Nguyễn văn phát bệnh viêm vú BÒ SỮa và MỘt số biện pháp phòng trị luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010



tải về 2.95 Mb.
trang5/15
Chuyển đổi dữ liệu28.05.2018
Kích2.95 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ bò và thùy vú bị viêm tiềm ẩn bình quân theo tháng trong năm 2004 và 2005

Kết quả được trình bày ở bảng 3.1 cho thấy tỉ lệ bò và thùy vú bị viêm tiềm ẩn rất cao. Nếu tính trên cá thể, tỉ lệ bò viêm vú tiềm ẩn trung bình hàng tháng là 65,99%, cao nhất vào tháng 2 là 78,25% và thấp nhất ở tháng 9 với tỉ lệ 55%. Còn tính theo tỉ lệ thùy vú bị viêm tiềm ẩn, bình quân hàng tháng là 42,11%, dao động giữa các tháng từ 35,63% (tháng 9) đến 53,69% (tháng 1). Điều này cho thấy người chăn nuôi chưa có những biện pháp kiểm soát tốt bệnh viêm vú. Đa số người chăn nuôi chưa hiểu biết nhiều về kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc cũng như phòng bệnh viêm vú trên đàn bò. Mặt khác, bệnh viêm vú tiềm ẩn không lộ rõ triệu chứng ra bên ngoài, sữa vẫn khai thác bán được nên người chăn nuôi không lo lắng nhiều, nhưng thật ra bệnh âm thầm ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng sữa.

Theo ghi nhận, nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ bò và thùy vú bò bị viêm tiềm ẩn cao chủ yếu là do người chăn nuôi và người vắt sữa không thực hiện tốt việc vệ sinh chuồng trại, không vệ sinh kỹ trước và sau khi vắt sữa đối với vú bò và tay người vắt sữa hoặc vắt không cạn hết sữa (thường gặp ở những người vắt thuê hay những bò khó vắt sữa), hoặc những hộ sử dụng máy vắt sữa không đúng cách hay vệ sinh máy vắt không kỹ, không sử dụng kháng sinh bơm vào từng thùy vú khi cạn sữa. Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn có hướng gia tăng vào các tháng mùa khô, điều này có thể liên quan đến yếu tố môi trường do thời tiết nóng và thiếu thức ăn xanh.

So với một số kết quả khảo sát trong nước, kết quả khảo sát của chúng tôi cao hơn khá nhiều. Năm 1996, Nguyễn Ngọc Nhiên [14] dùng phương pháp CMT để kiểm tra viêm vú tiềm ẩn trên đàn bò sữa nuôi ở phía Bắc cho thấy tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn là 24,20%. Năm 1999 kiểm tra 518 con bò sữa nuôi tại Ba Vì (Hà Tây) và ngoại thành Hà Nội cũng bằng phương pháp thử CMT cho kết quả 45,92% bò bị viêm vú tiềm ẩn. Lê Văn Tạo và ctv. (1997) (trích Phạm Bảo Ngọc, 2002) [13] kiểm tra 1185 mẫu sữa ở 2 cơ sở chăn nuôi phía Bắc có kết quả viêm vú tiềm ẩn là 24,80% cũng thấp hơn nhiều so với kết quả của chúng tôi ghi nhận. Sự khác biệt này có thể do thời gian khảo sát khác nhau, điều kiện chăn nuôi khác nhau như yếu tố thời tiết, thức ăn, cách chăm sóc quản lý.

Tuy nhiên nếu so với kết quả khảo sát của Phạm Bảo Ngọc (2002) [13] ở Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì từ 1997 - 1999 cũng bằng phương pháp CMT với 1141 mẫu sữa được lấy trên từng thùy vú bò cho biết tỉ lệ thùy vú bị viêm tiềm ẩn là 43, 47%. Tác giả này cũng ghi nhận từ năm 1994 - 1997 thử CMT mẫu sữa lấy từ 660 thùy vú thì tỉ lệ viêm chỉ có 23,33%. Điều này cho thấy tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn gia tăng nếu không có biện pháp kiểm soát tốt. Tương tự, tác giả cũng khảo sát trên đàn bò sữa ở Trung tâm sữa và giống bò Hà Nội bằng phương pháp CMT qua các giai đoạn khác nhau như sau: 1994 - 1997 có 26,67% thùy vú viêm tiềm ẩn trên tổng số 525 thùy vú khảo sát; 1997 - 1998 có 44,67% thùy vú viêm trên 891 thùy vú khảo sát và từ 1999 - 2002 thì tỉ lệ này là 42,36% trên 838 thùy vú kiểm tra. Như vậy, kết quả khảo sát của chúng tôi không khác so với kết quả của Phạm Bảo Ngọc ở giai đoạn này.

Tại Uruguay, Gianneechini và ctv. (2002) [67] kiểm tra 1077 bò đang vắt sữa thì có 52,4% bò bị viêm vú tiềm ẩn; còn Ahlner (2003) [28] kiểm tra viêm vú tiềm ẩn ở 7 hộ chăn nuôi bò sữa cho biết hộ có tỉ lệ bò viêm vú tiềm ẩn thấp nhất là 10,5% và hộ cao nhất là 92,3% và trung bình là 42,2% tương ứng với 21,8% số thùy vú bị viêm. Trong khi đó kết quả chúng tôi khảo sát cao hơn, với 65,99% số bò và 42,11% số thùy vú bị viêm tiềm ẩn. Điều này cho thấy các cơ sở chăn nuôi bò sữa tại Tp. Hồ Chí Minh và khu vực phụ cận cần phải có những biện pháp kiểm soát bệnh viêm vú chặt chẽ hơn.



3.2.1.2. Tỉ lệ bò viêm vú tiểm ẩn theo số thùy vú viêm trên 1 cá thể

Tùy theo điều kiện chăn nuôi và sự quản lý của người chăn nuôi mà tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn trên đàn bò nhiều ít khác nhau, số lượng thùy vú viêm trên một cá thể bò cũng khác nhau. Kết quả trình bày ở bảng 3.2 phản ánh số thùy vú viêm trên bò bị viêm vú tiềm ẩn.



Bảng 3.2 Tỉ lệ bò viêm vú tiềm ẩn theo số thùy vú viêm


Chỉ tiêu

Viêm 1 thùy vú

Viêm 2 thùy vú

Viêm 3 thùy vú

Viêm 4 thùy vú

Tổng

Số bò viêm vú tiềm ẩn

1104

1079

831

1142

4156

Tỉ lệ (%)

26,56

25,96

20,00

27,48

100



Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ bò viêm vú tiềm ẩn theo số thùy vú viêm
Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 3.2 và biểu đồ 3.2 cho thấy tỉ lệ bò có số thùy vú viêm tiềm ẩn 1, 2, 3, 4 thùy lần lượt là 26,56; 25,96; 20 và 27,48%. Sự khác biệt này không đáng kể. Những bò có thùy vú viêm tiềm ẩn mà công tác vệ sinh nhất là vệ sinh vắt sữa không thực hiện tốt thì mầm bệnh dễ lây lan sang những thùy vú khác trong quá trình vắt sữa và làm gia tăng tỉ lệ số thùy vú viêm. Số bò có 3 đến 4 thùy vú bị viêm tiềm ẩn chiếm gần 50%, do đó ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng và chất lượng sữa.

3.2.1.3. Tỉ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn ở các mức độ CMT

Đối với viêm vú tiềm ẩn dù không có biểu lộ triệu chứng ra bên ngoài nhưng có sự khác biệt nhau về mức độ nặng nhẹ và ảnh hưởng của chúng đến sản lượng và chất lượng sữa ít nhiều khác nhau. Sau đây là kết quả ghi nhận được các mức độ CMT ở thùy vú bị viêm tiềm ẩn.



Bảng 3.3 Tỉ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn ở các mức độ CMT


Chỉ tiêu

Mức độ CMT

Tổng

2 (+)

3 (++)

4 (+++)

Số mẫu

5667

3170

1486

10323

Tỉ lệ%

54,90

30,71

14,40

100



B
iểu đồ 3.3 Tỉ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn ở các mức độ CMT

Kết quả được trình bày ở bảng 3.3 và biểu đồ 3.3 cho thấy mức độ viêm vú tiềm ẩn nặng ở mức CMT 4 (+++) chiếm tỉ lệ thấp nhất (14,40%) và tỉ lệ viêm ở mức CMT 2 (+) là cao nhất (54,90%), còn mức độ CMT 3 (++) chiếm 30,71%. Như vậy với mức độ CMT 3 và CMT 4 chiếm khoảng 45% là nguyên nhân gây sụt giảm sản lượng và ảnh hưởng đến chất lượng sữa đáng kể. Hơn nữa ở mức độ CMT 4 (+++) có nguy cơ phát triển thành viêm vú lâm sàng.

Theo kết quả khảo sát của Phạm Bảo Ngọc, 2002 [13], mức độ viêm vú tiềm ẩn của đàn bò ở Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì và ở Trung tâm sữa và giống bò Hà Nội với 1543 thùy vú bị viêm tiềm ẩn cho thấy mức độ CMT 2 (+) chiếm 69,00%, CMT 3 (++) là 25,59%, CMT 4 (+++) có tỉ lệ thấp nhất 5,37%. Như vậy khảo sát của chúng tôi có kết quả CMT 3 (++) và CMT 4 (+++) cao hơn khá nhiều. Sự khác biệt này có thể do thời gian và địa điểm khảo sát khác nhau nên điều kiện ngoại cảnh, cách thức nuôi dưỡng chăm sóc khác nhau. Điều này cho thấy người chăn nuôi chưa quan tâm đúng mức đến tình trạng viêm vú tiềm ẩn trên đàn bò nên tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn cao và mức độ viêm nặng cũng cao. Do đó người chăn nuôi cần có những biện pháp tích cực để phòng chống bệnh viêm vú trên đàn bò, nếu không thì hiệu quả chăn nuôi sẽ kém.



3.2.1.4. Một số yếu tố liên quan đến tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn

Có nhiều yếu tố liên quan đến bệnh viêm vú bò sữa như giống, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc, khai thác sữa, tuổi, giai đoạn cho sữa…. Để hiểu rõ những yếu tố có liên quan đến tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn, từ đó giúp người chăn nuôi có những biện pháp để hạn chế bệnh, chúng tôi khảo sát một số yếu tố như sau.



(1) Liên quan giữa viêm vú tiềm ẩn và nhóm giống

Do đàn bò sữa chăn nuôi ở khu vực Tp. Hồ Chí Minh và vùng phụ cận chủ yếu là bò lai HF ở các mức độ máu lai khác nhau, do đó khả năng thích nghi với môi trường, sức kháng bệnh và khả năng sản xuất khác nhau, nên tỉ lệ viêm vú cũng có khác nhau. Kết quả khảo sát sự liên quan giữa viêm vú tiềm ẩn và nhóm giống được trình bày qua bảng và biểu đồ dưới đây.



Bảng 3.4 và biểu đồ 3.4 cho thấy tỉ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn tăng dần theo mức độ máu lai HF. Ở nhóm bò 1/2 HF có tỉ lệ thấp nhất (31,45%), kế đến nhóm 3/4 HF (41,25%), nhóm 7/8 HF (49,45%) và nhóm lai > 7/8 HF có tỉ lệ cao nhất (50,64%). Sự khác biệt về tỉ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn giữa các nhóm bò lai HF rất có ý nghĩa (p < 0,001), trừ 2 nhóm bò 7/8 HF và > 7/8 HF sự khác biệt không có ý nghĩa (p > 0,05). Kết quả này phản ánh sự thích nghi chưa tốt của nhóm bò có máu HF cao trong điều kiện chăn nuôi còn hạn chế về khâu dinh dưỡng và chăm sóc của người chăn nuôi cộng với điều kiện thời tiết nóng và ẩm của khí hậu nhiệt đới làm ảnh hưởng đến sức kháng bệnh của bò. Tuy nhiên qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy bò có máu lai HF cao được nuôi dưỡng chăm sóc tốt, tạo được môi trường tiểu khí hậu thích hợp, nhất là chống nóng cho bò khi nhiệt độ môi trường tăng cao thì khả năng sản xuất sữa của chúng cao hơn nhóm bò lai 1/2 HF và 3/4 HF.

Bảng 3.4 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo nhóm giống


Nhóm giống

1/2 HF

3/4 HF

7/8 HF

>7/8 HF

Tổng

Số thùy vú khảo sát

4242

12852

5927

1493

24514

Số thùy vú viêm

1334

5302

2931

756

10323

Tỉ lệ viêm (%)

31,45

41,25

49,45

50,64

42,11

Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo nhóm giống
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương