn lại trong tổng số 2,7ha, sau khi đã trừ đi phần diện tích đất nằm trong diện tích đất bị thu hồi theo Quyết định số 1995/QĐ-UB ngày 10 tháng 5 năm 2002 của Ủy ban nhân dân Thành phố) tại mặt bằng số 42B, Tỉnh lộ 10, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, để lập dự án tự thực hiện đầu tư xây dựng khu nhà ở kinh doanh. Trường hợp này được xem như bán chỉ định cho Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn, giá bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác định theo giá thị trường”.

Căn cứ Phần III, Chương II của Phương án số 17/PA-HĐBT ngày 21 tháng 01 năm 2011 của Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh, quy định người bị Nhà nước thu hồi đất, có một trong các điều kiện sau đây thì được bồi thường:



1. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

2. Có quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Trường hợp có giấy tờ nêu tại khoản 1, khoản 2 Điều này nếu là tổ chức sử dụng đất thì phải thuộc một trong 3 trường hợp sau:

a) Đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

b) Đất nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp mà tiền trả cho việc chuyển nhượng không có nguồn từ ngân sách nhà nước;

c) Đất sử dụng có nguồn gốc hợp pháp từ hộ gia đình, cá nhân.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính (theo Chỉ thị 299/TTg);

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất, gồm: Giấy tờ thừa kế theo quy định của pháp luật; Giấy tờ tặng cho nhà đất có công chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) tại thời điểm tặng, cho; Giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất của cơ quan, tổ chức giao nhà;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật, giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP phải bảo đảm các điều kiện sau:

- Nhà thanh lý, hóa giá, nhà bán phải thuộc sở hữu nhà nước gồm: nhà ở tiếp quản từ chế độ cũ, nhà vô chủ, nhà vắng chủ đã được xác lập sở hữu nhà nước; nhà ở tạo lập do ngân sách nhà nước đầu tư; nhà ở được tạo lập bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; nhà ở được tạo lập bằng tiền theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm; các nhà ở khác thuộc sở hữu nhà nước;

- Nhà được cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức đoàn thể của Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở, bán nhà ở gắn liền với đất ở thuộc sở hữu nhà nước trước ngày 05 tháng 7 năm 1994 hoặc giấy tờ bán nhà ở do tổ chức chuyên quản nhà ở bán theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở.

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người đang sử dụng đất quy định tại điểm e khoản 3 Điều 8 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, bao gồm:

- Có tên trong sổ địa bộ, sổ điền thổ, sổ chứng thư kiến điền (bản trích sao) mà nay chủ sở hữu đang trực tiếp sử dụng đất;

- Bằng khoán điền thổ;

- Văn tự đoạn mãi bất động sản (gồm nhà ở và đất ở) có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ;

- Văn tự mua bán nhà ở, tặng cho nhà ở, đổi nhà ở, thừa kế nhà ở mà gắn liền với đất ở có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ;

- Bản di chúc hoặc giấy thỏa thuận tương phân di sản về nhà ở được cơ quan thuộc chế độ cũ chứng nhận;

- Giấy phép cho xây cất nhà ở hoặc giấy phép hợp thức hóa kiến trúc của cơ quan thuộc chế độ cũ cấp (trừ đất thuê);

- Bản án của cơ quan Tòa án của chế độ cũ đã có hiệu lực thi hành.

g) Các loại giấy tờ khác chứng minh việc tạo lập nhà ở, đất ở nay được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận, trên cơ sở đề xuất của Sở Tài nguyên và Môi trường.

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 4 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.

6. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.

7. Trường hợp không có giấy tờ hợp pháp, hợp lệ thì phải có một trong các điều kiện sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân quận - huyện đề nghị thông qua Sở chuyên ngành trình Ủy ban nhân dân thành phố quyết định;

b) Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 44 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ (trừ điểm d khoản 1);

c) Người đang sử dụng đất theo quy định hoặc tại Điều 45 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP (trừ điểm d khoản 1 và khoản 2);

d) Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 46 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP;

đ) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước quy định tại điểm a và điểm d khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, nhưng trong thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn sử dụng.

Đối với các trường hợp thuộc diện xử lý của Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quộc hội về giải quyết nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 thì phải áp dụng Nghị quyết này để xử lý.

e) Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, chùa, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ hoặc các cơ sở thờ tự khác của tôn giáo (do nhận chuyển nhượng, hiến, tặng, cho bằng giấy tay, trước ngày 01 tháng 7 năm 2004) được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp;

g) Căn cứ quy định tại Điều 3 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân quận - huyện chịu trách nhiệm thẩm tra kết quả xác định: thời điểm sử dụng đất; thời điểm thay đổi mục đích sử dụng đất; thời điểm tạo lập nhà, công trình và xác định các loại đất để làm cơ sở tính bồi thường, hỗ trợ”.

Xét thấy, bà Lê Thị Hạnh không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại phần III Chương II Phương án số 17/PA-HĐBT ngày 21 tháng 01 năm 2011 của Hội đồng Bồi thường giải phóng mặt bằng về bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh, đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-UBND ngày 24 tháng 01 năm 2011, đối với phần đất bà Hạnh đang sử dụng bị thu hồi để thực hiện dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10. Đồng thời, bà Lê Thị Hạnh cũng không đủ điều kiện được hỗ trợ đối với phần đất nêu trên vì nguồn gốc đất do bà Nguyễn Thị Sang hiến đất (lò gạch Vĩnh Lộc) cho Nhà nước năm 1976. Phần đất trên đã được Nhà nước trực tiếp quản lý từ năm 1976 đến nay. Tại thời điểm Ủy ban nhân dân Thành phố thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh thì Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn đang trực tiếp quản lý phần đất trên. Ngày 21 tháng 5 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh ban hành Quyết định 1046/QĐ-UBND không bồi thường, hỗ trợ về đất cho bà Lê Thị Hạnh là đúng quy định. Bà Lê Thị Hạnh yêu cầu được bồi thường phần đất bị ảnh hưởng trong Dự án Tỉnh lộ 10 có diện tích 30,4m2 là không có cơ sở xem xét, giải quyết.



3. Kết quả đối thoại

Tại buổi đối thoại giải quyết khiếu nại ngày 20 tháng 9 năm 2012 của Ủy ban nhân huyện Bình Chánh, người khiếu nại không cung cấp được hồ sơ, tài liệu có tình tiết mới làm thay đổi nội dung kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Lê Thị Hạnh. Cụ thể, người chủ trì đối thoại và các đơn vị tham dự gồm Phòng Tư pháp Huyện, Văn phòng Ủy ban nhân dân Huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường Huyện, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng Huyện, Ủy ban nhân dân xã Phạm Văn Hai thống nhất bác toàn bộ nội dung khiếu nại của bà Lê Thị Hạnh với yêu cầu: bồi thường phần đất bị ảnh hưởng trong Dự án Tỉnh lộ 10 có diện tích 30,4m2.



Kết luận, căn cứ kết quả xác minh và cơ sở pháp lý nêu trên, bà Lê Thị Hạnh khiếu nại Quyết định số 1046/QĐ-UBND ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh về hỗ trợ thiệt hại vật kiến trúc đối với bà Lê Thị Hạnh, địa chỉ giải tỏa: 1A25/4 ấp 1, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh thuộc một phần thửa số 107, tờ bản đồ số 07, tài liệu 299/TTg (tương ứng một phần đường, tờ bản đồ số 129, tài liệu bản đồ địa chính năm 2005), thuộc Bộ địa chính xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh là sai toàn bộ.

Xét Quyết định 1046/QĐ-UBND ngày 20 tháng 3 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh và Báo cáo 381/BC-TTH ngày 19 tháng 11 năm 2012 của Thanh tra Huyện,



QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay, giữ nguyên và công nhận nội dung Quyết định số 1046/QĐ-UBND ngày 20 tháng 3 năm 2012 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh về hỗ trợ thiệt hại vật kiến trúc đối với bà Lê Thị Hạnh. Địa chỉ giải tỏa: 1A25/4 ấp 1, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh thuộc một phần thửa số 107, tờ bản đồ số 07, tài liệu 299/TTg (tương ứng một phần đường, tờ bản đồ số 129, tài liệu bản đồ địa chính năm 2005), thuộc Bộ địa chính xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh trong Dự án đầu tư mở rộng Tỉnh lộ 10 trên địa bàn huyện Bình Chánh

Bác toàn bộ nội dung khiếu nại của bà Lê Thị Hạnh, cư trú tại 1A25/4 ấp 1, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh với yêu cầu được bồi thường phần đất bị ảnh hưởng trong Dự án Tỉnh lộ 10 có diện tích 30,4m2.



Điều 2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này, nếu không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại, bà Lê Thị Hạnh có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân theo quy định của luật Tố tụng hành chính.

Quá thời hạn nêu trên, bà Lê Thị Hạnh không khiếu nại lần hai, Quyết định này có hiệu lực thi hành.

Giao Thanh tra Xây dựng Huyện công bố nội dung và tổ chức thực hiện Quyết định này.

Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Huyện, Trưởng Công an Huyện, Chánh Thanh tra Huyện, Trưởng phòng Tư pháp Huyện, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường Huyện, Chủ tịch Hội đồng bồi thường thiệt hại giải phóng mặt bằng dự án, Trưởng Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng Huyện, Chánh Thanh tra Xây dựng Huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phạm Văn Hai, Chủ đầu tư dự án và bà Lê Thị Hạnh chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:

- Như Điều 3;

- UBND/TP, TT/TP;

- TT.UB (CT, PCT ĐT);

- VP TCD Thành phố;

- Ban PC HĐND TP;

- TAND huyện Bình Chánh;

- Trang thông tin điện tử Huyện;



- Lưu: VP-TH(LT)-TCD.


KT.CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Đoàn Nhật



: tintuc
tintuc -> BỘ thông tin truyềN thông thuyết minh đỀ TÀi xây dựng quy chuẩn kỹ thuật thiết bị giải mã truyền hình số MẶT ĐẤt set – top box (stb)
tintuc -> HƯỚng dẫn càI ĐẶt và SỬ DỤng phần mềm tạo bài giảng e-learning
tintuc -> Nghiên cứu một số đặc điểm
tintuc -> NHỮng đÓng góp mới của luậN Án tiến sĩ CẤP ĐẠi học huế Họ và tên ncs : Nguyễn Văn Tuấn
tintuc -> Tin tức & Sự kiện
tintuc -> QUẢn lý nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đỒNG
tintuc -> TỜ trình về việc ban hành mức thu phí tham gia đấu giá quyền sử dụng đất
tintuc -> Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Thừa Thiên Huế tổ chức tập huấn Chăm sóc skss tuổi mãn kinh và sàng lọc ung thư cổ tử cung
tintuc -> ĐẢng bộ khối các cơ quan tw
tintuc -> VIỆn kiểm sát nhân dân




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương