Nguyễn văn phát bệnh viêm vú BÒ SỮa và MỘt số biện pháp phòng trị luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010



tải về 2.95 Mb.
trang6/15
Chuyển đổi dữ liệu28.05.2018
Kích2.95 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15

(2) Liên quan giữa viêm vú tiềm ẩn và lứa đẻ

Lứa đẻ liên quan đến khả năng sản xuất sữa và sức đề kháng của bò; do đó có liên quan đến tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn. Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 3.5 và biều đồ 3.5



Bảng 3.5 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo lứa đẻ


Lứa đẻ

1 – 2

3 – 4

5 – 6

> 6

Tổng

Số thùy vú khảo sát

11455

8085

3618

1356

24514

Số thùy vú viêm

4544

3256

1779

744

10323

Tỉ lệ viêm (%)

39,67

40,27

49,17

54,87

42,11

Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo lứa đẻ

Kết quả được trình bày ở bảng 3.5 và biểu đồ 3.5 cho thấy tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn thấp nhất ở lứa 1 - 2 là 39,67%, lứa 3 - 4 cao hơn không đáng kể (40,27%). Nhưng những bò đẻ lứa 5 - 6 thì tỉ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn cao hơn rõ rệt (49,17%) và cao nhất ở nhóm bò đẻ trên 6 lứa với tỉ lệ viêm là 54,87%. Sự khác biệt về tỉ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn theo lứa đẻ rất có ý nghĩa (p < 0,001). Riêng ở lứa 1 - 2 và 3 - 4 sự khác biệt không có ý nghĩa với p > 0,05. Điều này cho thấy viêm vú tiềm ẩn trên bò có xu hướng tăng dần theo lứa đẻ và rõ nhất là sau 4 lứa; vì lúc này bò lớn tuổi sức đề kháng giảm, hơn nữa người chăn nuôi không có chương trình kiểm soát tốt viêm vú tiềm ẩn, không sử dụng kháng sinh phòng trị viêm vú tiềm ẩn khi cạn sữa nên những bò đẻ càng nhiều lứa tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn càng tăng lên.

Kết quả khảo sát của chúng tôi cũng phù hợp với tài liệu nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài. Haas và ctv. (2004) [76] nghiên cứu trên 272 đàn bò sữa ở New Zealand cho biết tỉ lệ viêm vú ở bò cái tơ thấp hơn so với bò đã đẻ nhiều lứa.

Kennedy và ctv. (1982) [92]; Emanuelson và Persson (1984) [58]; Detilleux và ctv. (1997) [51] cho rằng số lượng tế bào bản thể trong sữa chịu ảnh hưởng bởi số lứa đẻ và tuổi. Theo Serieys (1985) [158], bình thường số lượng tế bào bản thể tăng lên theo lứa đẻ, trung bình 39.000 tế bào/ml sữa ở chu kỳ sữa đầu tiên và tăng lên 66.000 tế bào/ ml ở chu kỳ thứ tư hoặc hơn.

Detilleux và ctv. (1995) [52]; Martin và ctv. (2002) [111]; Taiturier.D . (1998) [166]; Valde và ctv. (2004) [169] cho biết bò càng lớn tuổi, tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn và số ca viêm vú lâm sàng càng tăng. Bởi vì hệ thống miễn dịch ở những bò già hoạt động không còn hiệu quả. Hơn nữa bò lớn tuổi nhạy cảm với vi khuẩn S. agalactiae hơn bò tơ, bò đẻ nhiều lứa dẫn đến cơ vòng đầu vú giảm tính đàn hồi nên thời gian khép lại của kênh vú sau khi vắt sữa kéo dài làm bò dễ bị viêm vú hơn.

Theo chúng tôi ghi nhận, giai đoạn bò từ 7 năm tuổi trở lên năng suất sữa giảm nhiều nhưng do giá con giống cao nên người chăn nuôi vẫn giữ lại cho sinh sản và khai thác sữa cho đến lúc bò quá già hoặc không sinh sản nữa hay năng suất sữa quá kém thì họ mới loại. Chính những bò này góp phần làm cho năng suất sữa bình quân toàn đàn không cao mà tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn lại tăng cao, hơn nữa đó cũng chính là nguồn lưu trữ mầm bệnh trong đàn. Do đó, người chăn nuôi cần phải tính toán hiệu quả kinh tế khi giữ lại những bò đẻ nhiều lứa trong đàn.



(3) Liên quan giữa viêm vú tiềm ẩn và giai đoạn cho sữa

Giai đoạn cho sữa ở bò trong một chu kỳ sữa có liên quan đến tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 3.6 và biểu đồ 3.6.



Kết quả trình bày ở bảng 3.6 cho thấy tỉ lệ thùy vú bị viêm tiềm ẩn gia tăng theo tháng của chu kỳ sữa. Tỉ lệ thấp nhất là 36,13% ở giai đoạn 3 tháng đầu, tăng lên 39,42% ở 3 tháng kế tiếp, 47,20% ở giai đoạn 7 - 9 tháng và tỉ lệ cao nhất ở những bò trên 9 tháng sữa (56,32%). Sự khác biệt về tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn giữa các giai đoạn cho sữa rất có ý nghĩa (p < 0,001).

Bảng 3.6 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo giai đoạn cho sữa trong chu kỳ sữa

Tháng cho sữa

1 - 3

4 - 6

7 - 9

> 9

Tổng

Số thùy vú khảo sát

7072

8264

7223

1955

24514

Số thùy vú viêm

2555

3258

3409

1101

10323

Tỉ lệ viêm (%)

36,13

39,42

47,20

56,32

42,11



Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo giai đoạn cho sữa trong chu kỳ sữa

Kết quả khảo sát của chúng tôi tương tự như nhận định của Kennedy và ctv. (1982) [92]. Họ thông báo rằng số lượng tế bào bản thể liên quan đến viêm vú tiềm ẩn thấp trong 2 tháng cho sữa đầu tiên, sau đó tăng lên dần cho đến khi cạn sữa. Bởi vì số thùy vú viêm tiềm ẩn tự hồi phục ít hơn nhiều so với số thùy vú bị nhiễm mới khi thời gian khai thác sữa kéo dài, nhất là ở những cơ sở chăn nuôi mà công tác quản lý và vệ sinh kém.



(4) Liên quan giữa viêm vú tiềm ẩn và phương thức vắt sữa

Phương thức vắt sữa có liên quan đến tình trạng viêm vú trên bò. Sau đây là kết quả khảo sát tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn giữa 2 phương thức vắt sữa bằng tay và vắt sữa bằng máy.



Bảng 3.7 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo phương thức vắt sữa

Phương thức vắt

Số thùy vú khảo sát

Số thùy vú viêm

Tỉ lệ viêm (%)

Vắt bằng máy

5990

1876

31,32

Vắt bằng tay

18524

8447

45,60

Tổng

24514

10323

42,11



Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo phương thức vắt sữa

Kết quả ở bảng 3.7 cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn giữa 2 cách vắt sữa. Vắt sữa bằng tay có tỉ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn (45,60%) cao hơn so với vắt sữa bằng máy (31,32%), sự khác biệt này rất có ý nghĩa (p < 0,001). Vắt sữa bằng tay có tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn cao hơn là do thao tác kỹ thuật không đúng như vắt không cạn hết sữa, vệ sinh vắt sữa không tốt, nhất là ở những hộ chăn nuôi thuê người vắt sữa. Do họ tranh thủ vắt nhanh cho nhiều hộ trong khoảng thời gian nhất định để kịp giờ giao sữa đến trạm thu mua. Hơn nữa, người vắt sữa thuê không chú ý vệ sinh sát trùng tay sau khi vắt xong đàn bò mỗi hộ mà tiếp tục vắt cho hộ khác, dùng khăn vệ sinh vú bò và dụng cụ chứa sữa chung cho nhiều hộ, nên khả năng làm lây lan mầm bệnh gây viêm vú từ bò hộ này sang bò hộ khác là rất cao. Tuy nhiên, ở những nơi vắt sữa bằng máy mà kỹ thuật sử dụng máy không đúng hay vệ sinh máy vắt sữa và vệ sinh vú bò không kỹ cũng làm gia tăng tỉ lệ viêm vú trên bò. Do vậy để hạn chế viêm vú trên bò dù vắt sữa bằng tay hay bằng máy đều phải đảm bảo tốt về kỹ thuật vắt cũng như công tác vệ sinh trước và sau khi vắt sữa.

Grindal và Hillerton (1991) Slettbakk và ctv. (1995) (trích Menzies và ctv., 2001 [117]) cho rằng nếu lượng sữa vắt được (bằng máy) quá 5,2 kg trong 2 phút đầu tiên của một lần vắt sữa sẽ tăng tỉ lệ viêm vú. Vú bị áp lực hút mạnh cản trở tuần hoàn máu quanh núm vú, núm vú bị bầm dập và xây xát. Thời gian vắt sữa nhanh, người vắt sữa vệ sinh bò và bầu vú không tốt nên vi khuẩn cơ hội có điều kiện xâm nhập và gây viêm vú.

Chỉ nên gắn các ống hút của máy vào núm vú sau khi xoa bóp bầu vú 25 - 30 giây. Tần số hoạt động của máy không quá cao, khoảng 60 - 80 lần/ phút, áp lực chân không khoảng âm 275 - 300 mmHg phía ngoài núm vú [99]. Thời gian vắt sữa tối đa là 6 phút bởi thời gian tác động của oxytocin chỉ kéo dài khoảng 6 - 8 phút [9]. Ngoài ra, lượng sữa trong bầu vú phải được vắt kiệt nếu không sẽ làm tăng nguy cơ viêm vú [117].

Khi sử dụng máy vắt sữa mà áp lực hút không đủ do độ chân không quá yếu làm kéo dài thời gian vắt và sữa bị ứ lại. Trái lại nếu áp lực hút quá mạnh làm độ giãn nở của cơ vòng đầu núm vú tăng lên và dần dần mất đi sức bền, không đảm bảo được vai trò là rào cản để bảo vệ tuyến vú đối với những tác nhân gây nhiễm trùng từ bên ngoài vào. Lực hút quá mạnh còn làm tổn thương niêm mạc núm vú gây đau nhức và những vết xuất huyết nhỏ. Tốc độ hút quá chậm làm sữa tồn lại hay hút quá nhanh dễ gây tổn thương niêm mạc núm vú. Núm vắt bị mòn, bị biến đổi hình dạng không che hết núm vú cũng là nguồn gốc của sự tồn đọng sữa, núm vắt bị nứt làm cho việc lau chùi khó khăn và dễ gây tổn thương núm vú bò. Tất cả những yếu tố trên làm gia tăng bệnh viêm vú [33].

Khi vắt sữa bằng tay, nếu tự làm ướt tay với những tia sữa đầu cũng làm cho nguy cơ lây lan vi khuẩn gây viêm vú. Kỹ thuật vắt sữa không đúng, bò khó vắt nên sữa tồn đọng là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, viêm vú tiềm ẩn chuyển thành viêm vú lâm sàng [33].



Tuy nhiên, ở Đức, Hamann (1991) [74] đã so sánh phương thức vắt sữa bằng tay hay máy so với cách cho bê con bú. Kết quả, vắt sữa bằng máy là nguyên nhân của 27% số núm vú dày lên trong khi vắt bằng tay là 9% còn bê con bú chỉ có 6%. Thời gian cơ vòng đầu núm vú đóng lại ở những bò vắt sữa bằng tay và bê con bú là 30 phút trong khi vắt bằng máy kéo dài tới 1 - 2 giờ. Thời gian đóng lại của cơ vòng đầu núm vú và tình trạng dầy lên của núm vú là nguyên nhân góp phần gây viêm vú.

  1. Liên quan giữa viêm vú tiềm ẩn và vệ sinh

Việc vệ sinh trong chăn nuôi, nhất là vệ sinh khi vắt sữa có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đến bệnh viêm vú trên đàn bò. Sau đây là kết quả khảo sát về liên quan mức độ vệ sinh (xem phụ lục 5, trang 149) và tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn.

Bảng 3.8 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo mức độ vệ sinh

Mức độ vệ sinh

Kém

Trung bình

Khá tốt

Tổng

Số thùy vú khảo sát

2097

8813

13604

24514

Số thùy vú viêm

1813

3688

4822

10323

Tỉ lệ viêm (%)

84,46

41,85

35,45

42,11

Kết quả trình bày ở bảng 3.8 cho thấy việc vệ sinh chuồng trại, vệ sinh vắt sữa có liên quan rất chặt chẽ đến tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn trên bò sữa. Ở các cơ sở chăn nuôi thực hiện vệ sinh kém có đến 84,46% thùy vú khảo sát bị viêm, còn những nơi có mức độ vệ sinh trung bình thì tỉ lệ là 41,85%; trong khi đó nếu ở mức độ vệ sinh khá tốt, tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn chỉ 35,45%. Sự khác biệt này rất có ý nghĩa (p < 0,001). Điều này cho thấy nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn thấp đáng kể. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy không có cơ sở chăn nuôi nào thực hiện thật tốt công tác vệ sinh chuồng trại và vệ sinh vắt sữa.

Nghiên cứu ở Mỹ năm 1996 cho rằng hơn một nửa số tay người vắt sữa có mang vi khuẩn gây viêm vú. Do đó trước khi vắt sữa, người vắt sữa nên mang găng tay cao su vì chúng có bề mặt trơn láng hạn chế vi khuẩn tồn đọng đồng thời dễ dàng bị rửa trôi [137].

Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn theo mức độ vệ sinh
Máy vắt sữa có thể làm lây lan vi khuẩn bằng nhiều đường khác nhau. Vi khuẩn tồn tại trên núm vú hoặc xung quanh lỗ đầu vú. Khi vắt sữa, hoạt động hút không khí vào và đẩy ra sẽ hút vi khuẩn vào trong cụm (claw) của hệ thống ống dẫn sữa. Từ đó vi khuẩn theo dòng sữa dội ngược lên những núm vú khác trên cùng một bò hoặc lây lan qua những con khác trong đàn [107]. Vì vậy, sau khi vắt sữa xong mỗi con bò cần phải nhúng toàn bộ các đầu hút của máy vào dung dịch thuốc sát trùng để ngăn ngừa vi khuẩn lây lan trong đàn [137].

Qua kết quả nêu trên cho biết có nhiều yếu tố liên quan đến tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn. Dùng phương trình hồi qui logistic phân tích các yếu tố giống, lứa đẻ, giai đoạn cho sữa và vệ sinh cho thấy có mối liên quan giữa các yếu tố với bệnh viêm vú tiềm ẩn rất có ý nghĩa với p < 0,001. Trong các yếu tố nguy cơ này, yếu tố vệ sinh quan trọng hơn thể hiện qua tỉ số chênh OR (odds ratio) cao nhất (2,30), kế đến là yếu tố giống (1,81), yếu tố giai đoạn cho sữa (1,58) và yếu tố lứa đẻ (1,46).




        1. Xác định số lượng tế bào bản thể (somatic cell counts) trong sữa ở các mức độ CMT bằng phương pháp đếm máy

Để so sánh kết quả dùng phương pháp CMT xác định viêm vú tiềm ẩn với phương pháp đếm trực tiếp tế bào bản thể trong sữa, chúng tôi dùng máy đếm tế bào DELAVAL. Kết quả được trình bày qua bảng 3.9

Qua bảng 3.9 cho thấy số lượng tế bào bản thể trong sữa đếm bằng máy tỉ lệ thuận với mức độ CMT, mức độ CMT dương tính càng cao thì số lượng tế bào càng tăng.


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương