TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 8774 : 2012



tải về 0.56 Mb.
trang2/7
Chuyển đổi dữ liệu13.08.2016
Kích0.56 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

5.3. Công tác sắt, rèn

Mọi công tác sắt rèn trong xưởng cơ khí hoặc trên bãi sản xuất tại công trường cần đảm bảo các quy tắc an toàn của TCVN 4744-1989.



5.3.1. Công tác sắt

5.3.1.1. Gia công sắt nguội hoặc nóng cần tuân thủ các quy định có liên quan về sử dụng búa, kích, đòn bẩy.

5.3.1.2. Lắp ráp các giàn dáo, dầm cầu cần tuân thủ các điều quy định trong công tác kích kéo.

Khi tháo lắp các kết cấu thép nặng cần tuân thủ trình tự kỹ thuật, cần có người chỉ huy thống nhất. Nếu ngừng việc cần neo giữ chắc chắn.



5.3.1.3. Khi cắt sắt, chặt sắt dính liền trong các cấu kiện kết cấu cần có biện pháp đề phòng sụp đổ. Trường hợp có sử dụng các máy gia công kim loại to cần phân công những người am hiểu máy đó sử dụng.

5.3.1.4. Khi dùng cờ-lê để xiết, mở bu-lông, vị trí và tư thế làm việc cần bảo đảm chắc chắn. Miệng cờ-lê cần vừa với ê-cu. Không nối dài cán cờ-lê hở miệng để đề phòng trượt gẫy.

5.3.1.5. Khi chặt đinh cần dùng kìm để giữ chạm, không đứng đối diện nhau, cần chú ý xung quanh khi quai búa. Đánh búa nhẹ tay khi mũ đinh sắp đứt, khi đinh sắp tụt khỏi lỗ, khi con lói sắp long và có biện pháp không để văng mạnh hoặc rơi từ trên xuống.

5.3.1.6. Thường xuyên phòng cháy tại khu vực đặt lò và những nơi đinh nóng có thể văng tới.

5.3.2. Rèn thủ công và rèn bằng búa máy

5.3.2.1. Nhà rèn cần làm theo kiểu 4 mái, bằng vật liệu khó cháy và không hắt nước khi mưa.

5.3.2.2. Lò rèn cần có thiết bị hút bụi đưa ra khỏi nhà và chắn bớt sức nóng trong lò tỏa ra.

5.3.2.3. Các đe cần đặt vững vàng, mặt đe cần bằng phẳng đúng chiều cao (mặt đe chấm đến ngón tay giữa người đánh búa tạ, khi đứng nghiêm ngang thắt lưng người đánh búa con) và cách nhau ít nhất 4,5m.

5.3.2.4. Dùng kìm cần phù hợp với kích thước và hình dáng của vật rèn.

5.3.2.5. Đánh búa lúc đầu cần nhẹ tay, thong thả, nhịp nhàng để điều chỉnh búa cho vẩy sắt bong ra, sau đó mới đánh mạnh. Thỉnh thoảng nhúng nước đầu búa để tránh tuột búa.

5.3.2.6. Sắt thép khi chặt gần đứt cần dùng búa tay đánh gãy để tránh văng nguy hiểm. Các phế liệu, bán thành phẩm còn nóng cần để vào nơi quy định, đề phòng bỏng.

5.3.2.7. Có biện pháp chống cháy, phòng cháy.

5.3.2.8. Ngoài việc cần thực hiện các điều quy định của rèn thủ công về cơ khí và điện, khi rèn bằng búa máy cần thực hiện các điểm sau:

a) Búa máy do xí nghiệp chế tạo, cần có sự xét duyệt về thiết kế và nghiệm thu về chất lượng kỹ thuật nói chung của cơ quan quản lý kỹ thuật cấp trên, nếu cho phép mới được sử dụng.

b) Trước khi rèn cần cho máy chạy thử: Chỉ được kiểm tra, sửa chữa búa khi đã cắt điện và máy đã ngừng hẳn.

c) Nếu cần thiết cần đặt búa máy ở khu vực riêng.

d) Người điều khiển búa, người giữ vật rèn cần thống nhất tín hiệu và hiệp đồng động tác chặt chẽ. Rèn những vật to cần có dụng cụ thích hợp đảm bảo đưa vật rèn vào búa và quá trình rèn cần giữ được chắc chắn.

5.3.2.9. Tuyệt đối không:

a) Dùng búa máy rèn đập những vật nguội.

b) Người không có trách nhiệm điều khiển búa máy.

c) Rèn đập những vật gia công kích thước nhỏ dưới 1/5 kích thước mặt búa.



5.4. Công tác bu lông cường độ cao

5.4.1. Khi thi công bu lông cường độ cao cần tuân thủ đầy đủ các yêu cầu an toàn đã nêu đối với các điều kiện: làm việc trên cao, sử dụng khí nén, trang bị phòng hộ lao động.

5.5. Công tác tán đinh bằng búa máy

5.5.1. Các công việc như nướng, ném, bắt, tán đinh và đỡ ba cần bố trí những công nhân kỹ thuật đã qua huấn luyện về tán.

5.5.2. Búa máy khi đã lắp đủ các bộ phận và có hơi ép, dây thép giữ cáp búa cần chắc chắn, đầu búa cần luôn chúc xuống đất hoặc quay về phía không người.

5.5.3. Cần thống nhất tín hiệu trong việc ném và bắt đinh. Khoảng cách ném đinh không quá 20 m. Người bắt đinh cách những người chung quanh ít nhất 3 m. Trên đường ném đinh cần không người làm việc và qua lại.

5.5.4. Cần phối hợp chặt chẽ động tác giữa người tán và người đỡ ba. Tránh tì sát người vào các dụng cụ đang rung động mạnh.

5.5.5. Có biện pháp không để dụng cụ, vật liệu rơi xuống do quá trình tán kết cấu bị rung động.

5.6. Công tác mộc cầu

5.6.1. Mọi công tác mộc trong xây dựng cầu cần đảm bảo tuân theo các quy định an toàn của TCVN 2293:1978.

5.6.2. Gỗ ván đá đặt để gia công cần chèn giữ chắc chắn đề phòng lăn, rơi, sập, đổ.

Tháo lắp ván khuôn và kết cấu cần theo đúng trình tự kỹ thuật và tuân thủ các điều quy định có liên quan trong công tác kích kéo.



5.6.3. Không đeo găng tay khi đẽo rìu, cầm dùi đục. Không lấy tay làm cữ khi dùng cưa tô và không dạng chân qua gỗ để đẽo.

5.6.4. Khi khoan cần đứng thật vững chãi. Cần dùng dùi sắt để gõ rút khoan và đề phòng hẫng người nguy hiểm.

5.6.5. Đinh cần đóng vững rồi mới buông tay giữ đinh để đóng mạnh búa và đầu đinh – đề phòng trượt búa văng đinh nguy hiểm.

5.6.6. Đinh nhổ ra cần đựng vào hòm, sọt. Đầu đinh đóng thò ra, cần đánh quặt lại. Các gỗ ván tháo ra nếu có đinh cần nhổ hết đinh hoặc đánh quặt lại, hoặc xếp gọn vào khu vực riêng và rào chắn cẩn thận.

5.6.7. Khi xẻ gỗ cần bố trí tránh chiều gió, hoặc đeo kính, đeo khẩu trang phòng hộ.

Nếu gia công gỗ phòng mục cần sử dụng đầy đủ dụng cụ phòng hộ được cấp và làm theo sự hướng dẫn của cán bộ chỉ đạo trực tiếp.



5.7. Cạo gỉ và sơn các kết cấu kim loại

5.7.1. Mọi công tác về sơn và thiết bị sơn cần tuân theo yêu cầu an toàn của TCVN 2292-78.

5.7.2. Cần đeo kính phòng hộ, khẩu trang khi cạo gỉ những kết cấu kim loại trong những trường hợp sau đây:

a) Cạo gỉ bằng chổi điện

b) Cạo gỉ tại các nơi ngược chiều gió, cạo bằng tay

c) Cạo gỉ ngửa mặt

d) Cạo gỉ bằng vòi phun cát

Các kết cấu trước kia dùng sơn pha chì thì khi cạo gỉ cần mặt quần áo loại không có bụi lọt qua.



5.7.3. Những cán chổi, cán bàn chải để cạo gỉ cần đóng chặt, nhẵn thẳng không lờm sờm.

5.7.4. Cạo gỉ bằng chổi điện cần được trang bị giầy và găng tay cao su cách điện.

5.7.5. Vỏ của chổi điện cần được nối đất ở đoạn 1/4 dây dẫn.

5.7.6. Không làm việc bằng chổi điện mà có tiếp xúc ra ngoài vỏ (mặc dù đã có nối đất ở 1/4 dây dẫn).

5.7.7. Khi chuyển chổi điện từ chỗ này tới chỗ khác cần tắt động cơ.

5.7.8. Dùng máy phun cát để làm sạch gỉ hoặc sơn cũ cần thử áp lực phun và chỉ đưa vào sử dụng khi có sự kiểm tra và nghiệm thu của cơ quan giám sát an toàn.

5.7.9. Không sử dụng máy phun cát khi áp kế và van bảo hiểm không tốt.

5.7.10. Công nhân làm việc với máy phun cát cần được trang bị quần áo phòng hộ, mũ sắt và kính bảo vệ mắt, mũ sắt cần chịu được áp lực đến 0,25 MPa.

5.7.11. Chỉ cho phép dùng máy phun cát với loại cát đã sàng, khô và có nhiều hạt to theo quy định và quy trình thi công.

5.7.12. Không những người không có nhiệm vụ vào trong khu vực làm việc của máy phun cát với bán kính 10 m tính từ vị trí đang cạo gỉ.

5.7.13. Những người làm việc ở máy phun cát được cấp va-dơ-lin để xoa tay và mặt.

5.7.14. Áp lực ở máy phun cát không được lớn hơn 4 MPa.

5.7.15. Không dùng bột chì, khoáng chì và ben-den pha vào sơn.

5.7.16. Những thiết bị chạy bằng hơi để sơn kết cấu (máy phun, máy tăng áp, máy hơi ép) trước khi bắt đầu làm việc cần thử áp lực và lập thành biên bản.

5.7.17. Khi áp dụng cơ giới hóa để sơn thì trước khi sơn cần kiểm tra máy, dây cao su, các mối nối dây cao su với máy hơi ép, máy tăng áp, máy phun và máy lọc khí.

5.7.18. Không gõ, đập vào các thùng, bể chứa mà trong đó chứa khí nén, khi máy đang làm việc.

5.7.19. Cơ giới hóa công tác sơn kết cấu kim loại bằng những hợp chất có chứa các dung dịch hoặc sắc tố độc hại thì chỉ được phép tiến hành trong điều kiện có những trang bị phòng hộ riêng.

5.7.20. Trong phòng kín mà sơn kết cấu kim loại cần đảm bảo thay đổi không khí hai lần trong 1 h.

5.7.21. Ống dẫn cao su cần được bảo vệ, tránh va đập, không để lên ống bất cứ vật gì, tránh để vào nơi xăng dầu và không được để ống bị gấp khúc hay bị xoắn.

5.7.22. Chỉ nối hoặc tháo các đoạn ống ra khỏi bầu chứa khí nén khi máy ngừng cung cấp hơi.

5.7.23. Khi sơn thủ công, không đặt thùng chứa sơn lên trên những bộ phận quét sơn. Khi không có giàn dáo thì cần có móc treo thùng sơn chắc chắn.

5.7.24. Việc đổ, nghiền và rây sơn bột cần tiến hành trong những căn phòng có thiết bị tránh bụi.

5.7.25. Nồi nấu dầu gai để pha sơn cần đặt trên lò xây bằng gạch hay đá. Không chứa dầu gai quá 3/4 dung tích của nồi nấu. Không để nước nhỏ vào nồi khi đang nấu dầu gai, lò và lỗ thông hơi cần có nắp đậy kín – đề phòng nổ bắn sơn gây ra bỏng.

5.7.26. Không nấu dung dịch sơn đến nhiệt độ sôi. Việc đưa thêm những dung dịch đỡ bốc hơi khác nhau vào hỗn hợp đang nấu chảy (sáp và các vật liệu tương tự khác) chỉ được phép khi nhiệt độ của nó ở dưới điểm sôi, khi lò và lỗ thông hơi đã đậy kín và khi không có vết nứt ở mối hàn của nồi hơi.

5.7.27. Cần tuân thủ các quy định về phòng cháy và chữa cháy theo quy định hiện hành.

5.7.28. Những giẻ lau, giẻ rách sau khi sử dụng cần bỏ vào thùng sắt và giặt sạch sau mỗi ca làm việc.

5.7.29. Những dung dịch, dầu gai và sơn dễ cháy cần được bảo quản trong những kho riêng có đầy đủ những dụng cụ chữa cháy theo quy định.

5.7.30. Tại các kho bảo quản sơn và các dung dịch pha chế sơn, chỗ pha chế sơn tuyệt đối không hút thuốc và dùng lửa.

5.7.31. Khi sử dụng bột nhôm, tùy thuộc vào tính chất của nó thuộc loại nhiên liệu hay vật liệu dễ nổ mà cần theo dõi và bảo quản cẩn thận.

Để tránh trường hợp bột nhôm tự bốc cháy cần bảo quản ở trong phòng khô ráo, đựng vào những chiếc thùng kín, không cho chúng tiếp xúc với hơi ẩm. Cần thường xuyên lau chùi những vật dụng ở xung quanh có bột nhôm bám vào.

Để dập tắt bột nhôm bốc cháy, chỉ được phép dùng cát khô và trong bất cứ trường hợp nào cũng không được dùng nước hoặc phương tiện có nước.

Những công nhân pha chế sơn cần được chỉ dẫn riêng về trình tự chuyển vận bột nhôm.



5.8. Công tác bê tông, nề, xây đá, nhựa đường

5.8.1. Khi nấu nhựa đường cần phòng nổ khi trong nhựa có nước. Cần đề phòng cháy sau giờ làm việc, phòng hơi độc nên nấu nhựa đường ở nơi cuối gió và mang đầy đủ dụng cụ phòng hộ theo quy định.

5.8.2. Xây đá khan cần đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, đề phòng sụt đổ bất ngờ gây tai nạn.

5.8.3. Trộn đổ bê tông cần theo đúng trình tự, trật tự để đề phòng cán xẻng va đập vào người, lưỡi xẻng đâm vào chân nhau.

5.8.4. Trộn, đổ bê tông cần mang đầy đủ trang bị dụng cụ phòng hộ đề phòng nước bê tông ăn mòn tay, chân.

5.9. Công tác lặn, phục vụ lặn

5.9.1. Mọi công tác lặn và phục vụ lặn cần tuân theo yêu cầu an toàn của TCVN 5585 : 1991.

5.9.2. Thợ lặn chỉ được nhận nhiệm vụ khi thấy sức khỏe bình thường và cần được kiểm tra sức khỏe chu đáo trước khi giao việc.

Không động viên thợ lặn làm thêm giờ, làm việc khi sức khỏe không bình thường.

Trước khi lặn, người phụ trách cần phổ biến đầy đủ cho thợ lặn. Người phục vụ lặn nắm được độ sâu cần lặn, tốc độ nước chảy và sơ đồ nơi lặn để chuẩn bị điều kiện và biện pháp làm việc an toàn.

5.9.3. Không để bộ phận khác làm việc bên trên nơi có người đang lặn.

5.9.4. Những thiết bị phục vụ lặn như điện thoại, ống dẫn hơi, dây hơi, nếu không có người biết việc thay thế thì không được rời vị trí công tác khi thợ lặn đã xuống nước. Nếu lặn nơi nước không sâu, không nguy hiểm mà hỏng máy điện thoại thì có thể dùng dây hiệu để liên lạc.

5.9.5. Tuyệt đối không:

a) Nổ mìn dưới nước, có dòng điện ngâm trong nước khi có người đang lặn.

b) Trục vớt các vật nặng gần chỗ có người đang lặn.

c) Vứt ném dụng cụ, vật liệu cho công nhân đang lặn (cần đưa tận tay hoặc dùng dây hiệu).



5.9.6. Thợ lặn muốn cắt một vật ở dưới nước cần có biện pháp neo giữ hoặc chằng chống đề phòng khi cắt đứt vật sập đè vào người, hoặc bật văng mạnh vào người.

5.9.7. Quá trình lặn, thợ lặn cần đảm bảo thời gian lên xuống theo quy định; luôn chú ý bảo vệ thiết bị lặn. Trường hợp mặt kính bị vỡ, áo lặn bị rách cần bình tĩnh lấy tay bịt lại và báo ngay cho điện thoại viên hoặc dây hiệu viên biết.

Mọi người cần tìm cách đưa thợ lặn lên khỏi mặt nước, mau chóng mở mũ chụp đầu cho thợ lặn.



5.9.8. Nếu lặn ở những nơi sâu và nguy hiểm cần có thợ lặn có nhiều kinh nghiệm với đầy đủ thiết bị lặn, cán bộ y tế và thiết bị y tế thường trực để cấp cứu khi cần thiết.

6. An toàn sử dụng các công cụ, máy treo trục đơn giản, máy công cụ đơn giản

6.1. Quy định chung

6.1.1. Các công cụ chủ yếu dùng trong thi công cầu đề cập trong đề mục này bao gồm các loại công cụ đơn giản như tời, múp, cáp, palăng, giá trục, hố thế, kích, biến thế hàn điện, bình sinh khí axetylen và các phụ kiện kèm theo công cụ đó (ngoài phạm vi quy định của quy phạm kỹ thuật an toàn về máy trục của Nhà nước).

6.1.2. Các máy công cụ dùng trong thi công cầu đề cập trong mục này bao gồm các máy xây dựng như máy thi công bê tông,, máy sản xuất đá và các máy gia công sắt thép trên công địa phục vụ tại chỗ công tác chế tạo, lắp ráp dầm cầu và các công việc về gia công cốt thép.

6.1.3. Các công cụ, máy công cụ, hố thế trước khi đem dùng cần được kiểm nghiệm về chất lượng, nếu cần thiết cần thử tải, cần thường xuyên duy tu bảo dưỡng theo chế độ và không sử dụng quá tải hoặc không đúng công dụng quy định.

6.1.4. Nơi đặt máy cần bằng phẳng, ổn định, không lún khi máy vận hành. Các loại máy có bánh xe hoặc không có, trước khi cho máy hoạt động đều cần kê chèn chắc chắn tại các điểm đã quy định trên giá đế máy.

6.1.5. Nếu bố trí máy làm việc trên cao thì giàn dáo cần được thiết kế đủ sức chịu trọng tải, sức rung chuyển của máy khi hoạt động và các vật liệu cần thiết khác.

Giàn dáo cần lát kín, đủ rộng để đảm bảo thao tác bình thường. Đường lên xuống và xung quanh giàn dáo cần có lan can cao 0,80 m.

Khi không có quy định trong thiết kế, không hàn vào kết cấu thép của công trình đang phục vụ chạy tàu.

6.1.6. Dây điện nối vào máy cần là loại dây có bọc lớp cách điện an toàn. Cầu dao cần có hộp bao che ngăn tia lửa điện và cách điện. Vỏ máy cần được tiếp đất hợp cách.

6.2. Các loại tời

6.2.1. Cối cuốn, mã phù, tời các loại trước khi sử dụng cần xác định rõ lực kéo an toàn do Nhà sản xuất cung cấp. Trường hợp không biết rõ thì cần xác định qua tính toán và thử nghiệm mới được dùng.

6.2.2. Trước khi sử dụng cần kiểm tra kỹ các bộ phận truyền lực và các ốc, vít hãm, tay quay, chốt an toàn có hoạt động bình thường mới được dùng.

Kết quả kiểm tra cần được ghi vào biên bản hoặc nhật ký của thiết bị rõ ràng. Một bộ phận hỏng hóc đều cần sửa chữa tốt mới được sử dụng.

6.2.3. Tránh tháo lắp nhiều lần. Trường hợp cần tháo lắp để di chuyển, bảo quản cần dùng búa gỗ đóng nhẹ nhàng, tránh làm cong, vênh trục, suốt, má tời tránh làm xây sát các vòng bạc. Tránh quăng vứt mạnh gây tổn thương đến các bộ phận của tời.

6.2.4. Việc cố định tời theo điều kiện cụ thể từng nơi: hoặc dùng bu lông bắt cố định vào nền vững chắc, hoặc dùng hố thế để neo giữ, hoặc khóa chặt vào các cột, công trình có sẵn nhưng cần tính toán để quyết định số bu-lông hoặc kích thước hố thế.

6.2.5. Dây cáp đi vào trục tời cần luồn từ dưới lên trên để giảm mô men lật đổ. Số vòng cuốn vào trục cần qua tính toán để quyết định nhưng tối thiểu không được ít hơn 5 vòng.

Cáp luôn được kiểm tra và bảo dưỡng bằng dầu nhớt hoặc mỡ công nghiệp. Khi tời làm việc không được để cáp quấn chồng lên nhau.

6.2.6. Đối với tời điện khi lắp ráp xong cần kiểm tra sự hoạt động bằng cách cho chạy thử trong cả hai trường hợp không tải và có tải kiểm tra các bộ phận điện xem có bị hở điện không, đồng thời cần tôn trọng quy trình an toàn về sử dụng điện.

6.2.7. Khi kiểm tra bánh răng truyền lực cần căn cứ vào tiêu chuẩn hao mòn cho phép của các thiết bị bánh răng để đánh giá chất lượng và quyết định tải trọng cho phép, kéo trục an toàn.

6.2.8. Khi quy định tải trọng để xác định tời cần xét tới tình hình thực tế của tời và cách bố trí múp và pu-li chuyển hướng để có những hệ số tổn thất do ma sát, cần dựa vào đó để quyết định số tời tham gia kéo trục đảm bảo an toàn kỹ thuật, an toàn lao động.

6.2.9. Khi quay tời cần có sự chỉ huy thống nhất, đúng chiều, dùng sức đều đặn để đảm bảo tốc độ an toàn, luôn luôn đề phòng tay quay bị tụt và cóc hãm bị tuột răng.

6.2.10. Khi kéo vật nặng lên nếu giữa chừng cần ngừng lại để kiểm tra thì nhất thiết cần hãm cóc và răng – đồng thời vẫn giữ chắc tay quay ở tư thế sẵn sàng quay tời. Nếu ngừng trong khoảng thời gian quá dài thì ngoài việc hãm bằng cóc hãm, bắt chặt tay hãm còn cần cuộn dây phía sau vào cọc thế tốt, hoặc cuộn qua tời chắc chắn. Nếu cần còn cần dùng thêm dây xích tốt bảo hiểm phía trước của dây cáp chịu lực.

Đối với tời điện trước khi nâng hạ vật nặng (đặc biệt là dầm cầu) cần kiểm tra phanh hãm của tời thật cẩn thận, kỹ lưỡng hoặc có người trực tại vị trí này khi nâng hạ nếu có sự cố phanh của tời để còn kịp xử lý.

6.2.11. Khi sang dây cần làm theo trình tự sau đây:

a) Dùng 1 sợi xích neo đủ dài (căn cứ vào thực tế và chiều dài đoạn nối chồng) cố định một đầu vào hố thế, đầu kia đưa luồn qua dưới tời ra phía dây kéo (dây đang chịu lực).

b) Dùng đầu xích vừa luồn sang néo giữ dây cáp kéo (dây đang chịu lực) bằng nút nối chồng, khi ấy cần ngừng quay tời, buộc xong cần kiểm tra chắc chắn.

c) Quay ngược tời lại từ từ cho xích chịu lực dần đến khi nào xích chịu hoàn toàn lực kéo mới thôi.

d) Chuyển vòng dây cáp từ đầu này của trục cuốn cáp sang đầu kia của trục cuốn cáp.

e) Quay thuận tay từ từ cho cáp chịu lực dần, tới lúc xích không chịu lực nữa, tháo xích neo ra rồi tiếp tục làm việc.

Không cho cáp cuộn nhiều lớp trên mặt trục tời (trừ trường hợp tời là thiết bị của cần trục).

6.2.12. Khi hạ vật nặng cần dùng biện pháp quay ngược chiều lại từ từ để hạ xuống dần và cần cử người chuyên môn quản lý cóc hãm, không được xông dây một cách vội vàng có thể gây tai nạn.

6.2.13. Khi cố định đầu dây cáp trên trục tời cần đảm bảo cố định chắc chắn. Khi xông dây hạ vật nặng cần đảm bảo số vòng còn lại trên trục ít nhất 5 vòng. Nếu dây dài quá không cần cuốn cả vào trục tời mà chỉ cuốn đủ 5 vòng hoặc hơn (nếu cần) rồi kép đầu dây ra phía sau rồi cử người ra giữ dây.

Lực kéo đầu dây phía sau, số vòng cuốn qua trục và lực kéo phía trước có liên quan với nhau (bảng 1).



Bảng 1 – Tỷ số lực kéo chủ đầu phía trước và lực kéo phía sau

Số vòng dây cuộn qua trục

1

2

3

4

5

6

Ghi chú

Hệ số tỷ lệ

2,5

6,5

17

43

111

284




6.2.14. Cối cuốn, tời, nếu không có thiết bị hãm mà cần thiết cần sử dụng để kéo vật nặng thì cần được cán bộ phụ trách thi công đồng ý và dây đuôi được truyền qua cuốn vào cọc thế tiếp có người giữ.

6.2.15. Pu-li chuyển hướng cần đặt cách tời ít nhất 11 m, và góc giữa dây cáp khi sang hết dây với đường trung trực của trục tời không quá 28 độ.

6.2.16. Cần tính toán lực kéo phía sau tời. Có thể tham khảo bảng 1 trên đây. Dùng số liệu trong bảng trên cần thử lại trước khi quyết định chính thức và còn phụ thuộc vào đường kính trục tời cuốn cáp (nhất là trong việc lao cầu).

6.2.17. Tư thế đứng quay tời cần chú ý đề phòng tay quay đánh vào người. Cần bố trí cao độ sàn đứng hợp với từng loại tời sao cho người thao tác thật thoải mái, tránh cần cúi hoặc với quá mức.

6.2.18. Khi quay tời, áo quần, tóc cần gọn gàng và chú ý không được chạm tay hoặc để tay vào các bộ phận chuyển động đề phòng các bộ phận này cuốn tay hoặc cuốn áo quần.

6.3. Pu-li và múp

6.3.1. Đường kính pu-li dùng cho cán thép tối thiểu bằng 16 đến 18 lần đường kính của cáp khi dùng trong các máy quay tay, bằng 18 đến 20 lần khi dùng trong các máy điều khiển bằng động cơ. Khi dùng pu-li gỗ không được dùng nhỏ quá 10 lần đường kính cáp gai.

6.3.2. Trước khi sử dụng cần kiểm tra các bộ phận như rãnh bánh xe, trục bánh xe, móc treo của pu-li xem có bị nứt rạn không, các bộ phận quay xem có trơn tru không và cần điều tra rõ lực tải trọng cho phép của nó.

6.3.3. Sau khi lồng xong pu-li cần cho chịu lực từ từ đợi khi dây tời đã rút căng cả hệ thống dây thì kiểm tra các bộ phận xem có tốt không, có chỗ nào bị mắc dây hoặc kẹt không. Nếu có thì sửa lại rồi mới kéo tiếp.

6.3.4. Trọng tâm móc treo pu-li và trọng tâm vật cần cùng một đường thẳng để tránh sau khi treo vật khỏi xảy ra hiện tượng nghiêng lệch và quay, vẹo, xoắn cáp.

6.3.5. Trục bánh xe pu-li cần thường xuyên giữ sạch khi làm việc cần thường xuyên cho dầu mỡ để vừa dễ quay, vừa khỏi gỉ.

6.3.6. Đường kính của bánh xe pu-li, tăm-bua dùng cho dây xích tối thiểu bằng 20 lần đường kính thép tròn để làm khuyên xích để dùng trong các tời quay tay, bằng 30 lần khi dùng trong các máy quay tự động.

6.3.7. Pu-li cần có bộ phận chắn dây cáp (má pu-li) không cho trật ra ngoài khi chuyển động. Không dùng những pu-li mà rãnh bị nứt vỡ hoặc gờ rãnh đã mòn mất 3 %.

6.3.8. Trong các máy trục tời có thể cuốn nhiều lớp trên tăm-bua. Khi cuốn nhiều lớp xích hoặc cáp trên tăm-bua nhẵn cần chắc chắn và có dây cáp bảo hiểm. Dây cáp hoặc xích chạy giữa rãnh bánh xe pu-li trong cả hệ thống múp không được xoắn.

6.4. Móc treo, ma-ni

6.4.1. Móc treo, ma-ni cần tuân thủ điều 6.3.4; cần có nhãn hiệu của Nhà sàn xuất và chứng từ về năng lực tải trọng, nếu không cần qua thử nghiệm. Khi thử nghiệm cần treo thử một trọng lượng lớn hơn trọng lượng cho phép 25% trong 10 min. Sau khi kiểm tra móc treo, ma-ni xem có vết nứt và biến dạng hư không. Mặt ngoài móc treo, ma-ni cần nhẵn bóng, không được có các gờ xờm, bong tróc, vết khắc, góc nhọn, nếp nhăn, vết nứt và vết cắt gọt, gia công.

6.4.2. Mỗi năm ít nhất cần kiểm tra ma-ni một lần, khi phát hiện có vết nứt rạn nhỏ, bu-lông có vết cắt sâu của dao thì cần đình chỉ việc sử dụng.

6.4.3. Trên mặt cắt nguy hiểm của móc treo nếu chiều cao bị mài mòn quá 10% cần kiểm toán lại. Khi đã được xác định mới được sử dụng.



6.5. Dây cáp, dây xích

6.5.1. Dây cáp gai (thảo mộc)

6.5.1.1. Dây cáp gai và các loại dây thảo mộc chỉ được dùng để buộc, để kéo tải trọng ở trên mặt bằng ngang, những bộ phận chuyển động bằng tay.

Không dùng dây cáp gai trong các máy tự động.

6.5.1.2. Hệ số an toàn của dây cáp gai là K ≥ 8. Nhưng dây cáp gai có tẩm dầu thì sức chịu tối đa cần giảm đi 20 %.

6.5.1.3. Đường kính trục cuốn hoặc pu-li dùng cho dây cáp gai cần tuân thủ điều 6.3.1 của Tiêu chuẩn. Không được dùng dây cáp gai hoặc các dây thảo mộc khác trong các trục cuốn hoặc pu-li bằng sắt thép.

Không được dùng dây cáp gai hoặc các dây thảo mộc khác trong các công việc chủ yếu, quan trọng của công tác lắp ráp, lao hạ kích, sàng dầm cầu.

6.5.1.4. Khi tháo dây cáp gai từ cuốn nguyên ra cần đặt nằm cuốn dây, đầu phía ngoài để sát đất và kéo đầu dây phía trong cuộn ra để tránh rối dây.

6.5.1.5. Cuộn dây cáp gai cần để ở nơi thoáng gió, khô ráo, cuộn dây cần lỏng và treo trên giá gỗ hay đinh gỗ.

6.5.1.6. Sau khi sử dụng nếu dây thảo mộc bị dính đất cát hay có vật bẩn khác bám vào cần dùng nước sạch rửa sạch, phơi khô mới được cất đi.

6.5.1.7. Nếu phát hiện dây thảo mộc có những vòng xoắn liên tục cần gỡ kéo thẳng ra để tránh tổn thương tới cấu tạo của dây khi chịu kéo.

6.5.1.8. Sau khi dùng dây cáp gai buộc nút, cường độ sẽ giảm đi 50%, tốt nhất nên cắt bỏ đoạn buộc nút và nối lại bằng cách nối bện. Dây cáp gai bị hỏng từng phần do nguyên nhân khác cũng cần cắt bỏ phần hỏng đi và nối bằng cách nối bện.

6.5.1.9. Khi dây cáp gai có chỗ nối, không được dùng luồn qua pu-li. Dùng cáp gai luồn qua pu-li cần định kỳ tháo xuống để đổi hướng luồn cho dây mòn đều.

6.5.1.10. Dây cáp gai không được đặt trên các dây chế tạo thô, các vật sắc nhọn, kéo lê trên đất, các vật nhám khác. Những mặt tiếp xúc với dây cần tránh bị sây sát.

6.5.2. Dây xích

6.5.2.1. Đối với xích là thành phần của thiết bị sẽ theo các tiêu chuẩn của thiết bị đó. Trong công tác lao cầu thường dùng loại xích khuyên hàn để khóa cáp, neo và chằng buộc.

Khi chọn xích cần đảm bảo chịu được gấp 3 lần tải trọng sử dụng tối đa.

Khi chọn xích cần đảm bảo hệ số an toàn quy định tại Bảng 2.

6.5.2.2. Không dùng xích có các khuyên bị rạn nứt và đã mòn mất 10% diện tích mặt cắt vòng khuyên. Trường hợp có những khuyên bị phạm tiêu chuẩn cần tháo bỏ và thay khuyên mới vào (loại khuyên hàn) và các khuyên nối đặc biệt. Sau khi thay đổi cần thử lại sức chịu của xích như quy định tại điều 5.5.11.

6.5.2.3. Cần thường xuyên kiểm tra xích theo các tiêu chuẩn của điều 5.5.12 và lau dầu thường xuyên. Không được để xích ngoài mưa nắng khi tạm thời chưa dùng.

6.5.2.4. Đường kính bánh răng và trục cuốn xích nhỏ nhất cần bằng 20 lần đường kính thép tròn làm khuyên xích trường hợp dùng trong các máy tự động.

6.5.2.5. Khi bắt xích vào tăm-bua cần sử dụng các mắt xích đặc biệt ở cuối do nhà máy chế tạo làm ra. Độ mòn của xích không được quá 10% đường kính ban đầu của thép tròn làm khuyên xích.

6.5.2.6. Xích sắt cần có đủ độ dài để đảm bảo khi máy làm việc ở độ cao và xa nhất, số vòng còn lại trên tăm-bua cũng không được ít hơn 3 vòng.

6.5.2.7. Hệ số an toàn của xích không được nhỏ hơn trị số ghi trong bảng sau đây:


1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương