®¹i häc quèc gia hµ néi tr­êng ®¹i häc khoa häc tù nhiªn



tải về 1.49 Mb.
trang5/10
Chuyển đổi dữ liệu06.06.2018
Kích1.49 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Hình 2 : Alpinia pinnanensis T. L. Wu et Senjen (Zingiberaceae)

Có rất nhiều nghiên cứu khoa học đã được thực hiện với các loài Alpinia (Zingiberaceae) và đã được chúng tôi tổng kết trong một Luận án tiến sĩ [6]. Tổng quan sau tổng kết các kết quả nghiên cứu hoá học và hoạt tính sinh học về chi Alpinia (Zingiberaceae) trong 10 năm gần đây (1999-2009).



1.2 Các nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của các hợp chất phenolic từ chi Alpinia (Zingiberaceae)

Bảy hợp chất đã được phân lập từ Alpinia officinarum Hance là β-sitoterol, 1,7-diphenyl-5-ol-3-hepton (1), 1-phenyl-7-(3'-methoxy-4'-hyđroxy) phenyl-5-ol-3-heptanon, glandin (2), kaempferol-4'-methylether (3) và axit 3,4-dihydroxylbenzoic (4). Trong số các hợp chất này axit 3,4-dihydroxylbenzoic là chất lần đầu tiên nhận được từ Alpinia officinarum. 1-Phenyl-7-(3′-methoxy-4′-hyđroxy)phenyl-5-ol-3-hepton và một hợp chất mới, 1,7-diphenyl-3-5-heptandiol-phenyl-7-(3′-methoxyl-4′-hyđroxyl) phenyl-3,5-heptadiol đã nhận được từ 1,7-diphenyl-5-ol-3-heptanon và 1-phenyl-7-(3′-methoxyl-4′-hydroxyl) phenyl-5-ol-3-heptanon bằng sự khử hóa [12].




1
Điarylheptanoit 7-(4'-hydroxy-3'-methoxyphenyl)-1-phenylhept-4-en-3 -on (5) (HMP) là một chất hóa học có nguồn gốc thực vật được tìm thấy trong Alpinia officinarum. Các tính chất chống viêm của hợp chất này trên dòng tế bào đại thực bào chuột RAW 264.7 và các tế bào đơn nhân máu người ngoại vi (PBMC) đã được nghiên cứu in vitro. Xử lý các tế bào 264.7 RAW với HMP (6,25-25μM) ức chế mạnh sự sản sinh nitơ oxit (NO). Hợp chất này cũng ức chế sự giải phóng các cytokin gây viêm interleukin-1β (IL-β) và tumor necrosis factor-α (TNF-α) gây bởi LPS từ PB-MC người in vitro. Hơn nữa, Western blotting và sự phân tích phản ứng mạch polymerase- sự phiên mã ngược chứng tỏ rằng HMP làm giảm protein iNOS (inducible nitric oxit synthase) và COX-2 (cyclooxygenase-2) gây bởi LPS và sự biểu hiện mRNA trong các tế bào RAW 264.7. Hơn nữa, điều trị HMP cũng làm giảm sự liên kết DNA của các NF-kappa B gây ra bởi LPS trong các tế bào RAW 264.7. Để định giá các cơ chế phân tử cho sự ức chế của các thực thể trung gian gây viêm bởi HMP (25 μM) tác dụng của HMP trên protein kinase được hoạt hóa bởi mitrogen p38 và P44/42 (MAPK) gây bởi LPS đã được nghiên cứu. Sự phosphoryl hóa của p44/42 MAPK trong các tế bào RAW 264.7 được hoạt hóa bởi LPS đã làm giảm đáng kể bởi HMP, trong khi sự hoạt hóa của p38 MAPK không bị ảnh hưởng. Các kết quả này đã cho thấy HMP đã ức chế sự sản sinh NO, IL-1β và TNF-α gây bởi LPS và sự biểu hiện gen iNOS và COX-2 bằng cách ức chế sự hoạt hóa NF-kB và sự phosphoryl hóa P44/42 MAPK [38].



5

Các tác dụng ức chế sự phát triển của vi khuẩn đã cho thấy phần chiết etanol 40% từ thân rễ Alpinia officinarum Hance có thể ức chế Staphylococcus aureus, Streptococcus tan máu và Streptococcus preunoniae. Reductase β-ketoacyl-ACP (FabG, EC.1.1.1.100) là một enzym chìa khóa trong các hệ Synthase axit béo dạng II trong các vi khuẩn và xúc tác cho sự khử hóa β-ketoacyl-ACP. Các phần chiết Alpinia officinarum đã ức chế FAbG với một giá trị IC50 4,47±0,1 µg/ml và mạnh hơn các chất ức chế đã được công bố trước đó. Các nghiên cứu động học đã cho thấy sự ức chế bao gồm cả thuận nghịch và không thuận nghịch. Các phần chiết ức chế FAbG theo một cách thức cạnh tranh với NADPH. Cho đến nay không có chất ức chế nào được công bố có thể thể hiện ức chế không thuận nghịch FAbG, trong khi phần chiết etanol có thể ức chế FAbG không thuận nghịch. Sự ức chế không thuận nghịch cho thấy 2 pha. Có thể là phần chiết Alpinia officinarum ức chế FAbG và qua đó thể hiện hoạt tính kháng khuẩn [17].



Điều trị sự kháng kháng sinh cho các bệnh nhiễm khuẩn thường dẫn đến phản ứng viêm của vật chủ. Các phân tử với các tính chất kháng khuẩn và kháng viêm nhị chức có thể cho một giải pháp cho các biểu hiện lâm sàng này. Hoạt tính nhị chức của một điarylheptanoit, 5-hyđroxy-7-(4''-hyđroxy-3-methoxyphenyl)-1-phenyl-3-heptanon (6) được phân lập từ Alpinia officinarum đối với khuẩn gây bệnh đường ruột Escherichia coli (EPEC) đã được thông báo. Điarylheptanoit này cho các hoạt tính ức chế và diệt khuẩn EPEC được phân lập lâm sàng và ức chế hiệu quả sự viêm gây bởi lipopolissacarit của EPEC trong các tế bào máu đơn nhân người ngoại vi. Phân tích docking in silico cho thấy điarylheptanoit có thể tương tác với một đơn vị phụ A của DNA gyrase của E. coli. Các phân tử với hoạt tính nhị chức như vậy có thể là các chất điều trị có tiềm năng cho các bệnh nhiễm khuẩn [35].



6

Phần chiết 80% axeton-nước từ thân rễ Alpinia officinarum đã được phát hiện ức chế melanogenesis trong các tế bào khối u 4A5-B16. Trong số các hợp chất được phân lập 4 điarylheptanoit, 5-hyđroxy-1,7-diphenyl-3-heptanon (7), 7-(3'',4''-methoxyphenyl)-1-phenylhept-4-en-3-on (8), 5-hyđroxy-7-(4''-hydroxy-3''-methoxyphenyl)-1-phe-nyl-3-heptanon (9) và 3,5-dihyđroxy-1,7-diphenylheptan (10) và 2 flavonol kaempferid (11) và galangin (12) ức chế melanogenesis với các giá trị IC50 từ 10-48 µM và một số yêu cầu về cấu trúc của các hợp chất có hoạt tính cho sự ức chế đã được làm rõ. Ngoài ra 7-(4''-hyđroxy-3''-methoxyphenyl)-1-phenylhept-4-en-3-on, kaempferid và galangin ức chế sự biểu hiện mRNA của tyrosinase, tyrosinase và các protein-1 và 2 liên quan đến tyrosinase, và mức protein của một yếu tố phiên mã liên kết với microphthalmia [23].





10 11



12

Phân tách theo định hướng thử nghiệm sinh học phần chiết metanol có hoạt tính gây độc tế bào từ thân rễ Alpinia officinarum Hance đã phân lập được 2 điarylheptanoit mới alpinoid D (13) và E (14), cùng với 15 điarylheptanoit đã biết khác. Hoạt tính gây độc tế bào của các điarylheptanoit được đánh giá đối với dòng tế bào u nguyên bào thần kinh người IMR-32. Các hợp chất trên đã được chứng tỏ là có hoạt tính mạnh nhất với các giá trị IC50 là 0,83, 0,23 và 0,11 µM [36].



Hai điarylheptanoit mới, (5S)-5-hyđroxy-7-(3,4-dihyđroxyphenyl)-1-phenyl-3-heptanon (15) và (5R)-5-hydroxy-7-(3-methoxy-4,5-dihydroxyphe- nyl)-1-phenyl-3-heptanon (16), cùng với hai chất tương tự đã biết khác (17 18), đã được phân lập từ thân rễ của Alpinia officinarum. Hợp chất 18 cho hoạt tính gây độc tế bào đối với các dòng tế bào, HepG2, MCF-7 và SF-268, trong khi đó các hợp chất 15-17 không có hoạt tính đáng kể [9].





18

Phân tách định hướng bằng thử nghiệm sinh học phần chiết ete của Alpinia officinarum Hance đã phân lập được 2 hợp chất mới, 6-hydroxy-1,7-diphenyl-4-en-3-hep-tanon (19) và 6-(2-hydroxyphenyl)-4-methoxy-2-pyron (20) và 3 hợp chất đã biết, 1,7-diphenyl-4-en-3-heptanon (21), 1,7-diphenyl-5-methoxy-3-heptanon (22) và apigenin (23). Cả ba điaryheptanoit 19, 2122 cho hoạt tính ức chế hoạt tính liên kết thụ quan PAF (yếu tố hoạt hoá tiểu cầu) mạnh với giá trị IC50 là 1,3, 5,0 và 1,6 µM. Nghiên cứu này đã cho thấy các điarylheptanoit là một lớp chất đối kháng PAF mạnh mới [16].







1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương