TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 8774 : 2012



tải về 0.56 Mb.
trang3/7
Chuyển đổi dữ liệu13.08.2016
Kích0.56 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

Bảng 2 – Hệ số an toàn K của xích

Công dụng xích

Hệ an toàn K

Chuyển động bằng tay

Chuyển động bằng máy

- Xích treo tải trọng làm việc trên pu-li nhẵn

3

6

- Xích treo tải trọng làm việc trên bánh xe có răng khía

3

8

- Xích dùng để buộc

6

6

6.5.3. Dây cáp thép:

6.5.3.1. cần sử dụng đúng loại và quy cách của cáp như quy định trong thiết kế thi công.

6.5.3.2. Khi tháo gỡ dây cáp ở cuộn ra cần làm cẩn thận sao cho dây được gỡ ra cần nguyên dạng, nghĩa là không có hiện tượng xoắn cáp theo chiều thuận hay chiều nghịch.

6.5.3.3. Đầu dây cáp cần bó bằng dây thép nhỏ hoặc hàn lại bằng hợp kim dễ nóng chảy, cũng có thể dùng đai sắt đai chặt lại để tránh đầu dây bị bung ra.

5.5.3.4. Trước khi cất dây cáp vào kho đều cần cọ rửa cho dầu một lần. Trong kho cần xếp từng cuộn không xếp chồng cuộn nọ lên cuộn kia. Trường hợp cáp dài cần cuộn vào trục gỗ (hoặc nhựa).

5.5.3.5. Đường kính trục cuốn cáp ít nhất bằng 20 lần đường kính cáp, gờ trục gỗ cần cao hơn lớp ngoài cùng tối thiểu 50 mm. Chiều cuốn cần ngược chiều với chiều bện dây cáp. Trên trục cuốn cần đóng một bảng để ghi đường kính, chiều dài, tình hình chất lượng (số sợi đứt, gỉ, xấu, tốt, ngày bắt đầu sử dụng).

5.5.3.6. Khi cần cắt đứt dây cáp (chỉ khi được phép của thủ trưởng đơn vị xây lắp) thì ở hai phía cách chỗ cắt 1,5 d (d là đường kính dây cáp) cần dùng dây thép nhỏ cuốn lại 1 đốt. Cách chỗ cắt khoảng 1,5 m đến 2 m lại cuốn 1 đốt giữa dây. Mỗi đốt dài khoảng 6 lần đường kính dây cáp theo bảng dưới đây:

Bảng 3 – Đường kính dây thép dùng cuốn các đốt giữ dây cáp

Đường kính dây cáp mm

Nhỏ hơn 7

7-18

19-27

Lớn hơn 28

Đường kính dây thép mm

0,56

1,22

2,03

2,64

Số hiệu dây thép

24#

16#

14#

12#

6.5.3.7. Không ném dây cáp (tung lên hay vứt xuống) dù chênh lệch độ cao nhỏ.

6.5.3.8. Khi sử dụng nếu phát hiện mặt ngoài dây cáp có giọt dầu chảy ra cần dừng lại kiểm tra lại cẩn thận mới tiếp tục sử dụng. Nếu dầu vẫn chảy ra cần dừng hẳn.

6.5.3.9. Khi dây cáp chạy cũng như khi di chuyển dây cáp không được để ma sát với vật khác, đặc biệt là ma sát với kim loại. Các trường hợp va chạm ma sát đều cần đỡ bằng các bánh xe (kể cả khi chạm đất).

6.5.3.10. Đường kính tăm-bua, pu-li để luồn cáp cần tuân thủ điều 6.3.1 của Tiêu chuẩn (nói chung càng chênh lệch lớn càng tốt).

6.5.3.11. Trong mọi trường hợp cần chú ý tránh quay ngược pu-li để kéo thời gian sử dụng cáp an toàn (trừ trường hợp máy có thiết bị quay ngược trong khi vận chuyển).

6.5.3.12. Khi trục cuốn dây cáp chạy, tốc độ cần tăng hoặc giảm từ từ tránh cho chịu lực đột ngột. Cũng có biện pháp tránh cho cáp chịu quá tải.

6.5.3.13. Dây cáp cuốn trên trục cuốn cũng tuân thủ điều 6.2.11 (gần cuối điểm e) từng vòng cần sát nhau không có khe hở.

6.5.3.14. Nối đầu dây cáp với móc treo, ma-ni không được dùng cách buộc nút mà cần đan hay dùng các loại phụ kiện tương ứng như máng cáp, cóc cáp.

6.5.3.15. Trước khi đem cáp sử dụng cần kiểm tra cẩn thận theo các nội dung sau đây:

a) Dùng thước Pan-me kiểm tra đường kính dây cáp cách 50 m đo một chỗ.

b) Chiều dài dây cáp.

c) Số sợi đứt và chỗ đứt.

d) Mức độ vị trí gỉ và mòn hỏng.

e) Tình hình biến dạng.

g) Đối với các công việc quan trọng cần dùng lực lớn hơn bằng 2 lần lực dùng thực tế để kéo thử cáp trong 15 min.

6.5.3.16. Dây cáp sử dụng cứ 4 tháng lau dầu 1 lần. Không được dùng dầu có tính axit để lau. Dầu có thể được chế tạo bằng dầu gai (lanh), dầu khoáng chất hay dầu thảo mộc. Thường điều chế như sau:

Công thức 1: mỡ bò 90% + hắc ín 10%

Công thức 2: - Nhựa đường 68%

- Hắc ín 10%

- Nhựa thông 10%

- Mỡ bò 7%

- Graphite 3%

- Dầu khoáng 2%

6.5.3.17. Trước khi lau dầu cáp cần ngâm dây cáp vào ma-dút, rửa sạch cặn dầu cũ và dùng bàn chải sắt chải hết gỉ sắt sau đó ngâm vào dầu đã đun nóng khoảng 12 h, xong lau hết dầu thừa đi.

6.5.3.18. Đối với các dây cáp đã sử dụng cần có kiểm tra thường xuyên đánh giá chất lượng, quy định phạm vi sử dụng cáp và quyết định hủy bỏ các dây cáp đã hư hỏng quá tiêu chí.

Tiêu chí hủy bỏ dây cáp theo bảng 4.

a) Nếu trong dây cáp có một tao đứt gãy thì cần hủy bỏ ngay dây cáp đó.

b) Khi mặt ngoài có hiện tượng mài mòn hoặc ăn mòn thì tiêu chuẩn hủy bỏ dây cáp cần hạ thấp theo trị số ghi ở bảng 5:



Bảng 4 – Tiêu chí hủy bỏ dây cáp

Hệ số an toàn sử dụng cáp (đường kính pu-li cần đúng quy định)

6x19=1141

ruột hữu cơ

6x37=2221

ruột hữu cơ

6x61=3661

ruột hữu cơ

18x22=3421

ruột hữu cơ

Ghi chú

Bên thuận

Bên ngược

Bên thuận

Bên ngược

Bên thuận

Bên ngược

Bên thuận

Bên ngược

a) Số sợi đứt nhiều nhất là số sợi đứt trong 1 bước bện.

Một bước bện được 1 vòng quanh dây cáp thường bằng 8 lần đường kính cáp.

b) Khi trong cáp cấu tạo 2 loại sợi to nhỏ khác nhau thì đối với sợi nhỏ tính là 1 sợi, sợi to là 1,7 sợi.


4

6

12

22

11

18

36

18

36

6-7

7

14

26

13

19

38

19

38

7

8

16

30

15

20

40

20

40

Bảng 5 – Mức độ hạ thấp tiêu chí hủy bỏ dây cáp

Mức độ ăn mòn hay mài mòn mặt ngoài sợi thép tính theo đường kính sợi thép

Số sợi đứt trong một bước bện cần dựa vào bảng 4 nhân với hệ số giảm sau

10%

85%

15

75

20

70

25

60

30

50

40

Hủy bỏ

Ghi chú: Cần kiểm tra tất cả các sợi mài mòn trước khi đo cần lau sạch bẩn và gỉ

6.5.3.19. Trường hợp phát hiện sợi dây cáp có số sợi thép đứt tăng rất nhanh cần hủy bỏ ngay không căn cứ vào các yêu cầu của bảng 4 và bảng 5.

5.5.3.20. Phân loại và quy định phạm vi sử dụng theo quy định của bảng 6 sau đây:



Bảng 6 – Mức độ dùng được và phạm vi sử dụng dây cáp

Hiện tượng mặt ngoài dây cáp (1)

Mức độ dùng được và phạm vi dùng được (2)

Vị trí của các tao không xê dịch, sây xát nhẹ và không có hiện tượng tao nào bị lồi nhô lên

100%, dùng nơi quan trọng (cầu treo, lao cầu)

1) Các tao đã có chỗ xê dịch vị trí, bị ép dẹt và phình ra nhưng chưa bị lòi ruột

2) Một vài chỗ có vết gỉ nhẹ

3) Một vài sợi thép trên mặt ngoài dây cáp có hiện tượng gai nhọn, trong mỗi m dài của cáp không quá 3% tổng số sợi có gai nhọn


70%, dùng các nơi quan trọng vừa

1) Có tao lồi nhọn lên không gây nguy hiểm lắm, dây ruột chưa lòi ra ngoài

2) Một vài chỗ có vết gỉ rõ rệt

3) ) Một vài sợi thép trên mặt ngoài dây cáp có hiện tượng gai nhọn, nhưng số sợi gai nhọn không quá 10% tống số sợi thép trong 1 m cáp.


50%, dùng nơi không quan trọng

1) Tao sợi có công vẹo rõ rệt, tao và sợi thép có xê dịch vị trí cục bộ, có hiện tượng lồi nhọn rõ rệt

2) Dây cáp gỉ toàn bộ bề ngoài, sau khi cạo hết gỉ có để lại vết lõm

3) Một vài sợi thép trên mặt ngoài dây có hiện tượng gai nhọn nhưng trên 1 m không quá 35% tổng số sợi bị hiện tượng gai


40%, dùng trong công việc phụ trợ

6.5.3.21. Việc nối cáp, đan cáp, đệm cáp, cố định đầu dây cáp cần tuân thủ điều 6.5.31 của Tiêu chuẩn, cần do công nhân có bậc thợ 3 (tương ứng với quy định của chế độ tiền lương) làm và do công nhân có bậc cao hơn, có kinh nghiệm hơn kiểm tra lại.

6.5.3.22. Nối cáp theo kiểu đan cần đảm bảo một đoạn tối thiểu 30 d. Nối kiểu bắt cóc cáp cần chú ý phần cong của bu-lông U cần tì vào đầu dây cố định siết bu lông cóc cần chặt đến khi cáp bị ép lún đi 1/3 là được. Khoảng cách các cóc cáp cần đảm bảo theo bảng 7 sau đây, nhưng tối thiểu không ít hơn 3 cái.

6.5.3.23. Trước và sau khi buộc cần kiểm tra như điều 6.5.31 của Tiêu chuẩn: khi tải trọng vừa nhớm khỏi điểm tựa, hoặc khi lao kéo dầm cầu bắt đầu di chuyển cần ngừng lại kiểm tra toàn diện dây buộc, nút buộc và các kết cấu chịu lực tham gia vào công việc đó.

Bảng 7 – Số lượng và khoảng cách cóc cáp


Đường kính dây cáp (mm)

Số cóc răng ngựa cần dùng

Số cóc kiểu bàn ép hoặc tay nắm cần dùng

Khoảng cách cọc cáp (mm)

Đường kính dây cáp (mm)

Số cóc răng ngựa cần dùng

Số cóc kiểu bàn ép hoặc tay nắm cần dùng

Khoảng cách cọc cáp (mm)

13

3

3

120

28

4

5

200

15

3

3

120

32

5

6

250

18

3

4

150

35

5

6

250

21

4

4

150

49

5

7

300

24

4

5

200

42

6

7

300

6.5.3.24. Hệ số an toàn K của dây cáp quy định như sau:

- trong thiết bị treo trục: K >= 5,

- dây thảo mộc: K = 8,

- khi dùng làm khuyết: K = 10,

- sử dụng trong thang máy, chở người: K = 14.

6.5.3.25. Dùng dây cáp trong các máy trục cần đảm bảo đủ độ dài để khi làm việc ở độ cao nhất, xa nhất vẫn còn lại ít nhất 5 vòng trên tăm-bua. Cần bảo vệ cho cáp không bị gỉ, bị mòn do cọ sát với những bộ phận cố định.

6.5.3.26. Bố trí góc độ của dây cáp khi cẩu trục có ảnh hưởng đến ứng suất phát sinh trong dây, bởi vậy khi cẩu trục vật nặng cần được kiểm toán để quyết định và tuân thủ điều 6.5.32 của Tiêu chuẩn.

Để tiết kiệm dây cáp khi có 2 dây treo thì góc hợp bởi 2 dây đó không nên lớn hơn 90 độ. Nếu có trên 2 dây thì góc hợp bởi giữa dây là phương thẳng đứng không nên lớn hơn 45 độ.



6.6. Pa-lăng xích

6.6.1. Trước khi sử dụng cần kiểm soát các mắt dây xích của pa-lăng theo các điều quy định về dây xích và dầu mỡ vào máy, kiểm soát dây đeo đồ vật xem có chịu được trọng tải của vật muốn trục lên không.

6.6.2. Khi trục vật lên cao cần kéo xích từ từ và không người qua lại hoặc ngồi làm việc dưới đường đi lại của pa-lăng; cần nhấc thử nếu đảm bảo rồi mới nâng vật lên cao.

6.6.3. Đề phòng trục bị quay, dao động mạnh gây tuột dây, đứt xích nguy hiểm.

6.6.4. Đưa vật đi lại hoặc đưa lên xe không nên nhấc vật lên cao quá và cần làm rất thận trọng.

6.6.5. Người điều khiển pa-lăng cần hết sức tập trung tư tưởng vào công việc. Nếu đang làm mà cần đi nơi khác cần hạ vật xuống mặt đất rồi mới được đi.

6.6.6. Khi tra dầu mỡ vào các bộ phận pa-lăng cần mang dụng cụ phòng hộ an toàn. Không trèo lên bám vào các bộ phận của pa-lăng khi tra dầu mỡ đề phòng trượt ngã nguy hiểm.

6.6.7. Sử dụng đúng tải trọng thiết kế của pa-lăng, trọng tải vật nâng cần thích hợp với công suất thiết kế của pa-lăng. Không quá tải đề phòng hư hỏng hoặc đứt xích. Những pa-lăng hư hỏng chưa sửa chữa kịp cần treo biển không sử dụng.

6.6.8. Tuân thủ các điều quy định có liên quan trong các mục: múp, pu-li, dây xích.

6.6.9. Cần thực hiện kiểm tra, kiểm định kỹ thuật an toàn pa-lăng xích định kỳ hoặc bất thường và về các đặc tính kỹ thuật của thiết bị như: năm sản xuất, trọng tải thiết kế, vận tốc nâng, vận tốc di chuyển pa-lăng.



6.7. Các loại kích nâng, kích đẩy

6.7.1. Quy định chung

6.7.1.1. Sử dụng kích cần đúng đặc tính kỹ thuật của từng loại kích. Trước khi sử dụng cần kiểm tra có đủ dầu mỡ không. Cần nắm vững tiêu chuẩn chịu đựng trọng tải của kích, không được dùng quá tải thiết kế của từng loại kích, Tuyệt đối không được dùng kích hư hỏng hoặc không đảm bảo độ nhậy.

6.7.1.2. Kiểm tra kích cần đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

a) Pít-tông lên xuống dễ dàng và bệ kích không được lỏng, vỡ hoặc rạn nứt.

b) Cần tháo rửa toàn bộ và kiểm tra toàn bộ về độ nhạy, cửa van, pit-tông, sự cần thiết cần lọc dầu kích.

6.7.1.3. Khi dùng kích cần kê thật bằng phẳng, vững chắc, bảo đảm an toàn khi kích và an toàn của nền đặt kích. Cần có biện pháp chống kích nghiêng đổ, sàng, lật trong quá trình kích hoạt động.

6.7.1.4. Trường hợp kích có lắp đồng hồ áp lực (ghép kích hoặc do các yêu cầu kỹ thuật cần lắp đồng hồ áp lực) thì trước khi kích cần kiểm tra đồng hồ áp lực, cần so sánh với đồng hồ áp lực mẫu và có văn bản xác minh chất lượng và chỉ dẫn đặt biệt (khi cần thiết) của cơ quan thí nghiệm.

6.7.2. Dùng kích nâng hạ dầm cầu

6.7.2.1. Dùng kích trong việc nâng, hạ, sàng dầm cầu cần qua thiết kế tính toán điểm đặt kích.

Tuyệt đối không:

a) Cùng 1 lúc kích hạ cả 2 đầu một dầm cầu.

b) Kích, hạ một đầu dầm cầu, một dầu dầm để chết trên đầu kích, hoặc kê trên đầu kích, hoặc kê trên kim loại.

c) Dùng các đệm gỗ quá xấu thuộc các nhóm 7 đến nhóm 8 làm gỗ kê đáy kích hoặc đệm trên mặt kích.

Nếu khi hạ, sàng dầm cầu mà có dùng từ 4 kích trở lên, một đầu dầm có từ 2 kích trở lên thì lúc kích lên hoặc hạ xuống cần chú ý đồng đều và có biện pháp chống sàng, xô, lật dầm nguy hiểm.

6.7.2.2. Chỉ tiến hành kích khi dầm đã được kiểm toán với một tải trọng tính bằng 1,3 lần lực kích thực tế. Cần có biện pháp thử nghiệm gối, điểm đặt và cự ly gối trước khi hạ dầm.

6.7.2.3. Cần có đế kê phòng hộ vững chắc gần tất cả các điểm kích. Điểm kê phòng hộ làm bằng tà vẹt và nêm. Trong khi dùng kích cần luôn luôn đảm bảo cự ly giữa nêm kê đáy dần (chỗ kê) không lớn hơn 3 cm. Cần có người chuyên chỉnh nêm. Cần có người chỉ huy quan sát ra hiệu lệnh thống nhất điều khiển lên xuống.

6.7.2.4. Dù trong quá trình kích có thuận lợi đến đâu, tốc độ nâng hạ kích cần từ từ, tránh xung kích cho dầm.

6.7.2.5. Nên dùng những lát gỗ mỏng chiều dày lớn hơn 1 cm để làm độn nêm giữa đầu kích và vật kích, không dùng thép làm độn nêm.

6.7.2.6. Khi đặt kích nên để phía tai kích, quay chếch sang phía ngoài nhịp dầm (thượng hay hạ lưu) và cần chú ý không làm vướng gây trở ngại cho việc phòng hộ và theo dõi kích.

6.7.2.7. Mỗi người làm việc ở mọi tư thế đều chú ý tới khả năng bị kẹp khi hạ dầm.

6.7.2.8. Khi kích không ghi rõ chiều cao nâng cho phép của pít-tông thì có thể nâng cao từ 2/3 chiều dài pít-tông. Trong mọi trường hợp đều cần thử kích với tải trọng lớn hơn tải trọng cho phép của kích 30%.

6.7.2.9. Tại một đầu dầm cần dùng cùng một loại kích, cùng một năng lực tải trọng, đối xứng qua tim dầm.

6.7.2.10. Để đảm bảo kích không cần đặt đi đặt lại nhiều lần cần đặt ướm thử. Cách ướm thử như sau:

a) Bơm cho pít-tông nâng lên 2/3 chiều dài pít-tông, đệm ván nhỏ hơn hoặc bằng 5 cm vào giữa đầu kích và đáy dầm, điều chỉnh bệ đặt kích sao cho kích sát với đáy dầm.

b) Sau đó điều chỉnh cần kích mớm dằm lên để thử biến dạng (độ lún) của bệ kích nếu quá chiều cao nâng kích tối đa (ghi trong hộ chiếu kích) thì cần nâng thêm cao độ bệ đặt kích cho phù hợp.

6.7.2.11. Mức chênh lệch giữa hai đầu dầm (độ dốc dầm) trong quá trình kích cần căn cứ vào trọng lượng, chiều dài dầm, điều kiện thiên nhiên và quy định cụ thể trong thiết kế thi công.

6.7.16. Dùng kiểu kích liên hoàn tại một dầm cầu thì cả hai điểm kích đều cần sử dụng liên hoàn.

6.7.17. Không tiến hành kích nâng hạ dầm theo kiểu giã gạo.

6.8. Các loại giá trục, giá lao cầu

6.8.1. Giá pooc-tích (giá long môn), giá chữ E

6.8.1.1. Giá pooc-tích cần được thiết kế với tải trọng tính toán bằng 1,5 trọng lượng vật nâng và lực gió 100 kG/m2. Ngoài ra còn xét lực cắt ngang phát sinh khi hạ dầm.

6.8.1.2. Các dây neo (râu tôm) và các điểm buộc, mở cần đủ để chịu các lực ngang theo cả hai chiều, điểm này cần ghi đầy đủ trong bảng hướng dẫn thi công.

6.8.1.3. Có thể dùng tời hay pa-lăng xích để treo trục. Trường hợp dùng pa-lăng xích ngoài việc tuân thủ các điều kiện quy định về pa-lăng xích trong quy tắc này còn cần có các chồng nề bảo hiểm.

6.8.1.4. Cần dùng các gỗ làm cữ và dùng xà beng để chỉnh dầm trong quá trình hạ dầm cầu hoặc lắp ráp dầm cầu.

6.8.1.5. Chiều cao giá pooc-tích cần đủ để nâng vật trục đến mức tối đa.

Khi dùng giá pooc-tích cần kiểm tra vị trí theo chiều thẳng đứng theo cả hai phía. Nâng hạ cần từ từ không giật cục, dao động mạnh.

6.8.1.6. Khi thao tác dùng giá pooc-tích hạ dầm cầu cần luôn luôn chú ý đến an toàn cho người và cấu kiện.

Khi nâng hạ dầm cầu bằng giá pooc-tích cần có người chỉ huy quan sát ra hiệu lệnh thống nhất điều khiển lên xuống.

6.8.1.7. Nền đặt chân của hai cột cần cứng, không lún, các chân cột cần được chằng buộc, gông, cùm cố định chống trượt.

6.8.1.8. Dây chằng buộc múp hay móc của pa-lăng vào thanh ngang (xà ngang) cần được đệm gỗ để:

- Bảo vệ xà ngang (đòn gánh)

- Cáp khỏi bị cà đứt

6.8.1.9. Giá pooc-tích cần thẳng đứng và cân bằng theo cả hai chiều. Chỉ được nâng hạ dầm khi giá treo đầu dầm tại hai điểm.

6.8.1.10. Số đường dây và tốc độ nâng, hạ của hai múp treo dầm cần như nhau, đầu dầm luôn ở trạng thái cân bằng.

6.8.1.11. Tốc độ nâng hạ cần từ từ, không quá 5 cm/s, không làm đột ngột gây xung kích nguy hiểm.

6.8.1.12. Khi nâng hạ bằng giá pooc-tích nhất thiết cần có chồng nề bảo hộ và làm liên tục. Muốn nghỉ thì cần đặt dầm trên nề kê gối chắc chắn, không dùng cáp treo dầm nghỉ.

6.8.1.13. Chiều cao của giá pooc-tích cần tính toán trước để chế tạo phù hợp yêu cầu công việc. Không để múp cố định và múp di động dính vào nhau mà cần cách nhau tối thiểu 1 m.

6.8.1.14. Dầm đang ở trên gối hay trên chồng nề thì ban đầu chỉ được dùng giá nhấc một đầu dầm. Dầm lên khỏi gối tối thiểu là 5 đến 10 cm, đầu kia mới dùng giá nhấc.

6.8.1.15. Dùng cả 2 giá để nâng, nhấc, hạ dầm thì tốc độ nâng hạ của hai giá cần đồng đều để dầm luôn cân bằng.

6.8.1.16. Giá pooc-tích chỉ được cẩu với tải trọng thẳng đứng. Trường hợp cẩu xiên cần được sự đồng ý và quy định thiết kế của cấp Cục hoặc cấp tương đương quyết định cho phép.

6.8.2. Giá chữ A

6.8.2.1. Cần tuân thủ những điều quy định đối với giá pooc-tích.

6.8.2.2. Hai cột giá chữ A cần cùng một loại vật liệu, cột cần được liên kết chắc chắn, đảm bảo chất lượng.

6.8.2.3. Trường hợp hai cột không đủ tiết diện chịu lực, không dùng loại vật liệu khác ốp để cùng chịu lực. Muốn gia cố cần dùng vật liệu đồng chất (có môđun đàn hồi như nhau) hoặc tìm cách giảm chiều dài tự do.

6.8.2.4. Hai cột cần cùng quy cách (tiết diện, chiều dài và chất lượng gần như nhau).

6.8.2.5. Điểm buộc đỉnh giá thừa tối thiểu 0,50 m. Tại mối buộc cần nêm gỗ chắc, không tuột.

6.8.2.6. Vòng cáp cuối cùng để buộc múp cố định ở đỉnh giá cần có tối thiểu 3 vòng quàng vào cột để mối buộc múp không tuột.

6.8.2.7. Điểm giao nhau giữa hai cột nên dùng cáp Ø 19 cuốn hai lớp, mỗi lớp 10 vòng cần đóng cữ đề phòng cáp trượt xuống.

Cần dùng cáp hay thanh ngang liên kết hai chân cột để chống chân giá chữ A choãi ra. Hai cột giá chữ A cần luôn luôn tạo với đường nằm ngang thành một tam giác cân đáy bằng từ 1/2 đến 1/3 chiều cao.

6.8.2.8. Pu-li chuyển hướng ở chân cột, ngoài các vòng cáp để buộc quai pu-li, cần được cuốn thêm ở trên và dưới nó 3 vòng vào cột. Trên và dưới chỗ buộc cáp cần đóng gỗ để không cho cáp trượt lên xuống.

6.8.2.9. Cáp buộc múp cố định có thể buộc ngay chỗ 2 cột giao nhau nhưng giữa các vòng cáp buộc múp và cáp treo cột cần lót bao tải hay dăm gỗ.

6.8.2.10. Dùng giá chữ A để nâng hạ dầm thì cáp chịu lực nâng hạ ở đầu giá cần là phương thẳng đứng và cần có quang treo buộc hai điểm ở đầu dầm.

6.8.2.11. Góc độ cho phép lập bởi mặt phẳng ngang và mặt phẳng tam giác của giá ngã về phía trước không được nhỏ hơn 750 khi đó chân giá cần được chêm chèn, chằng buộc chắc chắn.

6.8.2.12. Chân giá cần bằng phẳng, chắc chắn, tiếp xúc hoàn toàn với đế. Tim giá cần trùng tim dầm.

6.8.3. Cần câu cá

6.8.3.1. Chỉ dùng cần câu cá khi kéo các vật dưới 20 m hoặc lao những dầm cầu nhỏ bằng thép hình (U, I) có chiều dài không quá 12 m dùng cho các công trình tạm để thi công. Không dùng trong các công trình chính.

6.8.3.2. Đối với các cầu tạm, nhịp ngắn dưới 16 m (dầm thép) có thể xét dùng phương pháp câu cá nhưng cần tính toán chi tiết và có lý do kinh tế, kỹ thuật rõ ràng và cần được Chủ đầu tư chấp thuận.

6.8.4. Dùng múp đặt trên chồng nề để nâng, hạ, dầm cầu

6.8.4.1. Cần tuân thủ tất cả các quy định về chồng nề, đảm bảo chất lượng và an toàn.

6.8.4.2. Múp đặt trên chồng nề ở diện nhỏ hẹp để nâng, hạ dầm cầu cần đạt được các yêu cầu của chồng nề như sau:

a) Phân bố lực đều cho toàn bộ nề

b) Thanh nề, múp đặt trực tiếp lên trên, cần tốt, khỏe, chịu được cả lực cuốn

c) Cần có thanh liên kết và dây chằng để giữ phòng xô của toàn bộ chồng nề

6.8.4.3. Khi dùng giá long môn (pooc-tích), hoặc giá chữ A để nâng hạ dầm cần buộc đầu dầm tại 2 điểm.

6.8.4.4. Nếu dùng hai múp, hai cuộn dây để kéo thì số đường dây và tốc độ cần như nhau.

Nếu hai múp bố trí dây chéo nhau thì góc độ chéo cần đối xứng qua tim cầu

6.8.4.5. Nếu dùng chồng nề nhưng trên chồng nề có làm dầm chữ I gác ngang làm công-son thì cần đạt các yêu cầu sau:

a) Nếu 1 dầm I thì cần trùng tim dầm cầu.

b) Nếu 2 dầm I thì cần song song và đối xứng qua tim dầm cầu.

c) Dầm I cần chịu đựng đủ, an toàn theo cả hai chiều.

d) Chân dầm I cần được chằng buộc, neo cố thật chắc chắn và ổn định đúng với ý nghĩa của một đầu ngàm.

e) Nếu dầm I là nhiều thanh ghép lại thì cần buộc hoặc bó lại sao cho cả tổ hợp các thanh chịu lực đều.

g) Các dầm I ghép cần cùng một vật liệu.

h) Dây chịu lực của múp cần nằm trong mặt phẳng thẳng góc.

6.8.4.6. Dùng quang treo buộc đầu dầm thì quang treo cần cân bằng. Khi nâng hạ đầu dầm luôn cân bằng.

6.8.4.7. Cần nhấc một đầu dầm cách gối từ 5 cm đến 10 cm trước rồi mới nâng đầu kia; sau đó nâng đều hai đầu dầm; nếu dùng hai chồng nề hai đầu, khi đó dầm cầu cần luôn luôn ở trạng thái thăng bằng.

1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương