ĐỀ CƯƠng tuyên truyền kỷ niệM 50 NĂm ngày truyền thống đÁnh thắng trậN ĐẦu của hải quân nhân dân việt nam



tải về 199.03 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu05.08.2016
Kích199.03 Kb.
  1   2   3


ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG ĐÁNH THẮNG

TRẬN ĐẦU CỦA HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM

(ngày 02 và 05/8/1964 - ngày 02 và 05/8/2014)

_______________________________

Cách đây vừa tròn 50 năm, ngày 2 và 5 tháng 8 năm 1964, Hải quân nhân dân Việt Nam sau 9 năm xây dựng trong hòa bình lần đầu tiên ra quân chiến đấu đã dũng cảm kiên cường đánh đuổi tàu khu trục Ma đốc của đế quốc Mỹ, bắn rơi nhiều máy bay và bắt sống giặc lái của chúng trên vùng biển, vùng trời miền Bắc, làm nên truyền thống “đánh thắng trận đầu” của Hải quân nhân dân Việt Nam, góp phần làm nên truyền thống đánh thắng trận đầu của quân dân miền Bắc trong chống chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ.

Sự kiện đánh đuổi tàu khu trục Ma - đốc, tiêu diệt máy bay hiện đại của đế quốc Mỹ xâm lược có ý nghĩa giá trị to lớn trong lịch sử xây dựng, chiến đấu của quân đội và quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng, trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Phần thứ nhất

ÂM MƯU CỦA ĐẾ QUỐC MỸ MỞ RỘNG CHIẾN TRANH RA MIỀN BẮC. QUYẾT TÂM CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA VÀ TINH THẦN CHIẾN ĐẤU DŨNG CẢM CỦA BỘ ĐỘI HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM

1. Âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ nhằm mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam.

- Những tháng cuối năm 1963, vấn đề Việt Nam ngày càng trở nên nóng bỏng đối với giới cầm quyền Mỹ. Bị thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ buộc phải thay ngựa giữa dòng, hậu thuẫn cho cuộc đảo chính phế bỏ anh em Tổng thống tay sai Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu (ngày 1.11.1963). Sau đảo chính, tình hình chính trị ở Sài Gòn không những không được cải thiện mà càng trở nên tồi tệ, rối ren hơn. Bọn tay sai mới tiếp tục đấu đá, lật đổ lẫn nhau và không chống đỡ nổi những cuộc tiến công nổi dậy mạnh mẽ của quân và dân ta. Trong khi đó, lực lượng cách mạng ngày càng được củng cố, phát triển và giành nhiều thắng lợi trên các chiến trường.

- Nhằm cứu vãn sự thất bại không thể tránh khỏi của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ quyết định đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam bằng một chiến lược mới và mở cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, nơi mà chúng cho là “gốc rễ” của cách mạng, là hậu thuẫn của cách mạng miền Nam, để triệt tiêu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam và ngăn chặn sự giúp đỡ của các nước cho cách mạng Việt Nam. Tháng 2 năm 1964, Tổng thống Mỹ Giôn xơn đã thông qua “chương trình thử nghiệm 4 tháng” gồm 3 nội dung chủ yếu:

+ “Kế hoạch hành quân 34A” (kế hoạch do thám bằng máy bay chiến lược U2, bắt cóc công dân Bắc Việt Nam để khai thác tin tình báo, sử dụng các đội nhảy dù phá hoại và các cuộc tiến công của biệt kích từ hướng biển) “nhằm gây tàn phá, tổn thất nặng nề về kinh tế và phá rối Hà Nội” và được tăng lên trong suốt năm 1964.

+ Mở các cuộc tiến công của không quân Lào do CIA tổ chức nhằm chuẩn bị cho mở rộng hơn nữa kế hoạch ném bom miền Bắc Việt Nam.

+ “Kế hoạch Đề sô tô”, tổ chức các cuộc tuần tra bằng tàu khu trục Mỹ ở khu vực vịnh Bắc Bộ, nhằm thu thập tin tức tình báo phục vụ cho các hoạt động trong khuôn khổ Kế hoạch 34A, hỗ trợ các cuộc tiến công của hải quân ngụy quyền Sài Gòn vào bờ biển miền Bắc.

Thực chất đây là chương trình hoạt động phô trương sức mạnh và tìm cớ để gây chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ.

- Ngày 17 tháng 4 năm 1964, Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ đưa ra kế hoạch đánh phá các tuyến vận chuyển chiến lược của ta chạy dọc biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia nhằm ngăn chặn sự chi viện từ Bắc vào Nam. Kế hoạch này được mang tên Oplan 37 dự định thực hiện qua 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Truy kích việt cộng qua biên giới Lào và Campuchia.

+ Giai đoạn 2: Mở các cuộc oanh kích và dùng mìn đánh phá các mục tiêu đã dự định trong nội địa miền Bắc.

+ Giai đoạn 3: Tăng cường oanh tạc mạnh mẽ và liên tục chống miền Bắc.

- Tổng thống Mỹ Giôn xơn đã yêu cầu Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Mỹ soạn thảo kế hoạch hành động từng bước, kết hợp cả hoạt động chính trị và quân sự chống lại miền Bắc Việt Nam; soạn dự thảo nghị quyết nhằm tìm kiếm sự phê chuẩn của Quốc hội cho việc mở rộng các hoạt động quân sự ở Đông Dương.

- Theo chỉ thị của Giôn xơn, Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ thông qua kế hoạch dùng không quân, hải quân đánh phá 94 mục tiêu trên miền Bắc nước ta (gồm 12 điểm nút giao thông vận tải, kho, cảng, bến bãi; 9 khu vực sân bay; 53 khu vực quân sự; 8 khu vực công nghiệp; 12 đường bay trinh sát vũ trang). Dự kiến thực hiện kế hoạch qua 4 giai đoạn trong 13 tuần (một số tài liệu trước ghi 12 ngày). Trong đó, giai đoạn 1 (3 tuần): tấn công liên tục trên các tuyến giao thông, các khu vực quân sự phía Nam vĩ tuyến 20. Giai đoạn 2 (6 tuần): cô lập Bắc Việt Nam bằng cách phá hủy các tuyến đường sắt liên hệ với Trung Quốc. Giai đoạn 3 (2 tuần): cô lập Bắc Việt Nam bằng cách phá hủy các cơ sở kho cảng, bến bãi, các khu lưu trữ và cung cấp đạn dược, xăng dầu ở Hải Phòng- Hà Nội. Giai đoạn 4 (2 tuần): phá hủy tất cả các mục tiêu còn lại trong danh sách bao gồm các khu công nghiệp, khu khai thác.

- Bằng cách thức tiến hành leo thang từng bước với quy mô tăng dần và tính chất ngày càng ác liệt. Dùng hải quân khóa chặt cửa biển miền Bắc. Dùng máy bay của không quân và của hải quân mở các chiến dịch đánh phá ven biển, các mục tiêu trong nội địa, săn tìm các căn cứ hải quân Bắc Việt để tiêu diệt lực lượng tàu thuyền chiến đấu có khả năng cản trở bước tiến công của chúng. Dùng máy bay thả thủy lôi, bom từ trường để phong tỏa các cảng sông, cửa biển. Đồng thời trang bị hiện đại cho hải quân ngụy kết hợp chống phá miền Bắc. Đế quốc Mỹ hy vọng “Hà Nội sẽ phải “quỳ gối” trong vòng 2 đến 6 tháng”.

- Đến tháng 5 năm 1964, kế hoạch xúc tiến chiến tranh phá hoại miền Bắc đã được đế quốc Mỹ hoàn tất. Hệ thống căn cứ không quân, hải quân bố trí gần miền Bắc nước ta đều đã được bảo đảm sẵn sàng nhận lệnh (Hạm đội 7, căn cứ Đà Nẵng, sân bay Ubon và Cò Rạt ở Thái Lan, Guam ở Thái Bình Dương).

- Để thực hiện kế hoạch đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân với một “kịch bản” đã được chuẩn bị từ trước, đế quốc Mỹ xác định phải “có một chiến dịch khiêu khích Bắc Việt Nam” để tạo cớ. Và họ đã tính toán cái “cớ” ấy nằm trong khuôn khổ của Kế hoạch Đề sô tô là phù hợp nhất.

- Ngay từ ngày 2 tháng 3 năm 1964, Mỹ cho tàu khu trục tuần tiễu ven biển miền Bắc Việt Nam vừa trinh sát vừa thăm dò ta và làm hậu thuẫn cho hải quân ngụy đánh phá các đảo và vùng dân cư ven biển các tỉnh Khu 4; cho máy bay do thám vùng trời, cho tàu thả biệt kích, hàng tâm lý chiến ở các cửa sông, ven biển và truyền đơn kích động gây chiến tranh tâm lý; cho tàu khu trục, tuần dương vào sát bờ do thám và quấy rối, phá hoại, bắt cóc ngư dân... gây hoang mang trong nhân dân.

- Bước sang tháng 7, các hoạt động khiêu khích của Mỹ càng gia tăng hơn. Chúng vừa đẩy mạnh các hoạt động trên biển, trên trời và phá hoại trên đất liền, vừa rêu rao sẽ oanh tạc miền Bắc Việt Nam để gây chú ý của dư luận.

+ Đêm 30 tháng 7 năm 1964, chúng cho tàu biệt kích ngụy bắn pháo bừa bãi lên đảo Hòn Mê (Thanh Hóa), Hòn Ngư (Nghệ An). Ngày 1 và 2 tháng 8, các máy bay T28 của phái hữu Lào được Mỹ huy động bắn phá đồn biên phòng Nậm Cắn và làng Noọng Dẻ ở miền tây tỉnh Nghệ An.

- Ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, tàu khu trục Ma đốc của Mỹ tiếp tục tiến về phía Bắc, xâm phạm hải phận của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và gây ra một số vụ khiêu khích đối với thuyền đánh cá của ngư dân miền Bắc. Đặc biệt đêm 31 tháng 7 rạng sáng 1 tháng 8 năm 1964, tàu khu trục Ma đốc đã tiến vào vùng biển Quảng Bình để thu thập tin tức tình báo và khiêu khích lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam, có lúc chúng vào cách Đông Đèo Ngang khoảng 8 hải lý, vi phạm lãnh hải của ta. Đài quan sát của Hải quân ta ở đèo Ngang nhìn rõ số hiệu 731(1) của tàu Ma đốc.

- Ngày 2 tháng 8 năm 1964 tàu Ma đốc bị tàu phóng lôi của Hải quân ta tiến công đánh đuổi buộc chúng phải rút ra khỏi vùng biển của Việt Nam, thì ngay lập tức Mỹ lớn tiếng vu cáo “tàu phóng lôi của Việt Nam vô cớ công kích tàu Ma đốc của Mỹ đang đi trên vùng biển quốc tế...”, và “Bắc Việt Nam khiêu khích trắng trợn, Bắc Việt Nam đã vi phạm luật pháp quốc tế...”.

- Và để những lời vu cáo đó có sức thuyết phục hơn đối với nhân dân Mỹ và dư luận quốc tế, hôm sau, Giôn xơn lệnh cho tàu khu trục Tóoc-nơ-gioi cùng khu trục Ma đốc tiếp tục vào vịnh Bắc Bộ, nhanh chóng tạo ra “sự kiện thứ hai” nhằm lấy cớ “trừng phạt hải quân Bắc Việt Nam”.

+ Đêm mồng 4 tháng 8 năm 1964, Mỹ đã dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, cho tàu khu trục Ma đốc và tàu Tóoc-nơ-gioi ở vùng biển quốc tế phát tín hiệu bị tấn công, vừa hành trình vừa đồng loạt bắn các loại pháo ra xung quanh, rồi ngay lập tức nhà cầm quyền Mỹ ở lầu năm góc lu loa lên rằng: “Một cuộc tiến công cố ý thứ hai trong đêm tối của các tàu tuần tra Bắc Việt Nam đã đánh vào tàu Ma-đốc và Tóoc nơ gioi trong khi hai khu trục này đang thực hiện tuần tra thường lệ ở vịnh Bắc Bộ trong hải phận quốc tế cách khoảng 65 dặm (gần 105km) nơi gần bờ biển nhất”.

- Cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” do giới cầm quyền Mỹ dựng lên thực chất là bịa đặt, cố tình lừa dối nhân dân Mỹ nhằm để thông qua cho được bản nghị quyết của Quốc hội Mỹ về các hoạt động quân sự ở Việt Nam, được gọi là “nghị quyết vịnh Bắc Bộ”, một nghị quyết mà thượng nghị sĩ Mỹ Uay-ni-mozơ, bang O-ri-gan đã mô tả như một bản “tuyên chiến đề ngày trước”. Đó là đường hướng, chính sách của chính quyền Mỹ đối với Việt Nam được tính toán cho việc leo thang mở rộng chiến tranh chứ không phải là bất ngờ hay là một “sự trả đũa”.

+ Chính học giả Đanien-En-bớt của Hoa Kỳ đã khẳng định: Thực chất cuộc tấn công mang tính “trả đũa” lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam chỉ là cái cớ mở đường cho cuộc chiến tranh đẫm máu của Mỹ ở Việt Nam, một phần của kế hoạch gia tăng áp lực quân sự trên miền Bắc mà Hoa Kỳ đã theo đuổi từ đầu năm 1964.

- 23 giờ 30 phút (giờ Oa sinh tơn) ngày 4 tháng 8 năm 1964, Tổng thống Mỹ Giôn xơn tuyên bố trên đài truyền hình Mỹ về việc ra lệnh cho các lực lượng quân sự của Mỹ có “hành động trả lời...” đối với Bắc Việt Nam.

Như vậy là, với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, cố tình của nhà cầm quyền Mỹ như thế, thì “sự kiện vịnh Bắc Bộ” sớm hay muộn cũng sẽ xảy ra, để tạo “cái cớ” cho hoạt động mở rộng chiến tranh của Mỹ ra miền Bắc nước ta.

2. Quyết tâm chiến lược của Đảng ta

- Tháng 12 năm 1963, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp Hội nghị lần thứ 9 bàn về một số vấn đề quốc tế và tình hình nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam. Hội nghị đã phân tích tình hình so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam và vạch phương hướng, nhiệm vụ tiến lên làm thất bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Đồng thời, hội nghị cũng chỉ rõ: Chúng ta phải cảnh giác, sẵn sàng đối phó với trường hợp Mỹ mạo hiểm mở rộng chiến tranh bằng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, vì vậy, phải quán triệt phương châm “chiến tranh lâu dài, đồng thời tranh thủ thời cơ giành thắng lợi trong thời gian không lâu lắm”. Trung ương xác định “điều quan trọng nhất, quyết định nhất trong bất cứ trường hợp nào vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng của ta về mọi mặt, đặc biệt là lực lượng quân sự”. Từ đó đã đề ra phương hướng cho quân đội xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu bảo vệ miền Bắc, tăng cường lực lượng chủ lực và đẩy mạnh tác chiến tập trung ở miền Nam, cùng toàn dân đánh bại cuộc “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và sẵn sàng đánh thắng Mỹ nếu chúng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.

- Thực hiện chủ trương của Đảng, để chủ động bảo vệ miền Bắc, ngày 9 tháng 1 năm 1964, Bộ Tổng tham mưu tổ chức hội nghị phòng không nhân dân toàn miền Bắc lần thứ nhất để bàn các biện pháp đánh bại các cuộc tập kích của máy bay địch.

- Ngày 27 và 28 tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Hội nghị này được coi như “Hội nghị Diên Hồng” của dân tộc trong thời đại mới. Dự hội nghị có các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và hơn 300 đại biểu của những cán bộ lão thành, những nhà hoạt động chính trị được nhân dân yêu quý, những người tiêu biểu cho các giới, các ngành, đại biểu anh hùng, chiến sĩ thi đua, trí thức tiến bộ và nhân sĩ yêu nước... đại diện cho đồng bào các dân tộc, tôn giáo trong cả nước. Sau khi nghe và thảo luận báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày, toàn thể hội nghị đã biểu thị sự đoàn kết nhất trí xung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm chiến đấu bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

+ Tại hội nghị, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ âm mưu và hành động chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, khẳng định thất bại của cuộc “Chiến tranh đặc biệt” là không thể tránh khỏi. Người tuyên bố “Hiện nay, bọn hiếu chiến Mỹ và bè lũ tay sai mới của chúng lại ba hoa hô hào “Bắc tiến!”. Nhưng chúng phải hiểu rằng: Nếu đế quốc Mỹ liều lĩnh động đến miền Bắc thì nhất định chúng sẽ thất bại thảm hại. Vì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đánh lại chúng; vì các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới sẽ hết sức ủng hộ ta; vì nhân dân Mỹ và các nước đồng minh của Mỹ sẽ phản đối chúng”. Và Người đã kêu gọi “mỗi người phải làm việc bằng hai để đền đáp lại đồng bào miền Nam ruột thịt”, đồng thời yêu cầu: “Quân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân phải luôn sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự trị an, kiên quyết đập tan mọi hành động của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng”.

- Tháng 6 năm 1964, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị “tăng cường sẵn sàng chiến đấu, phá tan âm mưu khiêu khích, đánh phá miền Bắc của không quân địch”. Chỉ thị nêu rõ: “Các lực lượng vũ trang trên miền Bắc phải sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết tiêu diệt địch nếu chúng xâm phạm miền Bắc”. Tổng Tham mưu trưởng đã ra lệnh báo động sẵn sàng chiến đấu và chỉ thị “Hải quân nhanh chóng chuẩn bị mọi mặt để chiến đấu bảo vệ vùng biển, tuyến ven bờ, các hải cảng, cửa sông và căn cứ; nhanh chóng chuyển mọi sinh hoạt của đơn vị sang thời chiến”.

- Ở Quân chủng Hải quân, quán triệt Nghị quyết Trung ương và Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, đầu tháng 4 năm 1964, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng đã quyết định triển khai đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng nhằm làm chuyển biến nhận thức tư tưởng trong toàn quân chủng trước tình hình yêu cầu nhiệm vụ mới. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo: “Sẵn sàng khi có lệnh là đi, có địch là đánh; nhiệm vụ ở đâu cũng làm, khó khăn mấy cũng vượt; kẻ địch nào cũng đánh, đánh là phải tiêu diệt”. Đồng thời xây dựng tinh thần đoàn kết giúp nhau tiến bộ, tích cực học tập, đẩy mạnh thi đua “Ba nhất”, hăng hái ghi tên đi chiến đấu và thi đua giành đơn vị quyết thắng.

- Đầu tháng 5 năm 1964, Đảng ủy Quân chủng ra nghị quyết lãnh đạo nhằm tạo động lực mạnh mẽ, chủ động chuẩn bị tốt mọi mặt, từng bước đưa quân chủng chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu với quyết tâm cao nhất.

- Từ ngày 6 tháng 7 năm 1964 toàn Quân chủng Hải quân đã chuyển sang trạng thái thời chiến. Trước những hành động khiêu khích phá hoại ngày càng tăng của Mỹ ngụy ở vùng biển Khu 4, Bộ tư lệnh Quân chủng quyết định thành lập Sở chỉ huy tiền phương tại căn cứ sông Gianh do đồng chí đại tá Nguyễn Bá Phát, Phó tư lệnh Quân chủng phụ trách để trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị Khu tuần phòng 2 tác chiến và hiệp đồng với các lực lượng của Quân khu 4 bảo vệ vùng biển phía nam. Điều động một số tàu tuần tiễu của Khu tuần phòng 1 vào tăng cường hoạt động ở vùng biển Khu 4 và lệnh cho các phân đội tàu tuần tiễu của Khu tuần phòng 2 rời cảng sơ tán ra các khu neo, vừa tăng cường huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, vừa nâng cao cảnh giác, ngụy trang chu đáo đề phòng địch tập kích bằng đường không và biệt kích người nhái. Các tàu phóng lôi ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Các đơn vị pháo bờ biển chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cấp 2. Các cơ quan, đơn vị trên bờ khẩn trương xây dựng hầm hào, công sự phòng tránh và đánh địch. Cán bộ, chiến sĩ đang nghỉ phép được gọi về đơn vị làm nhiệm vụ. Cuối tháng 7 năm 1964 mọi công tác chuẩn bị chiến đấu của quân chủng đã cơ bản hoàn thành.

3. Diễn biến chiến đấu và tinh thần dũng cảm của Hải quân nhân dân Việt Nam trong trận đánh ngày 2 và 5 tháng 8 năm 1964.

a. Đánh đuổi tàu khu trục Ma đốc Mỹ trong ngày 2 tháng 8:

- Đêm 31 tháng 7 rạng sáng ngày 1 tháng 8 năm 1964, tàu khu trục Ma đốc của Mỹ xâm phạm vào vùng biển Quảng Bình, sau đó tiến lên phía Bắc, điều tra các mạng lưới phòng thủ của ta ở khu vực đèo Ngang, Hòn Mát, Hòn Mê, Lạch Trường. Có nơi tàu này đi cách bờ chỉ khoảng 6 hải lý, vòng đi vòng lại nhiều lần để quan sát thăm dò lực lượng và sự bố trí phòng thủ của ta. Tất cả các hành động trên của tàu Ma đốc Mỹ đều bị các đơn vị ra đa, quan sát mắt của ta theo dõi chặt chẽ và kịp thời báo cáo lên cấp trên.

- Căn cứ vào chỉ thị của Bộ tổng tham mưu và tình hình hoạt động của tàu khu trục địch, Bộ tư lệnh Hải quân đã giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 135(2) khẩn trương làm công tác chuẩn bị, đảm bảo mọi mặt và tiến hành lắp ngư lôi cho Phân đội 3 để sẵn sàng làm nhiệm vụ chiến đấu. Đến 23 giờ ngày 1 tháng 8, Phân đội 3 lắp xong ngư lôi và hoàn tất mọi công tác chuẩn bị.

- Đến 0 giờ 15 phút ngày 2/8/1964, Phân đội 3(3) được lệnh rời cảng Vạn Hoa (Quảng Ninh) bí mật hành quân vào Hòn Nẹ (Thanh Hóa) để phục kích đón đánh tàu khu trục của địch. Vì gió mùa đông bắc, sóng cấp 4, cấp 5 nên đến 8 giờ 30 phút ngày 2 tháng 8, Phân đội 3 mới tới Hòn Nẹ. Tại đây đã có 2 tàu tuần tiễu T146 và T142 của Khu Tuần phòng 1 do đồng chí Trần Đình Chỉ, Phân đội trưởng Phân đội 4 chỉ huy, đang neo đậu ở tây nam đảo. Phân đội tàu phóng lôi vào thả neo theo đội hình phòng không ở phía nam Hòn Nẹ một hải lý. Cả ba tàu cho hạ cột ăng ten ra-đa và tổ chức ngụy trang.

- Đến 10 giờ 30 phút ngày 2/8/1964, chỉ huy biên đội tàu tuần tiễu ở tàu T146 thông báo cho tàu 333 biết cấp trên lệnh cho phân đội tàu phóng lôi hành quân vào Hòn Mê ngay. Chỉ huy Phân đội 3 đã chỉ đạo các tàu nhanh chóng thu neo và cơ động vào Hòn Mê. 2 tàu tuần tiễu T146 và T142 cũng được lệnh cùng đi với Phân đội 3 tàu phóng lôi, nhưng do tốc độ tàu tuần tiễu thấp hơn nên thống nhất các tàu phóng lôi cứ vào trước. Phân đội 3 đã vào đến Hòn Mê lúc 12 giờ 30 phút, thả neo ở vị trí tây bắc đảo và tiến hành ngụy trang chờ thời cơ. 40 phút sau thì biên đội tàu tuần tiễu cũng vào đến Hòn Mê.

- 13 giờ 30 phút ngày 2/8/1964, tàu khu trục Ma đốc Mỹ xâm phạm vào khu vực Hòn Mê-Lạch Trường/Thanh Hóa, cách Hòn Mê 9 hải lý, Sở chỉ huy tiền phương lệnh cho biên đội tàu tuần tiễu xuất kích. Hai tàu T142 và T146 đi theo hướng đông bắc nhằm đến khu biển đang có tàu của địch hoạt động. 20 phút sau, Phân đội 3 tàu phóng lôi được lệnh xuất kích theo hướng hai tàu tuần tiễu, đến 14 giờ 10 thì đuổi kịp biên đội tàu tuần tiễu, sau đó các tàu phóng lôi tăng tốc độ vượt lên trước tìm tàu Ma đốc của địch. Do tốc độ chậm hơn và thông tin liên lạc không bảo đảm nên các tàu tuần tiễu sau đó đã không đến kịp để phối hợp chiến đấu cùng tàu phóng lôi.

- Trong lúc này, tàu Ma đốc Mỹ đã ở phía đông Hòn Nẹ, phương vị 1150 , cự ly 27 hải lý (1 hải lý = 1.852 mét) và Phân đội 3 cách tàu Ma đốc 13,7 hải lý. Khi phát hiện được tàu địch, cả ba tàu phóng lôi tăng vận tốc tiếp cận mục tiêu. Tàu khu trục địch thấy có 3 tàu tốc độ cao đang tiếp cận thì cũng tăng vận tốc chạy ra xa. Phân đội 3 vẫn nhằm hướng mục tiêu tiến tới. Khi các tàu của ta còn cách 6 hải lý thì tàu địch dùng pháo lớn bắn dồn dập về phía đội hình tàu phóng lôi. Mặc cho địch bắn pháo ngăn chặn, các tàu của ta vẫn dũng cảm tiến lên phía trước, vừa vận động chữ chi tránh đạn vừa nhanh chóng rút ngắn cự ly chiếm lĩnh vị trí có lợi để công kích ngư lôi.

+ Chỉ huy trưởng phân đội lệnh cho tàu 333 tăng vận tốc chặn tàu địch lại, tạo điều kiện thuận lợi để hai tàu 336 và 339 tấn công. Khi tàu 339 tiếp cận được góc 110 độ mạn phải tàu khu trục, cự ly 10 liên (1 liên = 185,2 mét), pháo thủ 14,5mm bắt đầu phát hỏa về phía tàu địch trong khi tàu tiếp tục rút ngắn khoảng cách, vào đến cự ly 7-8 liên thì Thuyền trưởng Nguyễn Văn Giản hạ lệnh phóng ngư lôi để tiêu diệt địch và chuyển hướng rời khỏi khu vực tác chiến. Lúc này trên trời xuất hiện 5 máy bay địch lao đến tập kích, một trái rốc két bắn trúng khoang máy chính; pháo thủ 14,5mm và chiến sĩ máy hy sinh; tàu 339 phải thả trôi cách tàu địch khoảng 3 hải lý vừa tập trung dập lửa, sửa chữa hỏng hóc vừa ngoan cường chiến đấu đánh trả máy bay địch bằng súng 14,5mm và súng trung liên.

+ Sau khi tàu 339 phóng ngư lôi, tàu 336 tiếp tục tiếp cận ở góc mạn phải tàu địch 110 độ đến 120 độ, cự ly 6- 7 liên thì phóng ngư lôi, sau đó giảm tốc độ chuyển hướng rời khỏi khu vực tác chiến. Ngay lúc đó, đạn pháo tàu địch bắn trúng tàu 336, Thuyền trưởng Phạm Văn Tự hy sinh. Mặc dù đang bị thương nhưng không để chậm trễ, Thuyền phó Nguyễn Văn Chuẩn từ boong sau chạy lên đài chỉ huy vừa chỉ huy chiến đấu vừa điều khiển tàu cơ động ra khu vực tàu 339 đang thả trôi.

+ Tiếp theo tàu 336, tàu 333 tiếp cận vào vị trí công kích ngư lôi. Với tinh thần quyết tâm chiến đấu đến cùng, Phân đội trưởng kiêm Thuyền trưởng Nguyễn Xuân Bột đã chỉ đạo pháo thủ 14,5mm bắn quét lên mặt boong tàu địch và tiếp tục cho tàu cơ động rút ngắn khoảng cách, khi vào đến vị trí công kích ở góc mạn phải tàu địch 80 độ, cự ly 6 liên thì phóng ngư lôi; sau đó vừa rời khu vực tác chiến vừa tiếp tục bắn quét lên mặt boong tàu địch. Tàu khu trục của địch bốc khói, không phát hỏa nữa và chuyển hướng tháo chạy ra vùng biển quốc tế.

+ Ngay lúc đó, 4 máy bay của địch tiếp tục lao đến tấn công vào các tàu của Phân đội 3. Tàu 333 và 336 vừa cơ động vừa nổ súng đánh trả. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, cán bộ, chiến sĩ các tàu đã tập trung hỏa lực bắn cháy 1 máy bay rơi ngay xuống biển và bắn bị thương 1 chiếc; hai chiếc còn lại vội vã rời khỏi khu vực chiến đấu.

- Trong trận chiến đấu này, tàu Ma đốc của địch đã bị trúng đạn, hư hỏng một số trang thiết bị, phải rút chạy ra khơi xa; 1 máy bay bị bắn rơi và 1 bị thương. Về phía ta, hai tàu 336 và 339 bị hư hỏng một số máy móc, trang bị; 4 đồng chí hy sinh, 6 đồng chí bị thương.

- Sau 9 năm xây dựng, đây là trận đầu tiên Hải quân nhân dân Việt Nam ra quân chiến đấu trực tiếp với tàu chiến lớn và nhiều máy bay hiện đại của đế quốc Mỹ. Với số lượng tàu ít và nhỏ bé, có nhiều hạn chế về tính năng kỹ thuật (4), lại trong tình huống chiến đấu hoàn toàn độc lập, không có lực lượng hỗ trợ, nhưng cán bộ, chiến sĩ ta đã anh dũng kiên cường đánh trả tàu khu trục và máy bay của địch; khẳng định ý chí dám đánh, quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân dân miền Bắc nói chung và của Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng. Đó là lời cảnh cáo đối với hải quân, không quân Mỹ nếu chúng tiếp tục xâm phạm vào vùng biển, vùng trời của Việt Nam thì nhất định sẽ bị giáng trả thích đáng.


: vi-VN -> bannganh -> BanTuyenGiao -> Lists -> Danh%20sch%20cc%20bi%20vit%20tin%20tc%20v%20s%20kin -> Attachments
Attachments -> TỈnh uỷ quảng ninh ban tuyên giáO
Attachments -> CỤc tuyên huấn cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> HỌc tập và LÀm theo tấm gưƠng đẠO ĐỨc hồ chí minh về trung thựC, trách nhiệM; GẮn bó VỚi nhân dâN; ĐOÀn kếT, XÂy dựNG
Attachments -> Ban Tuyªn Gi¸o Sè 91 cv/tg đẢng cộng sản việt nam
Attachments -> ĐỊnh hưỚng một số NỘi dung tuyên truyền trong tháng 12 NĂM 2012
Attachments -> KẾt quả NỔi bật trong chuyến thăm cộng hoà nhân dân trung hoa của tổng bí thư nguyễn phú trọNG
Attachments -> HƯỚng dẫn tuyên truyền kỷ niệM 40 NĂm ngày giải phóng miền nam, thống nhấT ĐẤt nưỚC
Attachments -> Kết quả công tác đảm bảo tt-atgt trên địa bàn toàn tỉnh
Attachments -> Ban tuyên giáo số 40 bc/tg đẢng cộng sản việt nam
Attachments -> 1. Giàn khoan Hải Dương-981 hạ đặt ở đâu?


  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương