Tr­êng SỞ giáo dục và ĐÀo tạo hưng yên trưỜng thpt phù CỪ 



tải về 232.03 Kb.
trang1/2
Chuyển đổi dữ liệu25.04.2018
Kích232.03 Kb.
  1   2

Cách ra đề văn nghị luận xã hội trong trường Trung học phổ thông

Tr­êng

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN

TRƯỜNG THPT PHÙ CỪ
---- ----

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁCH RA ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Lĩnh vực/Môn: Ngữ Văn

Người viết: Nguyễn Văn Song

Trường: Trung học phổ thông Phù Cừ



Năm học: 2013 – 2014


Lý lịch

Họ và tên tác giả : Nguyễn Văn Song

Chức vụ: Phó hiệu trường

Đơn vị công tác: Trường THPT Phù Cừ - Phù Cừ - Hưng Yên

Tên sáng kiến:

CÁCH RA ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”



PHẦN MỞ ĐẦU

I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.CỞ SỞ LÍ LUẬN:

Nghị luận xã hội là một trong hai kiểu bài nghị luận trong nhà trường phổ thông. Nếu nghị luận văn học giúp học sinh nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm văn học, đưa ra những ý kiến đánh giá về các vấn đề văn học để từ đó bồi đắp thế giới tâm hồn, tình cảm của mình thì nghị luận xã hội lại giúp học sinh khả năng đưa ra ý kiến, suy nghĩ của bản thân mình trước những hiện tượng đời sống, trước các vấn đề xã hội, những tư tưởng đạo lý để từ đó hình thành ý thức công dân và nhân cách con người. Chất lượng của việc dạy và học làm văn nghị luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường. Muốn việc dạy và học làm văn nghị luận xã hội trong nhà trường có chất lượng, cần phải rất quan tâm đến việc ra đề thi và kiểm tra. Đề thi và kiểm tra là thước đo đồng thời là kim chỉ nam định hướng cho việc dạy và học. Đề thi và kiểm tra nghị luận xã hội sáng tạo, có tính giáo dục, phù hợp với đối tượng học sinh, phát huy tính chủ động, độc lập suy nghĩ của học sinh mới mong việc dạy và học làm văn nghị luận xã hội trong nhà trường đạt hiệu quả.



2.CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Học sinh ngày nay phải đối mặt với rất nhiều vấn đề của đời sống xã hội. Sự phát triển của kinh tế, khoa học, công nghệ dẫn đến những thay đổi về giá trị, quan điểm, lối sống, đạo đức. Chính vì thế, đề văn nghị luận xã hội cũng phải đề cập được những vấn đề mới mẻ, phức tạp thường xuyên xuất hiện trong đời sống nói chung và đời sống, tình cảm của học sinh nói riêng để các em được bày tỏ suy nghĩ, quan niệm của mình. Mỗi thời đại, mỗi thế hệ thậm chí là mỗi ngày lại có những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới trong công tác giáo dục học sinh. Điều đó đòi hỏi người giáo viên dạy văn phải ra được những đề văn nghị luận theo sát với xã hội và phản ánh kịp thời những tâm tư, suy nghĩ của thế hệ học sinh.

Việc ra đề văn nghị luận xã hội ở nhà trường trung học nói chung và ở trường THPT Phù Cừ nói riêng đã được quan tâm nhưng chất lượng đề nói chung còn hạn chế. Chính vì thế tôi chọn vấn đề “Cách ra đề văn nghị luận xã hội trong trường THPT” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu đề tài này, tôi muốn bản thân mình có được những kỹ năng cần thiết để ra được những đề thi và kiểm tra về nghị luận xã hội phù hợp với học sinh, thúc đẩy việc dạy và học nghị luận xã hội ở trường THPT Phù Cừ, đồng thời muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè, đồng nghiệp gần xa nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn nói chung trong nhà trường THPT.



III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Đề tài nghiên cứu của tôi giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu thực trạng việc ra đề thi và kiểm tra nghị luận xã hội hiện nay ở trường THPT Phù Cừ.

- Những yêu cầu cần thiết của một đề thi, đề kiểm tra nghị luận xã hội

- Các bước đề thi và kiểm tra về nghị luận xã hội.

- Giới thiệu một số đề thi và kiểm tra nghị luận xã hội.



IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc tài liệu, giáo trình có liên quan đến các vấn đề cần nghiên cứu. Nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo và các nguồn tư liệu.

2. Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành ra các đề thi và kiểm tra để sử dụng trong các bài thi và kiểm tra, làm đáp án, hướng dẫn chấm cho các đề đã ra.

3. Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm

4. Phương pháp thống kê toán học: Thu thập, xử lý, đánh giá kết quả khi áp dụng đề tài

NỘI DUNG

I. KHÁI QUÁT VỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI:

1. Khái niệm văn nghị luận:

Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một vấn đề thuộc về chân lí nhằm làm cho người đọc (nghe) hiểu, tin, đồng tình với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất.



2. Vai trò, vị trí của văn nghị luận :

Văn nghị luận đã hình thành từ xa xưa và phát triển cùng với sự phát triển của tư tưởng, văn hóa nhân loại và góp phần vào sự phát triển ấy. Ngày nay, văn nghị luận càng phát triển mạnh mẽ. Nó thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đới sống xã hội. Nó là vũ khí khoa học và vũ khí tư tưởng sắc bén , giúp cho con người nhận thức đúng đắn các lĩnh vực của đời sống xã hội và hướng dẫn, thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người.

Do đó, học làm văn nghị luận là một công việc, một yêu cầu rất trọng yếu của việc học văn trong nhà trường. Văn nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng và học thuật đòi hỏi người học sinh phải giải quyết, từ đó giúp cho các em vận dụng tổng hợp các tri thức đã học được từ tự nhiên đến xã hội, rèn luyện khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, khả năng tư duy logic khoa học, nghĩa là có phương pháp tư duy đúng để tìm hiểu đúng vấn đề và có thái độ đúng trước các sự việc sảy ra trong cuộc sống. Từ đó góp phần tích cực vào việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách của người học sinh. Vì vậy, văn nghị luận ngày càng chiếm một vị trí, giữ một vai trò quan trọng trong cuộc sống.

II. THỰC TRẠNG VIỆC RA ĐỀ THI VÀ KIỂM TRA NGHỊ LUẬN XÃ HỘI MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT

Từ năm 2006, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo thay sách giáo khoa môn Ngữ văn, nghị luận xã hội đã được chú trọng hơn trước đây. Nhiều bài kiểm tra trong chương trình có nội dung là nghị luận xã hội. Các giáo viên trong tổ đã có ý thức cao trong việc thực hiện việc ra đề thi và kiểm tra về nghị luận xã hội. Tuy nhiên công việc này vẫn tồn tại những hạn chế sau:

- Chủ yếu các đề thi và kiểm tra được các giáo viên sử dụng đều là các đề đã có trong sách giáo khoa hoặc trong sách giáo viên. Điều này dẫn đến việc lặp đi, lặp lại của các đề thi và kiểm tra. Nhiều đề đã có đáp án, có bài mẫu trong các sách tham khảo và trên Internet nên khi kiểm tra, thi cử, học sinh đã tìm cách để quay cóp, sao chép, không phát huy được tính tích cực, độc lập của học sinh.

- Các dạng đề thi và kiểm tra về nghị luận xã hội chưa đa dạng, phong phú, chưa hấp dẫn với học sinh.

- Việc ra hướng dẫn chấm chủ yếu vẫn là một chiều, ít có đất để học sinh bày tỏ ý kiến riêng đặc biệt là những ý kiến trái chiều.

III. YÊU CẦU CỦA MỘT ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1. Đề nghị luận xã hội phải có tính giáo dục có tính giáo dục

Nếu nghị luận văn học giúp học sinh nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm văn học, đưa ra những ý kiến đánh giá về các vấn đề văn học để từ đó bồi đắp thế giới tâm hồn, tình cảm của mình thì nghị luận xã hội lại giúp học sinh khả năng đưa ra ý kiến, suy nghĩ của bản thân mình trước những hiện tượng đời sống, trước các vấn đề xã hội, những tư tưởng đạo lý để từ đó hình thành ý thức công dân và nhân cách con người. Chính vì thế, yêu cầu đầu tiên của một đề văn nghị luận xã hội là phải mang tính giáo dục cao. Đề văn nghị luận xã hội phải định hướng giáo dục cho học sinh những tình cảm cao đẹp như tình yêu con người, yêu cuộc sống, yêu quê hương, cội nguồn, gia đình; bồi đắp cho học sinh nhân cách đẹp với các phẩm chất như lòng vị tha, sự dũng cảm, tính trung thực, lòng tự trọng; hướng học sinh đến lý tưởng sống, mục đích sống có ý nghĩa trong cuộ đời, những lối sống trong sáng, lành mạnh…Điều tưởng như tất yếu này nhưng đôi khi, vì cách suy nghĩ chưa thấu đáo hoặc do kỹ thuật của người ra đề mà đề văn nghị luận xã hội chưa đảm bảo được tính giáo dục, thậm chí còn phản giáo dục. Năm 2013 vừa qua, trong đề thi học sinh giỏi của Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng có đề văn nghị luận xã hội như sau: “Người mẫu Ngọc Trinh từng trả lời phỏng vấn rằng: "Yêu không có tiền thì cạp đất mà ăn à?". Mới đây, cô gái trẻ Lê Thị Huyền Anh (biệt danh "Bà Tưng") khi trả lời một trang mạng xã hội, cũng thẳng thắn: "Tôi mơ ước có nhiều đại gia, nhiều người giàu quan tâm đến mình, cho tôi thật nhiều tiền” (theo Vietnamnet). Từ những hiện tượng trên, anh/chị hãy viết một bài văn (tối đa 800 từ) về chủ đề: "Tiến bộ xã hội và ước mơ đại gia của cô gái trẻ". Đề văn trên lập tức gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội. Nhiều nhà văn, nhà giáo không ngần ngại khẳng định đây là một đề văn vô tình cổ xúy cho cái xấu, cho lối sống vật chất tầm thường của một bộ phận giới trẻ. Điều đáng trách của người ra đề là cẩu thả trong việc nêu luận đề nghị luận “Tiến bộ xã hội và ước mơ đại gia của những cô gái trẻ”. Cách nêu luận điểm như thế vô hình chung khiến người đọc hiểu rằng lối sống buông thả, thực dụng của các nhân vật trên chính là ước mơ chính đáng của những cô gái trẻ trong một xã hội tiến bộ.



2. Đề văn nghị luận xã hội phải có tính thiết thực, phù hợp với học sinh.

Đối tượng của các đề thi nghị luận xã hội chính là các em học sinh THPT độ tuổi từ 15 đến 18. Chúng ta ra đề để các em được nói nên những suy nghĩ, mong muốn, ý kiến của mình đồng thời chính chúng ta cũng muốn tác động, giáo dục, định hướng cho các em. Muốn vậy thì đề thi phải thiết thực, gần gũi và phù hợp với các em như mối quan hệ thầy trò, bạn bè, tình yêu tuổi học trò, ước mơ về nghề nghiệp trong tương lai, khát vọng sống của tuổi trẻ, những tấm gương tuổi trẻ, những biểu hiện tiêu cực trong giới trẻ, trong nhà trường…Đừng nghĩ các em là các nhà chính trị, các học giả uyên bác, các nhà xã hội học mà ra cho các em những đề văn quá trừu tượng, đòi hỏi sự tư duy, suy nghĩ vượt tuổi. Đã có thời câu nói của Gớt- nhà thơ, nhà triết học vĩ đại của Đức “ Lý thuyết chỉ một màu xám xịt. Còn cây đời mãi mãi xanh tươi” hay câu nói của Herriot– nhà khoa học và chính khách, viện sĩ Viện hàn lâm Pháp “Văn hóa là cái còn lại khi ta quên tất cả, là cái còn thiếu khi ta đã học tất cả  được sách giáo khoa và nhiêu giáo viên lụa chon làm đề kiểm tra cho học sinh. Thú thực, chính bản thân tôi thấy những đề văn ấy còn quá sức với mình huống chi là với học sinh. Hiểu thì hiểu được nhưng triển khai thành bài văn nghị luận xã hội với các thao tác cần có không phải là một điều đơn giản với những câu nói trên. Hàn lâm quá, triết lý sâu xa quá so với lứa tuổi học trò từ 15 đến 18 tuổi. Năm 2012, trong kỳ thi tuyển vào Đại học FPT có đề văn nghị luận xã hội như sau:

Đại thi hào Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều:

Xưa nay trong đạo đàn bà

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường

Có khi biến, có khi thường

Có quyền, nào phải một đường chấp kinh

Và chính ông cũng lại viết:



Đạo tòng phu, lấy chữ trinh làm đầu

Ngày xưa, nếu cô dâu bị mất trinh thì coi như mất hết, hôn nhân đỗ vỡ, người vợ bị đem trả lại. Nhưng ngày nay, đối với nhiều bạn trẻ, cái màng trinh không còn ý nghĩa quan trọng đến thế, thậm chí nhiều người còn ủng hộ quan điểm tình dục trước hôn nhân.

Vậy theo bạn, người phụ nữ có nhất thiết phải giữ gìn trinh tiết trước khi về nhà chồng? Và hạnh phúc thật sự của một cuộc hôn nhân có phụ thuộc vào việc người vợ có còn trinh hay không?”

Nói thực, với tôi thì đề này có quá nhiều điều để nói về kỹ thuật làm đề nhưng cơ bản nhất là đề văn này không phù hợp với một kỳ thi tuyển vào một trường đại học. Nó động chạm một vấn đề khá tế nhị không đúng lúc đồng thời nó còn khiến người ta hiểu sai lệch về quan niệm của Nguyễn Du về trinh tiết của người phụ nữ thời phong kiến. Chữ trinh mà Nguyễn Du bàn đến là đức hạnh, phẩm cách của người phụ nữ nói chung trong đó có ẩn ý bao hàm về trinh tiết của người phụ nữ nhưng đề bài này đặt vấn đề một cách rất thô thiển về “cái màng trinh” và quan điểm “tình dục trước hôn nhân”. Thậm chí đề còn hỏi “có nhất thiết phải giữ gìn trinh tiết” giống như một gợi ý cho người viết bày tỏ quan điểm “không nhất thiết”. Tôi không phải kiểu người cổ hủ nhưng không hiểu sao khi đọc đề văn này, tôi thấy gai hết cả người.



3. Đề văn nghị luận xã hội phải có tính thời sự:

Tính thời sự nghĩa là vấn đề nghị luận đang là vấn đề được xã hội quan tâm hoặc nó là những hiện tượng vừa mới diễn ra và có tác động mạnh đối với mọi người. Có những vấn đề luôn giữ được tính thời sự, luôn là điều cần thiết phải giáo dục cho giới trẻ nhưng có những vấn đề nó chỉ mang tính thời sự trong một thời điểm nhất định nào đó. Chẳng hạn vấn đề về môi trường, về tai nạn giao thông luôn là những vấn đề thời sự trong đời sống hiện đại. Trong đề thi tốt nghiệp năm 2013 có đề nghị luận xã hội về em Nguyễn Văn Nam, một học sinh ở Đô Lương - Nghệ An. Đề thi yêu cầu viết một bài văn ngắn khoảng 400 từ bày tỏ suy nghĩ về hành động dũng cảm của học sinh Nguyễn Văn Nam khi lao xuống dòng nước cứu sống 5 học sinh rồi bị dòng nước cuốn trôi khi kiệt sức. Đây là một đề thi mang tính thời sự lúc ấy vì sự kiện em Nam dũng cảm cứu 5 học sinh rồi tử nạn vừa mới diễn ra cách thời điểm đó không lâu. Đề văn ấy đã có tính giáo dục và tác động sâu sắc trong giới trẻ và dư luận nhờ tính thời sự cao.



4. Đề văn nghị luận xã hội phải mới mẻ và hấp dẫn

Cái hay của một đề nghị luận xã hội đúng nghĩa là ở chỗ nó không có sẵn như những đề nghị luận văn học nên tránh được việc học sinh quay cóp, sao chép, giúp học sinh độc lập tư duy, suy nghĩ. Tuy nhiên, nếu các thầy cô không ra được đề mới mà sử dụng những đề đã quen thuộc thì cũng không khác gì đề văn nghị luận văn học. Những vấn đề cần nghị luận thì khó có thể mới nhưng ngữ liệu và cách hỏi thì phải mới, phải khác mới tạo được sự hứng thú và kích thích được sự suy nghĩ riêng của học sinh. Điều đáng tiếc là rất ít thầy cô tự ra đề mới cho học sinh từ đề kiểm tra bài viết đến thi học kỳ, thi thử Đại học. Gần đây, nếu bạn quan tâm đến các đề nghị luận xã hội của các trường hẳn bạn sẽ bắt gặp những câu nghị luận xã hội đại loại như: Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh chị về câu nói “Bàn tay tặng hoa hồng luôn phảng phất hương thơm” hay “Tôi đã khóc khi không có giầy để đi cho đến khi nhìn thấy người không có chân để đi giày” …Nếu bạn gõ những câu ấy vào Google hoặc tìm trong các sách tham khảo về nghị luận xã hội bạn sẽ bắt gặp nhan nhản những bài văn mẫu. Thực ra những đề ấy là rất hay, nhưng nó chỉ hay khi mới xuất hiện thôi, còn khi nó đã được các thầy cô dạy như luyên thi thì không nên đưa vào làm đề kiểm tra và thi cử nữa. Không có đề nào là mới mãi cả vì thế giáo viên muốn dạy văn nghị luận xã hội tốt phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo để ra được những đề bài mới và hay.

IV. CÁC BƯỚC RA ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1. Chọn ngữ liệu làm đề thi:

Bất kỳ đề làm văn nào cũng phải có ngữ liệu. Nếu Đề nghị luận văn học lấy ngữ liệu từ những tác phẩm văn học có trong chương trình thì ngữ liệu của nghị luận xã hội không có một giới hạn nào. Bạn có thể lấy từ rất nhiều nguồn tư liệu cả trong và ngoài chương trình miễn là ngữ liệu ấy chứa đựng được vấn đề nghị luận đúng đắn, sâu sắc và đảm bảo được những yêu cầu của một đề văn nghị luận xã hội. Ngữ liệu cho đề văn nghị luận xã hội rất phong phú, đa dạng nhưng tôi thường khái quát thành những dạng cơ bản sau:

a. Ngữ liệu là một câu nói hàm súc:

Giáo dục đạo đức, nhân cách cho con người là vấn đề của muôn đời. Những nhà hiền triết, những nhà văn hóa, những danh nhân thế giới và cả nhân dân muôn đời cũng đã quan tâm giáo dục nhân cách con người qua những triết lý cô đọng hàm súc. Biết bao nhiêu tục ngữ, thành ngữ, ngạn ngữ của các nước trên thế giới ẩn chứa những bài học sâu sắc. Những câu nói nổi tiếng của các danh nhân như những kim chỉ nam cho suy nghĩ, hành động của con người. Muốn ra được đề nghị luận xã hội hay, người giáo viên phải thuộc được nhiều câu châm ngôn, tục ngữ, thành ngữ, phải đọc, sưu tầm nhiều từ các sách lời hay ý đẹp, từ các trang website danh ngôn cuộc sống. Điều chú ý là khi sưu tầm, tìm kiếm, chúng ta cần sắp xếp theo từng lĩnh vực để sau này ta dễ sử dụng theo mục đích của đề thi và kiểm tra. Chẳng hạn, ta có thể sắp xếp như sau:



Danh ngôn về lý tưởng sống

- Muốn đi tới mục tiêu lớn phải bắt đầu từ mục tiêu nhỏ. Lenin (Nga)



Trong đời người, có hai con đường bằng phẳng không trở ngại: một là đi tới lý tưởng, một là đi tới cái chết. Lev Tolstoy (Nga)

- “Thân thể khỏe mạnh” và “tư tưởng lành mạnh” là hai điều hạnh phúc lớn nhất trong cuộc sống. Horace (La Mã)

- Con người có vật chất mới có thể sinh tồn, có lý tưởng mới nói đến cuộc sống. Bạn muốn hiểu sự khác nhau giữa sinh tồn và sống? Động vật thì sinh tồn, con người thì sống. Hugo (Pháp)

- Trong cuộc đời có 2 mục tiêu: một là theo đuổi lý tưởng, hai là thực hiện lý tưởng, hưởng thụ thành quả. Chỉ có người sáng suốt mới đạt được mục tiêu thứ 2. Smith (Anh)

- Lý tưởng là suối nguồn của lịch sử, cái nôi của trí tuệ, cờ chiến của xung phong, kiếm sắc để chặt gai.Gorky (Nga)

- Hoạt động của con người nếu không có sự cổ vũ của lý tưởng thì sẽ biến thành trống rỗng và nhỏ bé.Chernyshevsky (Nga)

- Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết kết hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ.

Danh ngôn về đạo đức

- Đạo đức chân chính giống như dòng sông, càng sâu càng vô thanh.

- Đạo đức không gì hơn là lòng tôn kính cuộc sống.

Albert Schweitzer

- Tôi sẽ cho anh định nghĩa về đạo đức: Luôn tốt khi duy trì và nuôi dưỡng cuộc sống, luôn xấu khi gây thương tổn và phá hủy cuộc sống.



Albert Schweitzer

- Hạnh phúc, cho dù dưới chế độ chuyên quyền hay dân chủ, cho dù trong sự nô lệ hay tự do, không bao giờ đạt được nếu ta không có đạo đức.



John Adams

- Tri thức trong đầu và đạo đức trong tim, thời gian cống hiến để nghiên cứu và lao động thay vì hình thức và lạc thú, đó là cách để trở nên hữu dụng, và nhờ vậy, có được hạnh phúc. John Adams

- Người đàn bà đẹp đạt được thành công dễ dàng hơn người đàn bà thông minh. Chỉ đơn giản là những người đàn ông mù thì ít, bù lại những người đàn ông ngốc nghếch lại quá nhiều. X. Lôren

- Hỏi rằng, có khi nào trong đời, con người ta lại thôi thúc tiến lên hơn là lúc đứng trước đèn đỏ giao thông. H. D. Suyt

- Người cao thượng là người không bao giờ làm một điều gì để hạ thấp người khác. A. N. Casơn

- Nếu chỉ loại hôn nhân vì tình yêu mới là đạo đức thì loại hôn nhân mà trong đó tình yêu tiếp tục tồn tại mới là đạo đức. F.Engels

Đóng góp bởi candylove

- Đạo đức và tài nghệ có thể làm cho một người bình thường trở thành bất hủ. Shakespeare (Anh)

- Đạo đức cao thượng nhất của nhân loại là gì? Đó chính là lòng yêu nước.

Napoleon (Pháp)

Sau khi đọc, tìm tòi, giáo viên lựa chọn những câu nói mình tâm đắc nhất làm đề thi. Theo tôi, nên chọn những câu nói vừa sâu sắc, vừa có tính giáo dục, vừa phù hợp với học sinh, vừa mới mẻ (chưa hoặc ít xuất hiện trong các đề thi và kiểm tra trước đó), vừa có tính hình tượng. Không phải câu châm ngôn nào cũng hội tụ tất cả những yêu cầu đó. Có khi đọc mấy chục câu châm ngôn mới tìm được một câu ưng ý. Chẳng hạn, với tôi, trong những câu châm ngôn về đạo đức trên đây thì câu nói “Đạo đức chân chính giống như dòng sông, càng sâu càng vô thanh” là câu nói làm được đề thi hay hơn cả.



b. Ngữ liệu là một mẩu chuyện, một đoạn thơ, bài thơ.

Những mẩu chuyện về đạo đức, về lối ứng xử giữa con người với con người, những đoạn thơ, bài thơ có giá trị tư tưởng, đạo lý, chứa đựng những bài học triết lý về lẽ làm người cũng là những ngữ liệu hấp dẫn của đề văn nghị luận xã hội. Giáo viên cũng phải đọc và sưu tầm rất nhiều từ các kênh thông tin khác nhau như sách, báo, tạp chí, các trang website có uy tín về giáo dục kỹ năng sống, giá trị sống. Bộ sách “Hạt giống tâm hồn” cũng là nguồn tư liệu rất phong phú. Mẩu chuyện sau đây trong bộ sách này là một mẩu chuyện chứa đựng rất nhiều thông điệp về lòng yêu thương, sự tha thứ và hối hận mà giáo viên có thể sử dụng làm đề thi:

Tại một thị trấn nhỏ ở Tây Ban Nha, có một người đàn ông tên Jorge vừa cãi vã dữ dội với cậu con trai Paco của mình. Ngày hôm sau, ông phát hiện giường của Paco trống không- cậu bé đã bỏ nhà đi. V­ượt qua cảm giác ăn năn, hối hận về những điều đã xảy đến, Jorge nhìn lại mình và nhận ra rằng, với ông, cậu con trai quan trọng hơn tất cả. Với mong muốn bắt đầu lại, Jorge đến một cửa hiệu nổi tiếng ở trung tâm thị trấn và dán một tấm giấy lớn có dòng chữ: “Paco, con hãy trở về nhà. Bố yêu con. Hãy gặp bố ở đây vào sáng ngày mai, con nhé!”. Sáng hốm sau, khi Jorge đến cửa hiệu, thì không chỉ có một, mà có đến bảy cậu bé cùng tên Paco bỏ nhà ra đi đã đứng đợi ở đấy...”

Hay bài thơ Hỏi của Hữu Thỉnh cũng là một bài thơ có tác động mạnh với học sinh về lẽ sống của con người nếu được lấy làm đề thi:



Tôi hỏi đất:

-Đất sống với đất như thế nào?

- Chúng tôi tôn cao nhau

Tôi hỏi nước:

-Nước sống với nước như thế nào?

- Chúng tôi làm đầy nhau

Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào?

- Chúng tôi đan vào nhau

Làm nên những chân trời

Tôi hỏi người: 
- Người sống với người như thế nào?

Tôi hỏi người:

- Người sống với người như thế nào?

Tôi hỏi người:

  • Người sống với người như thế nào?

Tuy nhiên, dạng đề văn nghị luận xã hôi rút ra từ một mẩu chuyện, một đoạn thơ, bài thơ là một yêu cầu khó với học sinh đại trà. Dạng này phù hợp với đối tượng là học sinh giỏi bởi nó đòi hỏi người viết phải có kỹ năng đọc hiểu và sự cảm thụ văn học tốt. Điều đáng lưu ý là giáo viên nên chọn những mẩu chuyện những đoạn thơ, bài thơ có dung lượng ngắn, tập trung vào một khía cạnh của đời sống, tránh những ngữ liệu có nhiều vấn đề tản mạn hoặc gây tranh cãi. Nếu trong một câu chuyện có nhiều vấn đề được đề cập thì cần phải chú ý cách đưa ra yêu cầu trong đề thi mà tôi sẽ bàn ở phần sau.

C. Ngữ liệu là một mẩu tin hoặc những hiện tượng trong đời sống

Trong cuộc sống hiện đại, chẳng mấy ngày không có hiện tượng cần bàn bạc, suy nghĩ. Tuy nhiên cần chọn lựa những hiện tượng phù hợp với học sinh. Những hiện tượng đó được đăng tải trên báo mạng, báo viết báo hình rất phong phú. Là giáo viên dạy văn không thể thiếu những thông tin về đời sống. Trong quá trình cập nhật thông tin, thấy sự kiện nào ấn tượng, phù hợp cần phải nắm bắt kịp thời và đưa vào các đề văn nghị luận xã hội. Hiện nay, giơi trẻ phải đối mặt với rất nhiều hiện tượng đời sống đáng báo động như hiện tượng bạo lực học đường, nghiện Internet, chat, game, tội phạm học đường, các tệ nạn xã hội, lối sống buông thả …Những mẩu tin có ý nghĩa giáo dục như gương người tốt, việc tốt, những tấm lòng nhân ái rất thiết thực đối với các đề nghị luận xã hội. Chẳng hạn trên báo Tuổi trẻ online ngày 18/11/2014 có mẩu tin sau:

Khoảng 8g sáng 18-11, trong lúc đi chơi, hai em Khiêm và Khởi tình cờ phát hiện và nhặt tại bụi cây ven đường một chiếc ví da màu đen, bên trong có 2 triệu đồng, 10,5 chỉ vàng 24K, giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Hòa (51 tuổi, trú xã Phước Thắng, huyện Tuy Phước).

Cả hai em (là anh em con cô cậu ruột) cùng nhau đem ví da với đầy đủ tiền, vàng đến nhà trả lại cho ông Hòa. Nhận lại tài sản, ông Hòa rất cảm động và cảm ơn hai em nhỏ. Cách đây 6 tháng, trên đường đi ăn đám cưới về, ông Hòa đánh rơi chiếc ví trên nhưng tìm mãi không thấy.

Hoặc mẩu tin dưới đây trên báo VOV ngày 31/3/2014 cũng là một bản tin có thể đưa vào đề văn nghị luận xã hội:



Khoảng 18 giờ chiều ngày 31/3, tại sông Trường, đoạn chảy qua thôn 2, xã Trà Giang, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam đã xảy ra một vụ đuối nước làm 3 nữ sinh lớp 8 chết thảm.

Sau khi học hết tiết học cuối buổi chiều, nhóm bạn nữ chơi rất thân gồm Hồ Thị Hoa, Hồ Thị Ngọc Linh (trú thôn 1); Lê Hoàng Sương, Trần Thị Hiền, Võ Thị Mây (trú thôn 2), đều sinh năm 2000 và học lớp 8, trường Trung học Cơ sở Nguyễn Huệ, xã Trà Giang đã rủ ra nhau ra sông Trường tắm. 
Do không biết bơi nên Hoa, Sương, Hiền khi tắm ở khu vực nước sâu, bị uống nước, rồi chìm dần và chết đuối. Hai em Linh và Mây, tắm ở khu vực nước cạn thấy bạn bị nạn, đã tức tốc chạy đến khu dân cư gần nhất tìm người đến cứu nhưng không kịp.
 



  1   2


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương