Cập nhật đến ngày 01/10/2006 kodekc mátxcơVA, 2006 BỘ luật tố TỤng hình sự liên bang nga


Chương IV NHỮNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TỐ TỤNG



tải về 2.43 Mb.
trang7/27
Chuyển đổi dữ liệu07.06.2018
Kích2.43 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   27

Chương IV

NHỮNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TỐ TỤNG

Mục 12

TẠM GIỮ NGƯỜI BỊ TÌNH NGHI



Điều 91. Căn cứ tạm giữ người bị tình nghi


1. Cơ quan điều tra ban đầu, Dự thẩm viên hoặc Kiểm sát viên có quyền tạm giữ người bị tình nghi thực hiện tội phạm mà có thể bị xử phạt tù, nếu có một trong những căn cứ sau đây:

1) Khi người đó bị phát hiện trong lúc đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm;

2) Khi người bị hại hoặc người trực tiếp chứng kiến chỉ rõ người đó là người đã thực hiện tội phạm;

3) Khi trên mặt, trên quần áo, trong người hoặc nơi ở của người đó rõ ràng sẽ phát hiện được dấu vết của tội phạm.



(Điểm này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

2. Nếu có những tài liệu khác có đủ cơ sở để nghi ngờ một người phạm tội thì có thể tạm giữ họ nếu họ tìm cách trốn tránh hoặc không có nơi cư trú thường xuyên hay không xác định được nhân thân của họ hoặc nếu Kiểm sát viên, cũng như Dự thẩm viên, Điều tra viên nếu được Kiểm sát viên đồng ý đệ trình trước Toà án yêu cầu quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người đó với hình thức tạm giam.


Điều 92. Thủ tục tạm giữ người bị tình nghi


1. Sau khi đưa người bị tình nghi đến Cơ quan điều tra tra ban đầu, Dự thẩm viên hoặc Kiểm sát viên, trong thời hạn không quá 3 giờ phải lập biên bản tạm giữ, trong đó phải ghi rõ là đã giải thích cho người bị tình nghi những quyền của họ được quy định tại Điều 46 Bộ luật này.

2. Trong biên bản ghi ngày tháng và thời gian lập biên bản, ngày tháng, thời gian, địa điểm, những căn cứ và lý do tạm giữ người bị tình nghi, kết quả khám người và những tình tiết khác khi tạm giữ người đó. Biên bản do người lập biên bản và người bị tình nghi ký.

3. Cơ quan điều tra ban đầu, Điều tra viên hoặc Dự thẩm viên có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho Kiểm sát viên về việc tiến hành tạm giữ trong thời hạn 12 giờ kể từ thời điểm tạm giữ người bị tình nghi.

4. Người bị tình nghi phải được xét hỏi theo quy định tại khoản 2 Điều 46, Điều 189 và Điều 190 Bộ luật này. Trước khi xét hỏi phải bảo đảm cho người tình nghi được gặp và trao đổi riêng với người bào chữa, nếu họ có yêu cầu. Trong trường hợp phải thực hiện các biện pháp tố tụng cần thiết, Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên có thể hạn chế thời gian cuộc gặp đó nhưng bắt buộc phải thông báo trước cho người bị tình nghi và người bào chữa biết. Trong mọi trường hợp, thời gian cuộc gặp không thể bị hạn chế dưới 2 giờ.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 98/LLB ngày 24 tháng 7 năm 2002 và Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

Điều 93. Khám người bị tình nghi


Việc khám người bị tình nghi được tiến hành theo thủ tục quy định tại Điều 184 Bộ luật này.

Điều 94. Những căn cứ trả tự do cho người bị tình nghi


1. Người bị tình nghi được trả tự do theo quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên hoặc Kiểm sát viên, nếu:

1) Việc nghi ngờ người đó thực hiện tội phạm là không xác thực;

2) Không có căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ;

3) Việc tạm giữ họ vi phạm Điều 91 Bộ luật này.

2. Khi đã hết 48 giờ kể từ thời điểm tạm giữ, người bị tình nghi phải được trả tự do, nếu họ không bị áp dụng biện pháp tạm giam hoặc nếu Toà án không ra hạn thời hạn tạm giữ theo thủ tục quy định tại điểm 3 khoản 6 Điều 108 Bộ luật này.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002 và Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

3. Nếu quyết định của Thẩm phán về việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị tình nghi hoặc quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ không được ban hành trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm tạm giữ thì người bị tình nghi phải được trả trả tự do ngay và Thủ trưởng cơ quan nơi người bị tình nghi đang bị giam giữ phải thông báo việc này cho Cơ quan điều tra ban đầu hoặc Dự thẩm viên đang thụ lý vụ án và cho Kiểm sát viên biết.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

4. Nếu Toà án ra quyết định từ chối đề nghị của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên về việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị tình nghi thì phải giao bản sao quyết định đó cho người bị tình nghi khi trả tự do cho họ.

5. Khi trả tự do cho người bị tình nghi bị giam giữ thì phải giao cho họ giấy chứng nhận, trong đó nêu rõ ai tạm giữ họ, ngày, tháng, thời gian, địa điểm và những căn cứ tạm giữ, ngày tháng, thời gian và những căn cứ trả tự do cho họ.

Điều 95. Thủ tục tạm giam người bị tình nghi


1. Thủ tục và điều kiện tạm giam người bị tình nghi do Luật liên bang Nga quy định.

2. Trong trường hợp cần thiết phải tiến hành những biện pháp truy tìm nghiệp vụ thì cho phép cán bộ Cơ quan điều tra ban đầu đã thực hiện hoạt động truy tìm nghiệp vụ đối với vụ án đó được gặp người bị tình nghi, nếu được Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán đang thụ lý vụ án cho phép.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

Điều 96. Thông báo về việc tạm giữ người bị tình nghi


1. Trong thời hạn không quá 12 giờ kể từ thời điểm tạm giữ, Điều tra viên, Dự thẩm viên hoặc Kiểm sát viên phải thông báo về việc tạm giữ người bị tình nghi cho họ hàng thân thích của họ, nếu không có họ hàng thân thích thì thông báo cho những người họ hàng khác hoặc tạo điều kiện cho người bị tình nghi tự thông báo.

2. Trong trường hợp tạm giữ người bị tình nghi là quân nhân thì phải thông báo cho đơn vị quân đội nơi người đó phục vụ.

3. Nếu người bị tình nghi là công dân hoặc là người của quốc gia khác thì trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này phải thông báo cho Đại sứ quán hoặc lãnh sự quán của quốc gia đó.

4. Trong trường hợp cần giữ bí mật việc tạm giữ để phục vụ công tác điều tra thì việc thông báo với sự phê chuẩn của Kiểm sát viên có thể không thực hiện, trừ trường hợp người bị tình nghi là người chưa thành niên.





Mục 13

NHỮNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN



Điều 97. Những căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn

1. Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán trong phạm vi thẩm quyền được giao, có quyền áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn quy định tại Bộ luật này nếu có đủ căn cứ để cho rằng người bị tình nghi, bị can:



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 18/LLB ngày 22 tháng 4 năm 2004)

1) Trốn tránh việc điều tra ban đầu, điều tra dự thẩm hoặc xét xử;

2) Có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội;

3. Có thể đe doạ người làm chứng, những người khác tham gia tố tụng hình sự, tiêu huỷ chứng cứ, cũng như có những hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng đối với vụ án.

2. Có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn để bảo đảm thi hành án.

Điều 98. Những biện pháp ngăn chặn


Những biện pháp ngăn chặn gồm có:

1) Cấm đi khỏi nơi cư trú;

2) Bảo lĩnh của cá nhân;

3) Giám sát của đơn vị quân đội;

4) Quản lý người bị tình nghi hoặc bị can là người chưa thành niên;

(Điểm này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

5) Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm;

6) Giam tại nhà;

7) Tạm giam.


Điều 99. Những tình tiết cần xem xét khi áp dụng biện pháp ngăn chặn


Khi quyết định việc lựa chọn biện pháp ngăn chặn để áp dụng đối với người có hành vi phạm tội là người bị tình nghi, bị can khi có những căn cứ quy định tại Điều 97 Bộ luật này thì cần phải xem xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân người bị tình nghi hoặc bị can, tuổi tác, tình trạng sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp và những tình tiết khác.

(Điều này được sửa đổi theo Luật liên bang số 18/LLB ngày 22 tháng 4 năm 2004)

Điều 100. Áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tình nghi


1. Trong những trường hợp đặc biệt, khi có những căn cứ quy định tại Điều 97 và có tính đến các yếu tố quy định tại Điều 99 Bộ luật này thì có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tình nghi. Trong trường hợp này phải khởi tố bị can đối với người bị tình nghi trong thời hạn chậm nhất là 10 ngày kể từ thời điểm áp dụng biện pháp ngăn chặn, nếu người bị tình nghi đã bị tạm giữ và sau đó bị tạm giam thì thời hạn phải khởi tố bị can đối với họ cũng như trên kể từ thời điểm người đó bị tạm giữ. Nếu trong thời hạn trên mà không khởi tố bị can thì biện pháp ngăn chặn phải được huỷ bỏ ngay, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 18/LLB ngày 22 tháng 4 năm 2004)

2. Đối với người bị tình nghi đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, mặc dù chỉ phạm một trong các tội quy định tại các Điều 205, 2051, 206, 208, 209, 277, 278, 279, 281 và 360 Bộ luật hình sự, phải ra quyết định khởi tố bị can đối với họ trong thời hạn 30 ngày tính từ ngày người đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, nếu đã bị tạm giữ và sau đó bị tạm giam thì thời hạn khởi tố bị can cũng như trên tính từ thời điểm người đó bị tạm giữ. Nếu trong thời hạn nêu trên mà không khởi tố bị can thì biện pháp ngăn chặn phải được huỷ bỏ ngay.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 18/LLB ngày 22 tháng 4 năm 2004)

Điều 101. Quyết định về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn


1. Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Toà án ra quyết định về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, trong đó nêu rõ tội phạm mà người đó bị tình nghi hoặc bị khởi tố và những căn cứ của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn.

2. Bản sao quyết định được giao cho người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, đồng thời giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của họ khi những người này có yêu cầu.

3. Khi một người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, họ đồng thời được giải thích về thủ tục khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn quy định tại các Điều từ 123 đến 127 Bộ luật này.

Điều 102. Cấm đi khỏi nơi cư trú và cam kết xử sự đúng mực


Cấm đi khỏi nơi cư trú và cam kết xử sự đúng mực thể hiện ở nghĩa vụ của người bị tình nghi hoặc bị can cam đoan bằng văn bản:

1) Không được tự ý đi khỏi nơi cư trú thường xuyên hoặc tạm thời nếu không được sự đồng ý của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán;

2) Có mặt theo giấy triệu tập của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán đúng thời gian quy định;

3) Không cản trở hoạt động tố tụng đối với vụ án bằng những hình thức khác.


Điều 103. Bảo lĩnh của cá nhân


1. Bảo lĩnh của cá nhân thể hiện ở nghĩa vụ của người nhận bảo lĩnh cam đoan bằng văn bản là họ sẽ bảo đảm người bị tình nghi hoặc bị can mà họ nhận bảo lĩnh thực hiện các nghĩa vụ quy định tại các điểm 2 và 3 Điều 102 Bộ luật này.

2. Việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh của cá nhân với tư cách là biện pháp ngăn chặn được chấp nhận theo đề nghị bằng văn bản của một hoặc một số người nhận bảo lĩnh và phải được người bị tình nghi hoặc bị can lĩnh đồng ý.

3. Người nhận bảo lĩnh được giải thích về bản chất của việc người được bảo lĩnh bị tình nghi hoặc bị khởi tố và nghĩa vụ, trách nhiệm của người nhận bảo lĩnh liên quan đến việc thực hiện bảo lĩnh của cá nhân.

4. Trong trường hợp người nhận bảo lĩnh không thực hiện nghĩa vụ của mình thì họ có thể bị phạt một khoản tiền đến 10 lần mức thu nhập tối thiểu theo thủ tục quy định tại Điều 118 Bộ luật này.


Điều 104. Giám sát tại đơn vị quân đội.


1. Giám sát tại đơn vị quân đội đối với người bị tình nghi hoặc bị can là quân nhân hoặc công dân được trưng tập phục vụ trong quân đội thể hiện ở việc áp dụng những biện pháp quy định trong Điều lệnh lực lượng vũ trang Liên bang Nga để bảo đảm những người này thực hiện những nghĩa vụ quy định tại các điểm 2 và 3 Điều 102 Bộ luật này.

2. Việc áp dụng biện pháp giám sát tại đơn vị quân đội với tư cách là biện pháp ngăn chặn chỉ được chấp nhận nếu người bị tình nghi, bị can đồng ý.

3. Quyết định về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn quy định tại khoản 1 Điều này được gửi cho đơn vị quân đội, trong đó giải thích bản chất của việc tình nghi hoặc buộc tội và nghĩa vụ của đơn vị quân đội trong việc thực hiện biện pháp ngăn chặn này.

4. Trong trường hợp người bị tình nghi, bị can thực hiện những hành vi mà khi áp dụng biện pháp ngăn chặn này đã cảnh báo trước cho họ thì đơn vị quân đội ngay lập tức phải thông báo về việc này cho cơ quan quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn biết.


Điều 105. Quản lý người bị tình nghi hoặc bị can là người chưa thành niên


1. Việc quản lý người bị tình nghi hoặc bị can là người chưa thành niên thể hiện ở việc bảo đảm người đó xử sự đúng mực theo quy định tại Điều 102 Bộ luật này do cha mẹ, người đỡ đầu, người giám hộ hoặc những người nhận bảo lĩnh cho họ cũng như những người có trách nhiệm của cơ quann chuyên trách về trẻ em thực hiện và những người này phải cam đoan bằng văn bản.

2. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn này bắt buộc Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán phải giải thích cho những người nói tại khoản 1 Điều npha về bản chất của việc tình nghi hoặc buộc tội và trách nhiệm của họ liên quan đến nghĩa vụ theo dõi, giám sát.

3. Đối với những người được giao theo dõi, giám sát người bị tình nghi, bị can là người chưa thành niên nếu không thực hiện nghĩa vụ đã cam đoan thì có thể bị áp dụng biện pháp xử phạt quy định tại khoản 4 Điều 103 Bộ luật này.

Điều 106. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm


1. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thể hiện ở việc người bị tình nghi hoặc bị can hoặc những thể nhân hoặc pháp nhân khác đặt ký quỹ tiền, những giấy tờ có giá trị thanh toán hoặc tài sản có giá trị cho cơ quan áp dụng biện pháp ngăn chặn này để bảo đảm sự có mặt của người bị tình nghi, bị can theo giấy triệu tập của Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và phòng ngừa họ phạm tội mới. Hình thức và số lượng tiền hoặc tài sản phải đặt cho cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này quy định dựa trên tính chất của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người bị tình nghi, bị can và tình trạng tài sản của người đặt tiền, tài sản.

2. Thẩm phán, Kiểm sát viên hoặc Điều tra viên, Dự thẩm viên nếu được Kiểm sát viên đồng ý có thể áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng với tư cách là biện pháp ngăn chặn. Nếu việc áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là nhằm thay thế biện pháp tạm giam hoặc tạm giam tại nhà thì người bị tình nghi, bị can ở lại nơi tạm giam hoặc giam giữ tại nhà cho đến khi Toà án nhận được khoản tiền hoặc tài sản ký quỹ. Việc nhận tiền đặt phải được lập biên bản và bản sao biên bản phải được giao cho người đặt tiền hoặc tài sản.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

3. Nếu người đặt tiền hoặc tài sản không phải là người bị tình nghi, bị can, thì người đặt tiền hoặc tài sản được giải thích về bản chất việc tình nghi, buộc tội dẫn đến phải áp dụng biện pháp ngăn chặn này, đồng thời được giải thích về những nghĩa vụ của họ và hậu quả của việc họ không thực hiện hoặc vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan.

4. Trong trường hợp người bị tình nghi, bị can không thực hiện nghĩa vụ hoặc vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan liên quan đến việc cho họ được đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm thì số tiền hoặc tài sản đã đặt bị sung công quỹ nhà nước theo quyết định của Toà án, theo quy định tại Điều 118 Bộ luật này.

5. Trong những trường hợp khác khi Toà án ra bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án thì Toà án quyết định việc trả lại tiền hoặc tài sản đã đặt cho người đặt tiền hoặc tài sản. Trong trường hợp Kiểm sát viên, Dự thẩm viên, Điều tra viên đình chỉ vụ án thì việc trả lại tiền hoặc tài sản cho người đã đặt tiền hoặc tài sản được nêu trong quyết định đình chỉ vụ án.



Điều 107. Giam tại nhà

1. Giam tại nhà là việc hạn chế tự do đi lại của người bị tình nghi, bị can cũng như nghiêm cấm:

1) Tiếp xúc với một số người nhất định;

2) Nhận và gửi thư;

3) Trao đổi qua các phương tiện thông tin liên lạc.

2. Việc giam tại nhà với tư cách là biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người bị tình nghi hoặc bị can theo quyết định của Toà án khi có những căn cứ và theo thủ tục quy định tại Điều 108 Bộ luật này, có xem xét đến tuổi tác, tình trạng sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình và những tình tiết khác.

3. Trong quyết định của Toà án về việc áp dụng biện pháp giam tại nhà với tư cách là biện pháp ngăn chặn cần nêu rõ những hạn chế cụ thể đối với người bị tình nghi, bị can, đồng thời chỉ rõ cơ quan hoặc người có thẩm quyền thực hiện việc giám sát việc chấp hành những hạn chế đã quy định.

Điều 108. Tạm giam


1. Tạm giam với tư cách là biện pháp ngăn chặn được áp dụng theo quyết định của Toà án đối với người bị tình nghi hoặc bị can về tội mà luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm trong trường hợp không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn. Trong trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam thì trong quyết định cần nêu rõ những tình tiết cụ thể mà Toà án sử dụng làm căn cứ để ra quyết định này. Trong những trường hợp đặc biệt, biện pháp ngăn chặn này có thể được áp dụng đối với người bị tình nghi, bị can về tội có mức hình phạt tù đến 2 năm, nếu có một trong những tình tiết sau:

1) Người bị tình nghi hoặc bị can không có nơi cư trú thường xuyên trên lãnh thổ Liên bang Nga;

2) Không xác định được chính xác nhân thân của họ;

3) Họ đã vi phạm biện pháp ngăn chặn khác áp dụng với họ trước đó;

4) Họ đã trốn tránh Cơ quan điều tra hoặc Toà án.

(Điểm này được sửa đổi theo Luật liên bang số 161/LLB ngày 8 tháng 12 năm 2003)

2. Việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị tình nghi hoặc bị can là người chưa thành niên với tư cách là biện pháp ngăn chặn chỉ có thể được áp dụng trong trường hợp họ bị tình nghi hoặc bị khởi tố về việc thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong những trường hợp đặc biệt biện pháp ngăn chặn này có thể được áp dụng đối với người bị tình nghi hoặc bị can là người chưa thành niên phạm tội nghiêm trọng.

3. Trong trường hợp cần phải áp dụng biện pháp tạm giam thì Kiểm sát viên hoặc Dự thẩm viên, Điều tra viên nếu được Kiểm sát viên đồng ý ra công văn đề nghị Toà án xem xét, quyết định. Trong bản đề nghị cần chỉ rõ lý do và căn cứ cần thiết phải tạm giam người bị tình nghi hoặc bị can và không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác đối với họ. Kèm theo bản đề nghị là những tài liệu khẳng định tính có căn cứ của sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam. Nếu đề nghị tạm giam người bị tình nghi đang bị tạm giữ theo thủ tục quy định tại các Điều 91 và 92 Bộ luật này thì bản đề nghị và những tài liệu nói trên phải được gửi cho Thẩm phán chậm nhất là 8 giờ trước khi hết hạm tạm giữ.

4. Công văn đề nghị áp dụng biện pháp tạm giam do một Thẩm phán Toà án cấp quận hoặc Toà án quân sự cấp tương đương, nơi tiến hành điều tra hoặc nơi người bị tình nghi bị tạm giữ giải quyết trong thời hạn 8 giờ kể từ thời điểm Toà án nhận được hồ sơ với sự tham gia của người bị tình nghi hoặc bị can, Kiểm sát viên, người bào chữa nếu họ tham gia vụ án. Người bị tình nghi đang bị tạm giữ theo thủ tục quy định tại các Điều 91 và 92 Bộ luật này được đưa đến phiên toà. Người đại diện hợp pháp của người bị tình nghi hoặc bị can là người chưa thành niên, Dự thẩm viên, Điều tra viên cũng có quyền tham gia phiên toà. Việc các bên không có mặt tại phiên toà mà không có lý do chính đáng mặc dù đã được thông báo kịp thời về thời gian mở phiên toà không cản trở việc giải quyết đề nghị tạm giam, trừ trường hợp bị can vắng mặt.

5. Toà án chỉ được ra quyết định áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can vắng mặt khi đã có lệnh truy nã quốc tế.

(Khoản này được bổ sung theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

6. Khi bắt đầu phiên toà, Thẩm phán thông báo về đề nghị nào sẽ được xem xét và giải thích cho những người có mặt tại phiên toà về quyền và nghĩa vụ của họ. Tiếp theo, Kiểm sát viên hoặc người đệ trình đề nghị được Kiểm sát viên uỷ quyền lập luận về đề nghị đó, sau đó những người có mặt tại phiên toà phát biểu ý kiến của mình.

7. Sau khi xem xétđề nghị, Thẩm phán ra một trong những quyết định sau:

1) Áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị tình nghi hoặc bị can;

2) Không chấp nhận đề nghị tạm giam;

3) Về gia hạn thời hạn tạm giữ. Chỉ được ra quyết định gia hạn thời hạn tạm giữ trong thời hạn không quá 72 giờ tính từ khi Toà án chấp nhận đề nghị của một trong các bên tham gia tố tụng để họ đưa ra những chứng cứ bổ sung về tính có căn cứ hay không có căn cứ của việc tạm giam. Trong trường hợp này, Thẩm phán phải nêu trong quyết định là gia hạn thời hạn tạm giữ đến ngày nào và thời gian nào.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

71. Trong trường hợp bác đề nghị áp dụng biện pháp tạm giam, nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 97 và có tính đến các yếu tố quy định tại Điều 99 Bộ luật này, Thẩm phán tự mình quyết định việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm hoặc giam tại nhà đối với người bị tình nghi.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 161/LLB ngày 8 tháng 12 năm 2003)

8. Quyết định của Thẩm phán được gửi cho người đề nghị, Kiểm sát viên, người bị tình nghi hoặc bị can và có hiệu lực thi hành ngay.

9. Việc tiếp tục đề nghị Toà án áp dụng biện pháp tạm tam đối với cùng một người trong cùng vụ án đó sau khi Thẩm phán đã ra quyết định không chấp nhận đề nghị tạm giam đối với họ chỉ có thể được chấp nhận khi có những tình tiết mới chứng minh sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam đối với người này.

10. Nếu vấn đề áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo phát sinh tại Toà án thì Toà án quyết định về việc này theo đề nghị của các bên hoặc theo sáng kiến của mình và phải ra quyết định.

11. Quyết định của Thẩm phán về việc áp dụng biện pháp tạm giam hoặc từ chối áp dụng biện pháp ngăn chặn này có thể bị khiếu nại lên Toà án cấp trên theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định. Toà án cấp phúc thẩm phải ra quyết định giải quyết kháng cáo hoặc kháng nghị chậm nhất là sau 3 ngày kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị. Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm thay đổi quyết định của Thẩm phán về việc áp dụng biện pháp tạm giam có hiệu lực thi hành ngay. Quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có thể bị khiếu nại lên Toà án cấp giám đốc theo thủ tục quy định tại Mục 48 Bộ luật này.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 161/LLB ngày 8 tháng 12 năm 2003)

12. Người thụ lý vụ án phải thông báo ngay cho họ hàng thân thích của người bị tình nghi hoặc bị can, nếu không có họ hàng thân thích thì phải thông báo ngay cho những người họ hàng khác, đối với người bị tạm giam là quân nhân thì cho cả đơn vị quân đội về nơi người đó bị tạm giam hoặc về việc thay đổi nơi tạm giam họ.



(Nội dung của khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

13. Những thẩm quyền quy định ở khoản này không được giao thường xuyên cho một Thẩm phán nhất định. Những thẩm quyền này phải được giao cho các Thẩm phán khác nhau trong cùng một toà án trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc phân công án.



(Khoản này được bổ sung theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

14. Đối với các bị can bị tạm giam phải thực hiện theo yêu cầu quy định tại Điều 95 Bộ luật này.



(Khoản này được bổ sung theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

Điều 109. Thời hạn tạm giam


1. Thời hạn tạm giam để điều tra không được quá 2 tháng.

2. Trong trường hợp không thể kết thúc việc điều tra trong thời hạn 2 tháng và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn thì Thẩm phán Toà án cấp quận hoặc Toà án quân sự cấp tương đương có thể gia hạn thời hạn tạm giam đến 6 tháng theo thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 108 Bộ luật này. Việc gia hạn tiếp theo có thể được Thẩm phán các Toà án nói trên áp dụng đối với bị can phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng nhưng chỉ trong những trường hợp vụ án có tính chất rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, vụ án có tính chất đặc biệt phức tạp và có căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn này theo yêu cầu của Dự thẩm viên sau khi được sự đồng ý của Kiểm sát viên thuộc các chủ thể của Liên bang Nga hoặc của Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp tương đương, nhưng không quá 12 tháng.

3. Việc gia hạn thời hạn tạm giam trên 12 tháng chỉ có thể được thực hiện trong những trường hợp đặc biệt đối với bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do Thẩm phán Toà án quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật này hoặc Thẩm phán Toà án quân sự cấp tương đương gia hạn theo đề nghị của Dự thẩm viên sau khi được sự đồng ý của Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang Nga, nhưng không quá 18 tháng.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

4. Việc tiếp tục gia hạn thời hạn tạm giam là không được phép, bị can bị tạm giam phải được trả tự do ngay, trừ những trường hợp quy định tại Mục 1 khoản 8 Điều này.

5. Tài liệu vụ án đã kết thúc điều tra phải được giao cho bị can đang bị tạm giam và người bào chữa của họ chậm nhất là 30 ngày trước khi hết hạn tạm giam quy định tại khoản 2 và 3 Điều này.

6. Nếu sau khi kết thúc điều tra, tài liệu của vụ án được giao cho bị can và người bào chữa của họ chậm hơn 30 ngày trước khi hết hạn tạm giam thì khi hết hạn tạm giam bị can phải được trả tự do ngay. Trong trường hợp này bị can và người bào chữa của họ vẫn có quyền nghiên cứu tài liệu của vụ án.

7. Trong trường hợp, nếu sau khi kết thúc điều tra thời hạn phải giao tài liệu của vụ án đó cho bị can và người bào chữa của họ quy định tại khoản 5 Điều này được tuân thủ, tuy nhiên nếu thời hạn 30 ngày để họ nghiên cứu hồ sơ là không đủ thì chậm nhất là 7 ngày trước khi hết hạn tạm giam Dự thẩm viên sau khi được sự đồng ý của Kiểm sát viên thuộc các chủ thể của Liên bang Nga có quyền đề nghị Toà án quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật này hoặc Toà án quân sự cấp tương đương gia hạn thời hạn tạm giam. Nếu trong quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án mà có nhiều bị can đang tạm giam, trong đó dù chỉ có 1 bị can không đủ thời gian để nghiên cứu tài liệu của vụ án thì Dự thẩm viên vẫn có quyền đề nghị ra hạn tạm giam đối với bị can đó hoặc đối với các bị can mà thời hạn gia hạn tạm giam vẫn chưa hết và không có căn cứ để áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.

(Khoản này được sửa đổi theo các Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002, số 98/LLB ngày 24 tháng 7 năm 2002 và số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

8. Đề nghị gia hạn tạm giam được gửi cho Toà án chậm nhất là trước 7 ngày tính đến ngày hết hạn. Trong thời hạn 5 ngày tính từ khi nhận được đề nghị của Dự thẩm viên, Thẩm phán phải ra một trong những quyết định sau:



(Khoản này được sửa đổi theo các Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002 và số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

1) Gia hạn thời hạn tạm giam đến khi bị can và người bào chữa của họ kết thúc việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và Kiểm sát viên chuyển vụ án đến Toà án, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này.

2) Từ chối đề nghị của Dự thẩm viên và trả tự do cho bị can.

9. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra được tính từ khi người bị tình nghi, bị can bị tạm giam cho đến khi Kiểm sát viên chuyển vụ án đến Toà án.

10. Thời hạn tạm giam cũng được tính cả những thời gian sau:

1) Thời gian người đó bị tạm giữ với tư cách là người bị tình nghi;

2) Thời gian giam tại nhà;

3) Thời gian bắt buộc chữa bệnh ở cơ sở y tế hoặc tâm thần theo quyết định của Toà án;

4) Thời gian họ bị tạm giam trên lãnh thổ nước khác theo yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc yêu cầu chuyển giao họ cho Liên bang Nga theo quy định tại Điều 460 Bộ luật này.

11. Khi hết thời hạn tạm giam quy định tại điểm 4 khoản 10 Điều này và cần thiết phải tiến hành các hoạt động điều tra thì Toà án có quyền ra hạn tạm giam theo trình tự quy định tại khoản này, nhưng không được quá 6 tháng.



(Khoản này được bổ sung theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

12. Trong trường hợp tạm giam lại người bị tình nghi hoặc bị can trong cùng vụ án đó cũng như trong trường hợp tách hoặc nhập vụ án thì thời gian mà họ đã bị tạm giam trước đó được trừ vào thời hạn tạm giam.

13. Toà án không được xem xét đề nghị gia hạn tạm giam đối với bị can nếu họ vắng mặt, trừ trường hợp bị can đang được giám định tâm thần và các trường hợp khác, nếu không thể đưa bị can đến Toà án được. Trong các trường hợp nêu trên phải lập thành văn bản và sự có mặt của người bào chữa khi Toà xem xét đề nghị gia hạn tạm giam là bắt buộc.

(Khoản này được bổ sung theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003

14. Trong trường hợp quy định tại khoản 13 Điều này, Thẩm phán ra quyết định xem xét đề nghị gia hạn thời hạn tạm giam phải nêu rõ lý do bị can vắng mặt.



(Khoản này được bổ sung theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

( Tiêu đề của khoản này được lấy từ Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

Điều 110. Huỷ bỏ hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn


1. Biện pháp ngăn chặn bị huỷ bỏ nếu việc áp dụng chúng là không cần thiết hoặc bị thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn hoặc ít nghiêm khắc hơn nếu những căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn quy định tại Điều 99 Bộ luật này có thay đổi.

2. Việc huỷ bỏ hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán hoặc Toà án.

3. Trước khi vụ án được chuyển cho Toà án thì biện pháp ngăn chặn do Kiểm sát viên lựa chọn, áp dụng. Dự thẩm viên, Điều tra viên áp dụng biện pháp ngăn chặn theo yêu cầu bằng văn bản của Kiểm sát viên và việc thay đổi, huỷ bỏ chỉ được thực hiện khi Kiểm sát viên đồng ý.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

4. Khoản này đã hết hiệu lực thi hành bởi Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003



Mục 14

NHỮNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ TỐ TỤNG KHÁC




Điều 111. Những căn cứ để áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng khác


1. Để bảo đảm hoạt động tố tụng hình sự tuân thủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và bảo đảm thi hành án, Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán có quyền áp dụng đối với người bị tình nghi hoặc bị can những biện pháp cưỡng chế tố tụng sau:

1) Buộc phải có mặt;

2) Dẫn giải;

3) Tạm đình chỉ chức vụ;

4) Kê biên tài sản.

2. Trong những trường hợp quy định tại Bộ luật này, Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán có quyền áp dụng đối với người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, giám định viên, nhà chuyên môn, người phiên dịch, người chứng kiến những biện pháp cưỡng chế tố tụng sau:

1) Buộc phải có mặt;

2) Dẫn giải;

3) Phạt tiền;

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

Điều 112. Buộc phải có mặt


1. Trong trường hợp cần thiết người bị tình nghi hoặc bị can cũng như người bị hại hoặc người làm chứng có nghĩa vụ buộc phải có mặt.

2. Buộc phải có mặt thể hiện ở văn bản cam đoan của những người quy định tại khoản 1 điều này phải kịp thời có mặt theo giấy triệu tập của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, nếu trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì phải thông báo ngay. Họ được giải thích về hậu quả của việc vi phạm cam đoan và việc này phải được thể hiện trong bản cam đoan.


Điều 113. Dẫn giải


1. Trong trường hợp người bị tình nghi hoặc bị can cũng như người bị hại và người làm chứng không có mặt theo giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng thì họ có thể bị dẫn giải.

2. Dẫn giải thể hiện ở việc tiến hành cưỡng chế họ đến gặp Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán.

3. Nếu có nguyên nhân cản trở việc có mặt đúng hạn theo giấy triệu tập thì những người nói tại khoản 1 Điều này phải thông báo ngay cho cơ quan đã triệu tập họ.

4. Quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán hoặc Toà án về việc dẫn giải phải được công bố cho người bị dẫn giải trước khi thi hành và người dẫn giải ký xác nhận vào quyết định.

5. Việc dẫn giải không được tiến hành vào ban đêm, trừ các trường hợp không thể trì hoãn.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

6. Đối với người chưa thành niên chưa đủ 14 tuổi, phụ nữ có thai cũng như đối với người bệnh mà vì lý do sức khoẻ không thể đến được nơi triệu tập và có xác nhận của bác sỹ thì không bị dẫn giải.

7. Việc dẫn giải do Cơ quan điều tra ban đầu thực hiện theo quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên cũng như do nhân viên thừa phát lại thực hiện theo quyết định của Toà án.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

Điều 114. Tạm đình chỉ chức vụ


1. Trong trường hợp người có chức vụ, quyền hạn là người bị tình nghi hay bị can của vụ án và cần thiết phải tạm đình chỉ chức vụ của họ, thì Điều tra viên, Dự thẩm viên sau khi được Kiểm sát viên đồng ý đề nghị Toà án nơi tiến hành hoạt động điều tra quyết định việc tạm đình chỉ chức vụ của bị can, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

2. Trong thời hạn 48 giờ kể từ khi nhận được đề nghị, Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ chức vụ người bị tình nghi hay bị can hoặc từ chối đề nghị.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

3. Quyết định tạm đình chỉ chức vụ của người bị tình nghi hoặc bị can được gửi cho cơ quan, nơi người đó công tác.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

4. Việc tạm đình chỉ chức vụ của người bị tình nghi hoặc bị can bị huỷ bỏ dựa trên quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, nếu việc áp dụng biện pháp này không còn cần thiết.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002 và Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

5. Trong trường hợp khởi tố bị can đối với người có chức vụ cao thuộc các chủ thể Liên bang Nga (lãnh đạo cơ quan hành pháp cấp cao của cơ quan nhà nước của chủ thể Liên bang Nga) và họ bị khởi tố về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì Viện trưởng Viện kiểm sát Liên bang Nga đề nghị Tổng thống Liên bang Nga tạm đình chỉ chức vụ của họ.

Trong thời hạn 48 giờ kể từ khi nhận được đề nghị, Tổng thống Liên bang Nga ra quyết định tạm đình chỉ chức vụ hoặc từ chối đề nghị.

6. Người bị tình nghi, bị can bị tạm đình chỉ chức vụ có quyền được nhận trợ cấp hàng tháng theo quy định tại điểm 8 khoản 2 Điều 131 Bộ luật này.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

Điều 115. Kê biên tài sản


1. Nhằm bảo đảm thi hành bản án về phần bồi thường dân sự, phạt hoặc tịch thu tài sản quy định tại khoản 1 Điều 1041 Bộ luật hình sự, Kiểm sát viên cũng như Điều tra viên, Dự thẩm viên nếu được Kiểm sát viên đồng ý đề nghị Toà án ra quyết định kê biên tài sản của người bị tình nghi hoặc bị can hay người mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm vật chất đối với hành vi của mình. Toà án giải quyết yêu cầu này theo thủ tục quy định tại Điều 165 Bộ luật này. Khi ra quyết định kê biên tài sản để bảo đảm cho việc tịch thu, Toà án phải nêu cụ thể căn cứ ra quyết định.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 161/LLB ngày 8 tháng 12 năm 2003 và Luật liên bang số 153/LLB ngày 27 tháng 7 năm 2006)

2. Kê biên tài sản thể hiện ở việc cấm chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản thực hiện quyền định đoạt và cấm sử dụng tài sản đó trong những trường hợp xét thấy cần thiết, đồng thời có thể tiến hành thu giữ và chuyển tài sản đi để bảo quản.

3.Việc kê biên có thể tiến hành đối với tài sản do người khác quản lý nếu có đủ căn cứ để cho rằng tài sản đó là do phạm tội mà có hoặc được sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc là dùng để tài trợ cho khủng bố, cho tổ chức phạm tội hay tổ chức vũ trang bất hợp pháp.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 153/LLB ngày 27 tháng 7 năm 2006)

4. Việc kê biên không thể tiến hành đối với tài sản thuộc danh mục những tài sản không bị tịch thu quy định tại Bộ luật dân sự Liên bang Nga.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

5. Việc kê biên tài sản phải có sự tham gia của người chứng kiến. Nhà chuyên môn có thể tham gia khi tiến hành kê biên tài sản.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003)

6.Tài sản bị kê biên có thể bị thu giữ hoặc chuyển cho người khác tiến hành kê biên để xem xét, giao cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đó hoặc người khác để bảo quản và những người này phải được thông báo trước về trách nhiệm của họ trong việc bảo quản tài sản, đồng thời việc này phải được thể hiện trong biên bản.

7. Khi kê biên tiền và những tài sản có giá trị khác của người bị tình nghi, bị can hiện có trong tài khoản, ở nơi gửi tiền, ở ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác thì hoạt động kinh doanh liên quan đến khoản tiền và tài sản có giá trị bị kê biên phải bị đình chỉ toàn bộ hoặc một phần. Lãnh đạo ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác có nghĩa vụ cung cấp thông tin về tiền và tài sản có giá trị có trong tài khoản theo yêu cầu của Toà án, của Kiểm sát viên hoặc của Dự thẩm viên, Điều tra viên nếu được Kiểm sát viên đồng ý.

8. Khi tiến hành kê biên tài sản phải lập biên bản theo quy định tại Điều 166 và Điều 167 Bộ luật này. Nếu không có tài sản để kê biên thì phải ghi rõ trong biên bản. Bản sao biên bản phải giao cho người có tài sản bị kê biên.



(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 58/LLB ngày 29 tháng 5 năm 2002)

9. Việc kê biên tài sản bị huỷ bỏ trên cơ sở quyết định của cơ quan hoặc người tiến hành thụ lý vụ án, nếu việc áp dụng biện pháp này không còn cần thiết nữa.


Điều 116. Đặc điểm của thủ tục thu giữ giấy tờ có giá trị


1. Để đảm bảo cho việc tịch thu tài sản quy định tại khoản 1 Điều 1041 Bộ luật này hoặc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra, việc thu giữ giâý tờ có giá trị hoặc giấy chứng nhận của những giấy tờ đó được tiến hành ở nơi có tài sản hoặc nơi đăng ký quyền của người sở hữu những giây tờ này theo quy định tại Điều 115 Bộ luật này.

(Khoản này được sửa đổi theo Luật liên bang số 92/LLB ngày 4 tháng 7 năm 2003 và Luật liên bang số 153/LLB ngày 27 tháng 7 năm 2006)

2. Không thu giữ những giấy thờ có giá trị của người sở hữu ngay tình.

3. Trong biên bản thu giữ giấy tờ có giá trị cần chỉ rõ:

1) Tổng số lượng giấy tờ có giá trị bị thu giữ, loại giấy tờ, chủng loại hoặc số sê ri;

2) Giá trị danh nghĩa của giấy tờ;

3) Số đăng ký nhà nước;

4) Những thông tin về cơ quan, tổ chức phát hành chứng khoán hoặc những người phát hành giấy tờ có giá trị hoặc đã tiến hành đăng ký quyền của người sở hữu những giấy tờ có giá trị cũng như địa điểm tiến hành đăng ký;

5) Những thông tin về hồ sơ xác nhận quyền sở hữu đối với những giấy tờ có giá trị bị thu giữ.

4. Thủ tục tiến hành các hoạt động thanh toán giấy tờ có giá trị bị thu giữ, trả nợ, trao đổi hoặc những hoạt động khác do Luật liên bang Nga quy định.

Điều 117. Phạt tiền


Trong trường hợp, những người tham gia tố tụng không thực hiện các nghĩa vụ tố tụng quy định tại Bộ luật này hoặc vi phạm thủ tục tại phiên toà thì họ có thể bị phạt tiền đến 25 lần mức thu nhập tối thiểu quy định tại Điều 118 Bộ luật này.

Điều 118. Thủ tục tiến hành phạt tiền và chuyển vào ngân sách nhà nước tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm


1. Việc phạt tiền do Toà án quyết định.

2. Nếu vi phạm xảy ra trong quá trình xét xử thì Toà án phạt tiền tại phiên toà, nơi vi phạm được xác định và Toà án ra quyết định về việc phạt tiền.

3. Nếu vi phạm xảy ra trong giai đoạn trước khi xét xử thì Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên lập bản vi phạm và chuyển cho Toà án quận. Thẩm phán phải giải quyết trong thời hạn 5 ngày kể từ khi nhận được biên bản vi phạm. Người có thể bị phạt tiền và người lập biên bản được triệu tập tham gia phiên toà. Việc người vi phạm vắng mặt tại phiên toà mà không có lý do chính đáng không cản trở việc xem xét biên bản vi phạm.

4. Sau khi xem xét biên bản vi phạm, Thẩm phán ra quyết định phạt tiền hoặc từ chối phạt tiền. Bản sao quyết định được gửi cho người lập biên bản và người bị phạt tiền.

5. Khi tiến hành phạt tiền Toà án có quyền gia hạn hoặc cho phép thi hành dần quyết định trong thời hạn đến 3 tháng.

6. Việc giải quyết vấn đề chuyển tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm vào ngân sách nhà nước trong những trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 106 Bộ luật này được tiến hành theo thủ tục quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này.






1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   27


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương