KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)



tải về 3.73 Mb.
trang33/50
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích3.73 Mb.
1   ...   29   30   31   32   33   34   35   36   ...   50

Trả lời: (Tại Công văn số 2474/BNV-TCBC ngày 28/7/2010)

1. Sau 6 năm thực hiện Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước (sau đây là Nghị định số 122/2004/NĐ-CP), công tác pháp chế đã từng bước đi vào nền nếp, đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận; các tổ chức pháp chế từ Trung ương đến địa phương đã được thành lập và hoạt động ở hầu hết các Bộ, ngành, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, trước những yêu cầu thực tế, tổ chức và hoạt động của các tổ chức pháp chế cần được tiếp tục kiện toàn để đáp ứng yêu cầu khi được giao thêm chức năng, nhiệm vụmới theo quy định của pháp luật (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009; đặc biệt là những nhiệm vụ mới trong công tác xây dựng pháp luật và công tác theo dõi thi hành pháp luật).

2. Căn cứ Chương trình công tác năm 2010 và sự phân công của Chính phủ, việc tham mưu trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 122/2004/NĐ-CP do Bộ Tư pháp chủ trì; các Bộ, ngành liên quan có nhiệm vụ phối hợp tham gia xây dựng Nghị định.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Nội vụ có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, tổng hợp, tiếp thu những ý kiến đề xuất, kiến nghị từ cơ sở để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP của Chính phủ cho phù hợp; nhằm tiếp tục kiện toàn và nâng cao vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức pháp chế; đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.



41. Cử tri tỉnh Điện Biên kiến nghị: Theo Quyết định số 13/2002/QĐ-BNV ngày 06/12/2002 của Bộ Nội vụ quy định việc thành lập thôn, bản mới đối với miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa phải có từ 50 hộ trở lên là không phù hợp. Vì ở miền núi, vùng sâu, vùng xa có nhiều cụm dân cư chỉ có 15 đến 20 hộ dân nằm biệt lập, cách nhau từ 2-5 km, nếu không thành lập bản thì rất khó khăn cho công tác quản lý, đề nghị Bộ Nội vụ xem xét quy định bổ sung cho phù hợp với điều kiện vùng này.

Cử tri tỉnh Thừa Thiên Huế kiến nghị: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều thôn có số lượng dân cư rất lớn, đề nghị Bộ Nội vụ có chủ trương cho tách các thôn để thuận lợi cho công tác quản lý hành chính.

Trả lời: (Tại Công văn số 2845/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Tiếp thu kiến nghị nêu trên của cử tri gửi tới kỳ họp Quốc hội khoá XII; để thống nhất trong việc quản lý và thực hiện chế độ chính sách ở cơ sở cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, Bộ Nội vụ đã và đang triển khai xây dựng Thông tư thay thế Quyết định số 13/2002/QĐ-BNV ngày 06 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn và tổ dân phố.



42. Cử tri các tỉnh Hòa Bình, Cao Bằng kiến nghị: Hiện nay chính sách dân tộc, tôn giáo ở vùng đặc biệt khó khăn được Nhà nước quan tâm đặc biệt với nhiều chương trình, dự án và chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc nhưng theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP quy định không có Phòng Dân tộc, Tôn Giáo cấp huyện (chỉ có 01 cán bộ thuộc Văn phòng UBND cấp huyện theo dõi công tác này) nên việc theo dõi, tổng hợp và thực hiện các chính sách về dân tộc, tôn giáo ở các địa phương này gặp rất nhiều khó khăn, hiệu quả không cao. Cử tri đề nghị với những huyện có tỷ lệ các dân tộc thiểu số từ 50% trở lên được tái thành lập Phòng Dân tộc – Tôn giáo.

Trả lời: (Tại Công văn số 2536/BNV-TCBC ngày 30/7/2010)

1. Thực hiện Nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày 31/7/2007 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ khoá XII, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/NĐ-CP ngày 08/8/2007 về việc chuyển Ban Tôn giáo Chính phủ vào Bộ Nội vụ. Theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2008/NĐ-CP, Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo nguyên tắc chung, thống nhất, đồng bộ với cơ cấu tổ chức của Chính phủ, thực hiện Sở quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực. Ở cấp tỉnh chuyển chức năng, tổ chức làm công tác tôn giáo vào Sở Nội vụ, ở cấp huyện chuyển vào Phòng Nội vụ để tạo tính thống nhất, thông suốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo từ Trung ương đến địa phương, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ quan nội vụ các cấp. Như vậy, không thể tái lập Phòng Dân tộc - Tôn giáo ở cấp huyện như ý kiến của cử tri nêu trên.

2. Tuy nhiên, Uỷ ban Dân tộc và một số tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đã đề nghị tái lập Phòng Dân tộc ở cấp huyện để bảo đảm thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước cũng như các chính sách về dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Qua nghiên cứu và khảo sát thực tế, Bộ Nội vụ thống nhất với đề nghị nêu trên, đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2010/NĐ-CP ngày 26/02/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; trong đó bổ sung cho phép thành lập Phòng Dân tộc cấp huyện đối với các địa phương có một trong hai tiêu chí quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18/02/2004 của Chính phủ về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân các cấp như sau:

- Có ít nhất 5000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;

- Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn sung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại.

43. Cử tri tỉnh Quảng Trị kiến nghị: Việc thực hiện Quyết định số 1749/2009/QĐ-TTg ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách đối với chủ tịch, phó chủ tịch HĐND phường nghỉ việc trước thời hạn do triển khai thí điểm không tổ chức HĐND phường làm quá chậm. Đề nghị Bộ Nội vụ có ý kiến thẩm tra kịp thời về danh sách, đối tượng thực hiện chính sách theo quy định Quyết định số 1749 và trả lời cho cử tri được rõ trong thời gian chờ đợi giải quyết chính sách thì thực hiện việc chi trả lương cho các đối tượng Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường nghỉ việc trước thời hạn do triển khai thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân phường như thế nào?

Trả lời: (Tại Công văn số 2847/BNV-CQĐP ngày //2010)

Ngày 27/01/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị có Công văn số 212/UBND-NC về việc đề nghị giải quyết chế độ theo Quyết định số 1749/QĐ-TTg ngày 02/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ cho 4 người là chủ tịch, phó chủ tịch HĐND phường nghỉ việc trước thời hạn do triển khai thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND phường, trong đó có 2 người hưởng chính sách về hưu trước tuổi, 02 người thôi việc ngay.

Sau khi thẩm định, Bộ Nội vụ đã nhất trí với đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị và đã có Công văn số 1221/BNV-TCBC ngày 27/4/2010 gửi Bộ Tài chính để thẩm tra việc tính toán chế độ chính sách và cấp dự toán kinh phí để UBND tỉnh Quảng Trị thực hiện theo quy định.

44. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị: Đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo tinh giản bộ máy, đầu mối và biên chế ở trung ương và tăng biên chế cho bộ máy hành chính cấp xã vì thời gian qua bộ, ngành trung ương thực hiện cải cách hành chính chậm hơn địa phương. Cần xem xét lại hiện tượng lâu nay phổ biến ở nhiều bộ, ngành không ít cán bộ hưu ở lại, tiếp tục làm việc theo chế độ hợp đồng (cố vấn, chuyên gia, chuyên viên…) đã ảnh hưởng công việc và cơ hội cho một số người đang thiếu việc làm.

Trả lời: (Tại Công văn số 2569/BNV-TCBC ngày 04/8/2010)

1. Về tinh giản bộ máy, đầu mối và biên chế ở trung ương

Thực hiện Nghị quyết số 01/2007/QH12 ngày 31/7/2007 của Quốc hội khóa XII, cơ cấu Chính phủ khóa XII đã giảm từ 26 Bộ xuống còn 22 Bộ và cơ quan ngang Bộ (chuyển 4 cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước vào các Bộ quản lý), Bộ được tổ chức quản lý đa ngành, đa lĩnh vực bảo đảm tính thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, gắn với cải tiến lề lối làm việc, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước. Trong thời gian tới Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đánh giá cơ cấu Chính phủ khóa XII để có phương án xây dựng cơ cấu Chính phủ khóa XIII được tinh giản bộ máy, đầu mối ở Trung ương cho phù hợp và hiệu lực, hiệu quả hơn.

Trong quá trình sắp xếp cơ cấu tổ chức của các Bộ, sẽ có một số cán bộ, công chức, viên chức dôi dư do thừa cơ cấu hoặc do chuyên môn, nghiệp vụ yếu không đáp ứng theo yêu cầu của vị trí việc làm được giải quyết chính sách tinh giản biên chế theo qui định tại Nghị định 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế. Tuy nhiên quá trình chuyển đổi và hội nhập của nền kinh tế hiện nay xuất hiện nhiều nhiệm vụ đòi hỏi cần phải quản lý, nhất là trong lĩnh vực quản lý chuyên ngành mang tính chuyên sâu nên phải kiện toàn về tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức này như: lĩnh vực quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm lâm, quản lý thị trường, bảo vệ môi trường, biển đảo… Theo đó cần thiết phải tăng biên chế để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước từ thực tế đòi hỏi, bảo đảm có tổ chức thì phải có biên chế công chức tương ứng.

2. Về tăng biên chế cho bộ máy hành chính cấp xã

Để thực hiện cải cách hành chính, tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã; ngày 22/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Nghị định nêu trên của Chính phủ đã quy định rõ các chức vụ, chức danh, số lượng và một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã theo phân loại đơn vị hành chính cấp xã. So với Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003, thì Nghị định lần này, Chính phủ đã tăng thêm định biên cho cấp xã (như cấp xã loại 1: 25 người; cấp xã loại 2: lên 23 người; cấp xã loại 3: lên 21 người).

Để tạo sự chủ động và đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế của địa phương, Nghị định của Chính phủ lần này quy định khung số lượng những người hoạt động không chuyên trách cấp xã và thôn, tổ dân phố và giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định chức danh, số lượng cụ thể, mức phụ cấp, mức khoán kinh phí của từng chức danh đối với những người hoạt động không chuyên trách theo loại đơn vị hành chính cấp xã, thôn, tổ dân phố.

Về cơ bản số lượng biên chế cho bộ máy hành chính cấp xã đã được tăng cường đáng kể, tương ứng với yêu cầu công việc hành chính cấp xã. Tuy nhiên, điều quan trọng là nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức cấp xã để không những không nhất thiết tăng số lượng biên chế mà cần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính cấp xã.

3. Về hiện tượng lâu nay phổ biến ở nhiều bộ, ngành không ít cán bộ hưu ở lại, tiếp tục làm việc theo chế độ hợp đồng (cố vấn, chuyên gia, chuyên viên …) đã ảnh hưởng công việc và cơ hội cho một số người đang thiếu việc làm

Theo quy định của Nghị định số 71/2000/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ quy định việc kéo dài thời gian công tác của cán bộ, công chức đến độ tuổi nghỉ hưu thì cán bộ, công chức khi đến độ tuổi nghỉ hưu được xem xét kéo dài thêm thời gian công tác, bao gồm các đối tượng:

"1. Những người trực tiếp làm công tác nghiên cứu ở các cơ quan của Đảng, Nhà nước được bổ nhiệm và hưởng bảng lương chuyên gia cao cấp quy định tại Nghị định số 25/CP ngày 23 tháng 5 năm 1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức khu vực hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang;

2. Những người có học vị tiến sĩ khoa học làm việc theo đúng chuyên ngành đào tạo; những người có chức danh giáo sư, phó giáo sư đang trực tiếp nghiên cứu, giảng dạy theo đúng chuyên ngành ở các Viện, Học viện và các trường đại học;

3. Những người thực sự có tài năng được cơ quan, tổ chức, đơn vị thừa nhận, đang trực tiếp làm việc theo đúng chuyên môn thuộc các lĩnh vực y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa, nghệ thuật."

Điều kiện kéo dài thêm thời gian công tác của cán bộ, công chức là:

"1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng cán bộ, công chức thực sự có nhu cầu;

2. Cán bộ, công chức tự nguyện và có đủ sức khỏe để làm việc."

Hiện nay, Chính phủ đang trình Quốc hội thông qua dự án Luật Viên chức, trong đó có nội dung quy định về kéo dài thời gian làm việc của viên chức để nhằm tận dụng sự đóng góp của viên chức có kinh nghiệm công tác lâu năm, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao. Tuy nhiên, việc kéo dài thời gian làm việc đối với viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc và viên chức không được giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Thực tế các đối tượng nêu trên ở lại, tiếp tục làm việc theo chế độ hợp đồng không làm ảnh hưởng công việc và cơ hội cho một số người đang thiếu việc làm. Vì những công việc này cần những người có kinh nghiệm chuyên môn cao, nên những người mới chưa thể thay thế ngay được các vị trí công tác này.

45. Cử tri tỉnh Ninh Bình kiến nghị: Hiện nay theo quy định, “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” ở UBND cấp huyện thuộc Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện, cán bộ ở bộ phận này được trưng tập đến làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Cử tri đề nghị để nâng cao chất lượng giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa và một của liên thông ở cấp huyện thì “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” phải là cơ quan độc lập, ngang với cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, có cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ, như vậy mới đảm bảo chất lượng và hiệu quả công việc.

Trả lời: (Tại Công văn số 2476/BNV-TCBC ngày 28/7/2010)

1. Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008, Nghị định số 12/2010/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ, trong đó, quy định ở cấp huyện có 10 Phòng được tổ chức thống nhất, 02 Phòng được tổ chức để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện và 01 Phòng được tổ chức theo đặc thù (Phòng Dân tộc) ở từng địa phương, không quy định bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là cơ quan độc lập, ngang với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

2. Để nâng cao chất lượng giải quyết các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở cấp huyện, tại Điều 6, Điều 8 Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, trong đó quy định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện: bố trí cán bộ, công chức đúng chuyên môn, nghiệp vụ, có cán bộ, công chức chuyên trách làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để đảm bảo chất lượng và hiệu quả công việc.

Mặt khác, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở Ủy ban nhân dân cấp huyện không đồng nhất với trực tiếp xử lý yêu cầu của dân và doanh nghiệp, không thay cho chức năng của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Từ đó, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả không phải là cơ quan độc lập như cơ quan chuyên môn, nên cần thiết cử cán bộ, công chức từ các cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan đến yêu cầu của dân và doanh nghiệp.



46. Cử tri tỉnh Quảng Bình kiến nghị: Đề nghị Nhà nước cần quan tâm hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng về các mặt cho đội ngũ cán bộ cấp xã, cán bộ cơ sở. Cần có trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ này.

Trả lời: (Tại Công văn số 2857/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Về đào tạo, bồi dưỡng về các mặt cho đội ngũ cán bộ cấp xã, cán bộ cơ sở trong Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006-2010 được phê duyệt theo Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg ngày 15/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó nội dung đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ cấp xã là được đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn quy định, được trang bị kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; Đối với công chức cấp xã: được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn của vị trí đang đảm nhiệm, trong đó đảm bảo số công chức công tác ở vùng miền núi có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên là 70% ở đồng bằng là 80% và ở đô thị là 95%, qua sơ kết 3 năm thực hiện quyết định này thì các tỉnh, thành phố đều thực hiện đúng nội dung và đảm bảo tiến độ của Kế hoạch.

Ngoài ra trong giai đoạn 2011-2020 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Trong các hoạt động của Đề án có nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã đảm bảo đủ trình độ, bản lĩnh lãnh đạo quản lý và thành thạo chuyên môn nghiệp vụ trên các lĩnh vực kinh tế xã hội ở xã phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn… Các hoạt động của Đề án đang được triển khai khẩn trương, ngày 23/3/2010 Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký Quyết định số 239/QĐ-BNV ban hành Kế hoạch năm 2010 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã thực hiện Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đối với các vùng miền đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ra các quyết định 253/2003/QĐ-TTg ngày 05/3/2003 phê duyệt Đề án “Một số giải pháp củng cố kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên” giai đoạn 2002-2010; Quyết định số 28/2007/QĐ-TTg ngày 28/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã phường, thị trấn các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2007-2010. Những quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ đã được triển khai và thực hiện theo đúng nội dung và lịch trình. Như vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng về các mặt cho đội ngũ cán bộ cấp xã và cán bộ cơ sở đã được Chính phủ quan tâm đặc biệt và đã được Bộ Nội vụ cũng như các tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện nghiêm túc.

Về ý kiến cần có trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ này, theo ý kiến của Bộ Nội vụ, đối tượng này nếu đào tạo nghề thì đã có hệ thống các trường nghề cũng như trung tâm giáo dục thường xuyên trong hệ thống các trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo; đối với đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cũng như nghiệp vụ thì đã có hệ thống các trường chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện cũng như hệ thống các trường cán bộ của các bộ, ngành, các hệ thống trường này hiện nay đủ sức đảm bảo cho việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ xã và cán bộ cở sở, do đó hiện nay chưa cần thiết phải có trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ này.

47. Cử tri tp Hà Nội kiến nghị: Cử tri phản ánh các quy định về thi tuyển công chức như hiện nay chưa phù hợp với tình hình thực tế ở các địa phương nhất là yêu cầu về ngoại ngữ ở các địa phương vùng sâu, vùng xa người tham gia thi tuyển công chức khó có điều kiện học tập, nâng cao trình độ ngoại ngữ. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu, sửa đổi phù hợp (cử tri huyện Mỹ Đức).

Trả lời: (Tại Công văn số 2750/BNV-CCVC ngày 16/8/2010)

Theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn ngạch, chức danh công chức, trong đó có yêu cầu về trình độ ngoại ngữ, vì vậy, trong kỳ thi tuyển công chức, đặc biệt là các đối tượng sinh viên mới ra trường thì yêu cầu thi ngoại ngữ để đánh giá về năng lực của người được tuyển dụng và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế là cần thiết. Tuy nhiên, để đảm bảo phù hợp với thực tiễn sử dụng ngoại ngữ ở các địa phương vùng sâu, vùng xa hiện nay, trong quá trình triển khai Luật Cán bộ, công chức, Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, trong đó tại khoản 3 Điều 8 quy định: "Đối với vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số, việc thi môn ngoại ngữ được thay thế bằng thi tiếng dân tộc. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc thiểu số".



48. Cử tri tp Hà Nội kiến nghị: Cử tri phản ánh Trưởng công an xã sau khi đi bồi dưỡng nghiệp vụ cho phù hợp với yêu cầu khi về địa phương phải thi tuyển công chức cấp xã. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan có liên quan xem xét, có quy định để tháo gỡ vấn đề này. (cử tri huyện Gia Lâm)

Trả lời: (Tại Công văn số 2839/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Khoản 2, Điều 63 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Việc tuyển dụng công chức cấp xã phải thông qua thi tuyển; đối với các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể được tuyển dụng thông qua xét tuyển”.

Hiện nay Bộ Nội vụ được Chính phủ giao dự thảo Nghị định về Công chức xã, phường, thị trấn; trong đó có việc tuyển dụng công chức cấp xã, riêng có công chức Trưởng Công an xã và Chỉ huy trưởng Quân sự đề nghị Chính phủ được thực hiện tuyển dụng theo Luật Dân quân tự vệ và Pháp lệnh Công an xã.

Dự thảo Nghị định Công chức xã, phường, thị trấn đang được đưa ra lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương để tổng hợp trình Chính phủ xem xét.



49. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị: Đề nghị Chính phủ quy định cụ thể về chế độ cộng điểm ưu tiên trong việc tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức quy định tại điều 7 Nghị định 116/2003/NĐ-CP và Nghị định 121/2006/NĐ-CP phù hợp với điều kiện thực tế, cụ thể: quy định rõ việc cộng điểm ưu tiên đối với trường hơn là người dân tộc thiểu số như đối tượng người dân tộc Khơ Mú, Mông được cộng 30 điểm, dân tộc Lào được cộng 20 điểm, dân tộc Thái được cộng 10 điểm; đối với con thương binh, bệnh binh cũng cần quy định mức điểm ưu tiên theo tỷ lệ thương tật như: con thương binh hạng ¼ được cộng 30 điểm, hạng 2/4 được cộng 20 điểm, hạng ¾ được cộng 15 điểm, hạng 4/4 được cộng 10 điểm.

Trả lời: (Tại Công văn số 2749/BNV-CCVC ngày 16/8/2010)

Theo quy định của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và Nghị định số 121/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP thì đối tượng người dân tộc thiểu số, người tình nguyện phục vụ ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; anh hùng lực lượng vũ trang; anh hùng lao động; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước); con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; con anh hùng lực lượng vũ trang, con anh hùng lao động, được cộng 30 điểm vào kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển viên chức.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các quy định về chế độ ưu tiên tuyển dụng công chức, viên chức, Bộ Nội vụ đã nhận được một số ý kiến phản ảnh của các Bộ, ngành, địa phương là cần quy định rõ, cụ thể việc cộng điểm ưu tiên đối với từng đối tượng được ưu tiên tuyển dụng như ý kiến cử tri đã nêu. Vì vậy, trong thời gian tới, sau khi Luật Viên chức được ban hành, Bộ Nội vụ sẽ nghiên cứu trình Chính phủ quy định về chế độ ưu tiên trong tuyển dụng viên chức cho phù hợp, bảo đảm tuyển chọn người có tài năng và thực hiện tốt chính sách đối với người có công với nước, người dân tộc thiểu số, người công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

50. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị:- Đề nghị Chính phủ sớm xem xét, kiến nghị của tỉnh Sơn La về việc điều chỉnh địa giới hành chính chia tách huyện Mộc Châu để thành lập huyện Vân Hồ và huyện Mộc Châu mới.

- Đề nghị Chính phủ xem xét, kiểm tra, điều chỉnh lại địa giới hành chính 364 đối với xã Sam Kha huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La với xã Tìa Dình, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (và một số xã khác) để giải quyết dứt điển việc tranh chấp đất đai, giúp nhân dân ổn định sản xuất, giữ gìn trật tự, an ninh trên địa bàn.

- Đề nghị Chính phủ sớm quyết định tách xã Mường Lạn huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La thành 02 xã: Mường Lanh và Nậm Sọi. Vì hiện nay xã Mường Lạn có 1.352 hộ với 7.348 nhân khẩu, gồm 17 bản và 02 cụm dân cư, diện tích tự nhiên là 25.199,9 ha với 50,8 km đường biên giới, rất khó khăn trong việc quản lý, điều hành.

Trả lời: (Tại Công văn số 2836/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

1. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (Thông báo số 299/TB-VPCP ngày 24/9/2009 của Văn phòng Chính phủ) về tình hình điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã. Sau khi xem xét đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tại văn bản số 117/UBND-NC ngày 19/01/2009, Bộ Nội vụ đã có văn bản số 4191/BNV-CQĐP ngày 25/12/2009 báo cáo và đề nghị Thường trực Chính phủ chấp thuận chủ trương chia tách huyện Mộc Châu để thành lập huyện Vân Hồ và huyện Mộc Châu mới để có căn cứ hướng dẫn dẫn địa phương lập đề án trình Chính phủ. Đến nay Bộ Nội vụ chưa nhận được ý kiến chỉ đạo của Thường trực Chính phủ.

2. Để giải quyết những vấn đề bất cập liên quan đến quy mô đơn vị hành chính các cấp, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số: 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005, số: 15/2007/NĐ-CP ngày 26/01/2007 về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Theo đó, Chính phủ sẽ chỉ đạo việc phân bổ các nguồn lực cho sự phát triển phù hợp với kết quả phân loại đơn vị hành chính và do vậy, không nhất thiết phải chia tách xã Mường Lạn thuộc huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơ La vì lý do diện tích rộng, tránh lãng phí tiền của của Nhà nước và nhân dân.

3. Thực hiện Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã; tỉnh Sơn La và tỉnh Điện Biên đã xây dựng và hoàn thành bộ hồ sơ, bản đồ hiện trạng về địa giới hành chính, đã được các cấp chính quyền xã, huyện, tỉnh có liên quan thuộc hai địa phương nhận thực và được cấp có thẩm quyền xác nhận đủ điều kiện làm cơ sở pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về địa giới hành chính và đưa vào lưu trữ quốc gia. Do tính phức tạp về địa giới hành chính do lịch sử để lại, việc xây dựng bộ hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính các cấp ngoài việc phải dựa vào các tiêu chí, còn phải đảm bảo tính khoa học, hợp lý về địa giới hành chính nên bộ hồ sơ địa giới hành chính các cấp có hiện tượng một số khu vực đất đai thuộc địa giới xã này nhưng do người dân của xã liền kề sử dụng. Như vậy, bộ hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La vã xã Tìa Dình, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (và một số xã khác) là những trường hợp cụ thể của hiện tượng nêu trên.

Như vậy, để giải quyết dứt điểm việc tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính 364-CT giữa xã Sam Kha, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La vã xã Tìa Dình, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (và một số xã khác), đề nghị chính quyền tỉnh Sơn La chủ động phối hợp với chính quyền tỉnh Điện Biên lập phương án trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh địa giới hành chính giữa 2 địa phương để tạo sự thống nhất khu vực đất đai đang quản lý, sử dụng với địa bàn cư trú của nhân dân.

51. Cử tri tỉnh Lai Châu kiến nghị: - Đề nghị Chính phủ cho chia tách huyện Mường Tè thành hai huyện (theo Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án nhà máy thủy diện Lai Châu), cho phép được điều chỉnh địa giới hành chính các xã theo hướng chia tách xã Ka Lăng, Tà Tổng, Mường Mô và Bum Nưa – huyện Mường Tè thành tám xã. Khi đó đơn vị hành chính huyện Mường Tè sẽ là 20 đơn vị hành chính cấp xã, phường.

- Đề nghị Chính phủ cho cơ chế đặc thù cho tỉnh Lai Châu được điều chỉnh một số đơn vị hành chính, cụ thể cho phép tách huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu thành hai huyện; đến năm 2015 cho phép điều chỉnh địa giới hành chính các xã theo hướng tách xã Dào San, Nậm Xe, Huổi Luông – huyện Phong Thổ thành sáu xã là các đơn vị có diện tích tự nhiên rộng để thuận tiện cho công tác quản lý.

Trả lời: (Tại Công văn số 2833/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Công văn số 299/TB-VPCP ngày 24/9/2009 của Văn phòng Chính phủ đã thông báo ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ về tình hình điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã như sau: “Thường trực Chính phủ đồng ý với kiến nghị của Bộ Nội vụ là trước mắt giữ ổn định đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã như hiện nay; chỉ điều chỉnh với từng trường hợp cụ thể khi xét thấy thật sự cần thiết và hợp lý. Tập trung xử lý cho việc điều chỉnh mở rộng, sáp nhập và thành lập mới do yêu cầu đô thị hóa nhưng không làm tăng đơn vị hành chính mới. Đối với các Đề án điều chỉnh địa giới hành chính các địa phương đã trình Chính phủ, Bộ Nội vụ phải thẩm định kỹ theo tinh thần trên, nếu đủ điều kiện thì sớm trình Chính phủ xem xét, quyết nghị; trường hợp không đủ điều kiện thì thông báo rõ cho địa phương được biết. Các trường hợp thụ lý mới, Bộ Nội vụ phải báo cáo xin chủ trương của Thường trực Chính phủ, nếu được chấp thuận thì hướng dẫn địa phương lập Đề án trình Chính phủ.” Hiện nay Bộ Nội vụ chưa nhận được văn bản đề nghị chia tách huyện Mường Tè và các xã thuộc huyện Mường Tè của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu để có căn cứ tổng hợp, báo cáo Thường trực Chính phủ cho chủ trương thực hiện theo tinh thần chỉ đạo nêu trên của Thủ tướng Chính phủ



52. Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị: Đề nghị Trung ương nên xem lại và hạn chế việc chia tách tỉnh, huyện, xã gây tốn kém tiền của của nhà nước và nhân dân, đồng thời gây khó khăn trong việc chuyển đổi giấy tờ hành chính và giấy tờ tùy thân.

Trả lời: (Tại Công văn số 2832/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Công văn số 299/TB – VPCP ngày 24/9/2009 của Văn phòng Chính phủ đã thông báo ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ về tình hình điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã như sau: “ Thường trực Chính phủ đồng ý với kiến nghị của Bộ Nội vụ là trước mắt giữ ổn định đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã như hiện nay; chỉ điều chỉnh với từng trường hợp cụ thể khi xét thấy thật sự cần thiết và hợp lý. Tập trung xử lý cho việc điều chỉnh mở rộng, sáp nhập và thành lập mới do yêu cầu đô thị hóa nhưng không làm tăng đơn vị hành chính mới. Đối với các Đề án điều chỉnh địa giới hành chính các địa phương đã trình Chính phủ, Bộ Nội vụ phải thẩm định kỹ theo tinh thần trên, nếu đủ điều kiện thì sớm trình Chính phủ xem xét, quyết nghị; trường hợp không đủ điều kiện thì thông báo rõ cho địa phương được biết. Các trường hợp thụ lý mới, Bộ Nội vụ phải báo cáo xin chủ trương của Thường trực Chính phủ, nếu được chấp thuận thì hướng dẫn địa phương lập Đề án trình Chính phủ.”



53. Cử tri tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kiến nghị: Quyết định số 64b/HĐBT ngày 12/9/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về điều chỉnh địa giới hành chính đối với những huyện, xã có địa giới hành chính chưa hợp lý nay không còn phù hợp. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu, xem xét ban hành văn bản mới điều chỉnh vấn đề này.

Trả lời: (Tại Công văn số 2835/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Sự ổn định các đơn vị hành chính là điều kiện quan trọng để tập trung và sử dụng tốt các nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện nay. Mặt khác, trên cơ sở Nghị định số 159/2005/NĐ – CP ngày 27/12/2005 và số 15/2007/NĐ – CP ngày 26/01/2007 của Chính phủ về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn đã có chế độ chính sách cho từng loại đơn vị cấp xã để đảm bảo ổn định đơn vị hành chính. Chỉ đặt vấn đề chia, tách, điều chỉnh địa giới hành chính với từng trường hợp cụ thể thật sự cần thiết, tránh lãng phí tiền của của Nhà nước và nhân dân.



54. Cử tri tỉnh Nam Định kiến nghị: Tiếp tục đề nghị Chính phủ, Bộ Nội vụ xem xét mở rộng địa giới hành chính thành phố Nam Định để trở thành thành phố trung tâm vùng nam đồng bằng sông Hồng (để triển khai thực hiện Nghị quyết số 54 của Bộ Chính trị và Quyết định số 109 của Thủ tướng Chính phủ).

Trả lời: (Tại Công văn số 2834/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính các đô thị để có thêm quỹ đất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân là việc làm bình thường, phù hợp với quy luật khách quan của quá trình đô thị hóa các vùng nông thôn. Tuy nhiên, do tỉnh Nam Định là một trong mười tỉnh, thành phố trong cả nước đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường nên khi lập đề án điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thành phố Nam Định không có căn cứ để thiết lập đầy đủ các tài liệu theo quy định hiện hành, vì: Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 ngày 16/01/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XII chưa quy định việc điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện, phường quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 cho cấp nào thực hiện. Theo đó, nhu cầu điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính thành phố Nam Định thuộc tỉnh Nam Định sẽ được thực hiện bình thường sau khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.



55. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Trên địa bàn Huyện Chợ Lách - tỉnh Bến Tre hiện nay có 04 xã : xã Bình Hòa Phước, xã Đồng Phú, xã Hòa Ninh và xã An Bình thuộc tỉnh Vĩnh Long nằm liền kề địa giới Huyện Chợ Lách, trước 30/4/1975 các xã này thuộc tỉnh Bến Tre, sau 30/4/1975 tách giao cho tỉnh Vĩnh Long. Nay, bà con cử tri đề nghị Nhà nước cho nhập 04 xã trên về tỉnh Bến Tre để bà con được thuận lợi trong việc quan hệ tiếp xúc giữa chính quyền với dân và trong công tác bảo vệ an ninh trật tự thôn xóm cũng được nhanh gọn, hiệu quả hơn so với tỉnh Vĩnh Long (vì phải vượt qua sông Cổ Chiên).

Trả lời: (Tại Công văn số 2831/BNV-CQĐP ngày 24/8/2010)

Khi thực hiện Chỉ thị số 364-CT ngày 06/11/191 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tỉnh, huyện, xã; tỉnh Bến tre đã xây dựng và hoàn thành Bộ hồ sơ, bản đồ hiện trạng về địa giới hành chính, đã được các cấp có thẩm quyền nghiệm thu, xác nhận đủ điều kiện đưa vào quản lý và nộp lưu trữ quốc gia. Do vậy, để có cơ sở trình cấp có thẩm quyền quyết định việc điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Bến Tre và tỉnh Long An, chuyển giao 4 xã: Bình Hòa Phước, Đồng Phú, Hà Ninh, an Bình thuộc huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long về tỉnh Bến Tre quản lý, trước hết phải được sự đồng thuận của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Long An, Bến Tre nói chung và của 4 xã nêu trên nói riêng.



56. Cử tri tp Hà Nội kiến nghị: Cử tri phản ánh Đề án mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội được Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng từ lâu, nhưng thực tế Chính phủ vẫn quyết định thành lập thành phố Sơn Tây gây tốn kém kinh phí và khó khăn cho công tác quản lý ở địa phương. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm của tập thể, cá nhân để xảy ra bất cập trên (Cử tri Trường sỹ quan pháo binh, thị xã Sơn Tây).

Trả lời: (Tại Công văn số 2827/BNV-CQĐP ngày 23/8/2010)

Đề án mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội được xây dựng, nghiên cứu trong nhiều năm. Bộ Xây dựng là cơ quan được Chính phủ giao chủ trì xây dựng đề án này. Trong quá trình xây dựng đề án, nhiều phương án được nêu ra để nghiên cứu, lấy ý kiến. Phương án mở rộng hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số tỉnh Hà Tây là một trong các phương án được đưa ra xem xét. Qua quá trình nghiên cứu, xem xét, đến ngày 28/01/2008 tại Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương khoá X mới có kết luận số 19-KL/TW về mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội trên cơ sở hợp nhất toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của tỉnh Hà Tây; điều chỉnh toàn bộ diện tích và dân số của huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc; toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 04 xã: Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình; đồng thời giao Đảng Đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ và các cơ quan liên quan chỉ đạo thực hiện theo trình tự, đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Do đó, vào thời điểm Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ) trình Chính phủ đề nghị thành lập thành phố Sơn Tây (theo Tờ trình số 3820/TTr-UBND ngày 18/8/2006) là chưa thể xác định rõ ràng thời gian, quy mô và phạm vi mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội.

Trong thời gian này, xuất phát từ nguyện vọng của Đảng bộ, nhân dân và chính quyền địa phương, để không trì hoãn các kế hoạch đầu tư, xây dựng của tỉnh Hà Tây (cũ) trong đó có việc thành lập thành phố Sơn Tây, Chính phủ vẫn ủng hộ phương án đầu tư, chỉnh trang phát triển đô thị Sơn Tây. Xét về mặt thực tế, cho dù tên gọi là thành phố hay thị xã thì việc đầu tư kinh phí để chỉnh trang, xây dựng, phát triển hạ tầng cơ sở đô thị vẫn góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cho đô thị, góp phần nâng cao đời sống nhân dân ở thị xã cũng như ở các vùng lân cận. Khi người dân được hưởng lợi từ sự đầu tư phát triển của tỉnh cũng như Trung ương thì việc đầu tư là đúng hướng. Do đó, mong cử tri thành phố Hà Nội chia sẻ sâu sắc với những đề nghị của địa phương và bối cảnh giải quyết của Trung ương trong những điều kiện lịch sử nhất định.

57. Cử tri tỉnh Hà Tĩnh kiến nghị: Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng, tại điểm 7, Điều 69 “Danh hiệu thi đua” quy định “Gia đình văn hoá, được cấp giấy chứng nhận và được thưởng: 50.000 đồng (hoặc hiện vật kỷ niệm có giá trị tương đương). Thực tế tại cơ sở, số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa hàng năm chiếm trên 80%, nguồn ngân sách địa phương dành cho việc khen thưởng này khá lớn, vì vậy một số địa phương không đủ ngân sách để thực hiện. Đề nghị Chính phủ điều chỉnh mức khen thưởng hợp lý.

Trả lời: (Tại Công văn số 2858/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Căn cứ tình hình thực tiễn và tiếp thu ý kiến của các địa phương, tại điểm c khoản 2 Điều 71 Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ (thay thế Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005) quy định: Danh hiệu “Gia đình văn hoá” được cấp giấy chứng nhận (trường hợp tiêu biểu được kèm theo tiền thưởng 0,1 lần mức lương tối thiểu chung). Như vậy chỉ những gia đình văn hoá tiêu biểu được xét trong số gia đình văn hoá mới được nhận tiền thưởng.



58. Cử tri tp Hà Nội kiến nghị: Cử tri phản ánh việc Công ty thuốc lá Vinataba được Nhà nước tặng huân chương Hồ Chí Minh do có doanh thu cao là không phù hợp (vì sản xuất thuốc lá làm tổn hại sức khỏe của nhân dân). Cử tri đề nghị Chính phủ nghiên cứu để có các quy định chặt chẽ hơn về vấn đề này (Cử tri quận Tây Hồ).

Trả lời: (Tại Công văn số 2859/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Khi xét tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho Tổng Công ty thuốc lá (không phải Công ty thuốc lá Vinataba như cử tri nêu), các cơ quan chức năng căn cứ vào tiêu chuẩn do Luật Thi đua – Khen thưởng quy định (trong đó có xem xét tiêu chuẩn về môi trường sản xuất), còn nội dung cử tri nêu sản xuất thuốc lá có hại cho sức khoẻ thuộc vấn đề khác.



59. Cử tri tỉnh Quảng Bình kiến nghị: Đề nghị Nhà nước nghiên cứu có chế độ thưởng cho các đối tượng được tặng huân chương chiến công các loại.

Trả lời: (Tại Công văn số 2860/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Theo quy định tại Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 và hiện nay là Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ, cơ quan thi đua, khen thưởng ở địa phương đã và đang thực hiện việc cấp tiền thưởng đối với các đối tượng được tặng thưởng huân chương các loại trong đó có Huân chương Chiến công.



60. Cử tri tp Cần Thơ kiến nghị: Hiện nay, việc đánh giá cán bộ, công chức được chia làm ba nhóm: không hoàn thành, hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong đó chỉ nhóm hoàn thành tốt được xét khen thưởng. Nhưng thực tế, công tác thi đua, khen thưởng 10 năm trở lại đây chỉ có hai nhóm: hoàn thành tốt nhiệm vụ được khen thưởng chiếm số đông, còn không hoàn thành chỉ là thiểu số. Vậy nên mới có tình trạng hằng năm có đơn vị trên 90%, thậm chí 100% cán bộ, công chức được khen thưởng. Cử tri nhiều nơi cho rằng đây là tình trạng “loạn” các danh hiệu thi đua; mức khen thưởng vật chất không đủ kích thích mọi người phấn đấu. Do đó, để tránh khen thưởng tràn lan, đề nghị Bộ cần có hướng dẫn cụ thể về việc phân loại, đánh giá cán bộ, công chức theo tiêu chí mức độ hoàn thành công việc một cách thực chất.

Trả lời: (Tại Công văn số 2748/BNV-CCVC ngày 16/8/2010)

Tại Điều 55 Luật Cán bộ, công chức đã quy định mục đích đánh giá công chức nhằm làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức. Đồng thời tại Điều 56 Luật Cán bộ, công chức đã quy định nội dung đánh giá công chức, bao gồm: chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; thái độ phục vụ nhân dân.

Căn cứ quy định của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, hiện nay Bộ Nội vụ đang nghiên cứu, xây dựng Thông tư hướng dẫn về công tác đánh giá cán bộ, công chức và phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt công tác đánh giá cán bộ, công chức, đảm bảo đúng mục đích, nội dung đánh giá cán bộ, công chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức.

61. Cử tri tp Cần Thơ kiến nghị: Nhiều cử tri tại Cần Thơ cùng nêu thắc mắc: trước đây huyện Ô Môn (cũ) là đơn vị được tuyên dương danh hiệu “huyện Anh hùng”, nay đã được chia tách làm 3 đơn vị hành chính cấp huyện mới (quận Ô Môn và 2 huyện Thới Lai, Cờ Đỏ), vậy 2 đơn vị hành chính mới này có được công nhận danh hiệu Anh hùng không?

Trả lời: (Tại Công văn số 2853/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Vấn đề này sau khi có một số địa phương đề nghị, tại văn bản số 42-CV/TW ngày 03/10/2006 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã cho ý kiến: Đồng ý cấp bằng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã) được chia tách từ các đơn vị hành chính trước đây đã được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.



62. Cử tri tp Cần Thơ kiến nghị:Đề nghị Ban thi đua khen thưởng trung ương xem xét, hướng dẫn thủ tục cấp lại, đổi lại các Huân, Huy chương hoặc các hình thức khen thưởng cao quý khác của Nhà nước trao tặng trước đây nhưng hiện nay do quá trình bảo quản, do bị thiên tai, hỏa hoạn nên các giấy tờ này đã hư hỏng không còn sử dụng được.

Cử tri các tỉnh Quảng Bình, Ninh Thuận kiến nghị: Những người có huân chương đã được cấp lâu nay bị hư hỏng có nhu cầu xin cấp đổi lại nhưng các cơ quan hữu quan lại chậm giải quyết, trong khi các đối tượng xin cấp đổi huân chương hầu hết là các cụ cao tuổi, không thể chờ đợi thời gian quá dài. Cử tri đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tăng cường chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện tốt hơn nữa công tác này.

Trả lời: (Tại Công văn số 2861/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Bộ Nội vụ (Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương) đã và đang thực hiện thường xuyên việc cấp đổi lại Huân, Huy chương hoặc các hình thức khen thưởng cao quý khác cho các đối tượng có lý do như cử tri nêu trên thông qua việc tập hợp và đề nghị của các địa phương.



63. Cử tri tỉnh Tuyên Quang kiến nghị: Cử tri xã Đạo Thạnh kiến nghị: xã Đạo Thạnh là xã có nhiều thành tích xuất sắc trong kháng chiên chống Mỹ, nên ngay sau giải phóng miền Nam năm 1978 Nhà nước đã quyết định tuyên dương đội du kích xã là đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này Nhà nước tuyên dương Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân các xã khác lại là tuyên dương cho nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã. Nhiều lần theo nguyện vọng nhân dân, xã đã đề nghị cấp trên xem xét tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang cho nhân dân và lực lượng vũ trang xã nhưng không được cấp trên chấp nhận. Theo cơ quan có trách nhiệm cấp trên giải thích vì đội du kích xã đã được tuyên dương anh hùng nên nay không phải tuyên dương cho nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã. Đề nghị Bộ Nội vụ xem xét và cho ý kiến về vấn đề này.

Trả lời: (Tại Công văn số 2862/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Về vấn đề này, do có một số địa phương có ý kiến và theo yêu cầu của đồng chí Thường trực Ban Bí thư (công văn số 2003-CV/VPTW ngày 13/4/2007 của Văn phòng Trung ương Đảng về việc điều chỉnh tên Anh hùng Lực lượng vũ trang), ngày 18/5/2007 tại văn bản số 844/BTĐKT-VI Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương đã có ý kiến báo cáo Ban Bí thư: Để động viên, ghi nhận thành tích của tập thể, cá nhân trong hai cuộc kháng chiến, nhiều năm qua, Nhà nước ta đã quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hàng ngàn trường hợp, kịp thời cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Các quyết định khen thưởng đó gắn với từng giai đoạn lịch sử của cách mạng, do đó việc đề nghị thay đổi, bổ sung nội dung tuyên dương trong các quyết định của Chủ tịch nước đã được công bố và ban hành trước đây là không khả thi vì liên quan đến tính lịch sử, tính pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật.



64. Cử tri tỉnh Nghệ An kiến nghị: Chính sách khen thưởng của Nhà nước đối với huân huy chương chưa phù hợp, cử tri tiếp tục kiến nghị Chính phủ rà soát các đối tượng tham gia kháng chiến để có giải pháp giải quyết các chính sách tồn đọng sau chiến tranh. Sửa đổi việc quy định khen thưởng đối với huân chương gia đình và huân chương cá nhân để đảm bảo quyền lợi cho những người tham gia kháng chiến bảo vệ đất nước.

Cử tri tỉnh Vĩnh Phúc kiến nghị:Đề nghị Nhà nước xem xét có chế độ khen thưởng cho các hộ gia đình trước kia đã nhường đất đai, nhà cửa và che chở cho các cơ quan Nhà nước sơ tán về ở nhờ.

Trả lời: (Tại Công văn số 2854/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Chủ trương khen thưởng trong hai cuộc kháng chiến đã thực hiện từ nhiều năm nay (chống Pháp từ năm 1960, chống Mỹ từ năm 1980), đến ngày 24/11/2003 Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 26/2003/CT-TTg quy định việc khen thưởng thành tích kháng chiến được xem xét kết thúc vào ngày 31/12/2004. Tuy nhiên để ghi nhận công lao đối với cán bộ, nhân dân, ngày 05/5/2006 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 98/2006/QĐ-TTg về việc tặng Bằng khen của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho các đối tượng có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhưng tiêu chuẩn dưới mức quy định để tặng Huy chương Kháng chiến hạng nhì và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Sau thời điểm trên, có trường hợp (cá nhân hoặc gia đình) do nhiều lý do chưa được xét khen thưởng, nhưng nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định thì vẫn đề nghị xem xét theo hướng giải quyết các trường hợp cá biệt, theo tinh thần Công văn số 961/BTĐKT-VIII ngày 06/7/2006 của Ban Thi đua-Khen thưởng Trung ương.



65. Cử tri tỉnh Hà Nam kiến nghị: Đề nghị Nhà nước xét truy tặng tiền thưởng cho các đối tượng được tặng Huân, Huy chương trước ngày 01/4/2004.

Trả lời: (Tại Công văn số 2863/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Bộ Nội vụ (Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương) tập hợp để trình cấp có thẩm quyền xem xét.



66. Cử tri các tỉnh Yên Bái, Nghệ An kiến nghị: Đề nghị Bộ Nội vụ nghiên cứu có chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác HTX trong thời kỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc (có người sau khi thôi không làm chủ nhiệm HTX thì được chuyển đổi tiếp tục công tác tại địa phương và được nghỉ hưu, nhưng cũng có một số đối tượng không chuyển đổi công tác, không đủ thờigian nên không được hưởng chế độ).

Trả lời: (Tại Công văn số 3133/BNV-CQĐP ngày 11/9/2010)

Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, đồng thời là Phó Bí thư thường trực hoặc Thường vụ đảng uỷ cấp xã, đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Thông tư số 13/NV ngày 04/9/1972 của Bộ Nội vụ (nay là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, và quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ - CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ.

Việc để Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp (và Chủ nhiệm hợp tác xã ngư nghiệp, làm muối ở nơi không có nông nghiệp, hoặc Chủ nhiệm hợp tác xã ngành nghề khác) mà không phải là Phó Bí thư thường trực hoặc Thường vụ đảng uỷ cấp xã, được tính hưởng bảo hiểm xã hội sẽ tạo ra bất hợp lý đối với hàng vạn cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước có thời gian làm chủ nhiệm, nhưng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, nghỉ chế độ một lần mà không được tính thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã để hưởng bảo hiểm xã hội.

Vì vậy, tại công văn số 2881/VPCP - VX ngày 28/6/2001 của Văn phòng Chính phủ, thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Thủ tướng Chính phủ, nội dung như sau:

“ Đây là vấn đề liên quan đến chính sách chung, vì vậy không nên đặt vấn đề tính thời gian làm Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, đánh cá, làm muối quy mô toàn xã vào thời gian hưởng bảo hiểm xã hội đối với một số cán bộ cấp xã đang giữ các chức danh trong diện hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định taị Nghị định số 09/1998/NĐ- CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ”.

Tiếp theo, tại công văn số 6722/VPCP-VX ngày 15/11/2006 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng có ý kiến như sau:

“ Yêu cầu Bộ Nội vụ thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 2881/VPCP - VX ngày 28/6/2001 của Văn phòng Chính phủ. Riêng đối với những người truớc đây đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đã được cấp có thẩm quyền quyết định, điều động làm cán bộ lãnh đạo hợp tác xã quy mô toàn xã, giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính và Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề xuất giải quyết chế độ trong nội dung sửa đổi, bổ sung Nghị định số 121/2003/NĐ - CP của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, trình Chính phủ”.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ, khi trình Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ- CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ, Bộ Nội vụ đã lấy ý kiến của liên Bộ để đưa vào nội dung giải quyết tồn tại về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã nhưng có nhiều ý kiến đề nghị trước khi trình Chính phủ, cần phải điều tra cụ thể với 2 loại đối tượng sau:

- Chủ nhiệm hơp tác xã nông nghiệp đồng thời là Phó Bí thư thường trực hoặc Thường vụ đảng uỷ cấp xã, chưa được tính hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Thông tư số 13/NV ngày 4/9/1972 của Bộ Nội vụ và quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ - CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ;

- Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã ngư nghiệp, làm muối (ở nơi không có nông nghiệp, hoặc Chủ nhiệm hợp tác xã ở ngành nghề khác) là những người trước đây đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đã được cấp có thẩm quyền quyết định, điều động làm chủ nhiệm hợp tác xã quy mô toàn xã mà chưa được tính hưởng bảo hiểm xã hội.

Bộ Nội vụ có công văn số 912/BNV- CQĐP ngày 29/3/2010 gửi Sở Nội vụ tỉnh Quảng Bình “V/v điều tra cụ thể và hoàn chỉnh hồ sơ đề xuất cơ chế chính sách giải quyết chế độ đối với Chủ nhiệm hợp tác xã”. Kết quả điều tra, rà soát, thống kê danh sách ở Quảng Bình như sau: trong số 361 Chủ nhiệm Hợp tác xã đồng thời là Phó Bí thư hoặc Thường vụ đảng uỷ hoặc Chủ nhiệm hợp tác xã là những người trước đây đang hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đã được cấp có thẩm quyền quyết định điều động làm cán bộ lãnh đạo hợp tác xã thì chỉ có 05 người thuộc đối tượng được xem xét, giải quyết chế độ. Còn lại 356 người không đủ điều kiện để xem xét, giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội.

Từ thực tế trên ở tỉnh Quảng Bình, Bộ Nội vụ dự kiến xin ý kiến các Bộ, ngành liên quan và địa phương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định như sau:

1.Đối với những người là Phó Bí thư hoặc Thường vụ đảng uỷ kiêm Chủ nhiệm hợp tác xã toàn xã hiện còn đang công tác hay đã nghỉ việc thì đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết chế độ với từng loại đối tuợng cụ thể;

2.Đối với những người không đủ điều kiện để xem xét giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập danh sách đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khen thưởng, biểu dương công trạng đối với thành tích làm Chủ nhiệm hợp tác xã trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.



67. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Đề nghị Chính phủ hỗ trợ kinh phí cho tỉnh Gia Lai để thực hiện đề án nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hệ thống chính trị cơ sở. Thực hiện kết luận của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Gia Lai đã xây dựng đề án bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở. Tuy nhiên, nguồn kinh phí thực hiện đề án rất lớn, đề nghị có sự hỗ trợ của Chính phủ để địa phương triển khai thực hiện đầy đủ các mục tiêu của đề án.

Trả lời: (Tại Công văn số 2864/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Đối với nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hệ thống chính quyền cơ sở của vùng Tây Nguyên trong đó có tỉnh Gia Lai, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 253/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Một số giải pháp củng cố kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2002-2010”, các nội dung của Đề án này đang được thực hiện và hàng năm đều có kinh phí của trung ương bố trí (do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Bộ Nội vụ) cho các tỉnh để thực hiện Đề án trong đó có tỉnh Gia Lai. Trong giai đoạn 2011-2020 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt Đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Trong các hoạt động của Đề án có nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã trong đó có tỉnh Gia Lai. Để thực hiện Đề án này Chính phủ đã dự kiến nguồn ngân sách để thực hiện. Bộ Nội vụ sẽ hướng dẫn các tỉnh xây dựng kế hoạch chi tiết để Bộ Tài chính bố trí kinh phí. Đối với đề án mà tỉnh Gia Lai đã xây dựng Bộ Nội vụ sẽ bàn với Bộ Tài chính xem xét một cách hợp lý để hỗ trợ.



68. Cử tri tỉnh Hòa Bình kiến nghị: Về thanh tra công vụ, cho đến thời điểm này vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Đề nghị Bộ Nội vụ có văn bản hướng dẫn để các tỉnh tổ chức triển khai.

Trả lời: (Tại Công văn số 2865/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Thực hiện Quyết định số 365/QĐ-TTg ngày 20/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Luật Cán bộ, công chức, Bộ Nội vụ đã nghiên cứu xây dựng đề cương, dự thảo Nghị định quy định hoạt động thanh tra công vụ; tổ chức các cuộc họp Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập để xây dựng Nghị định; tổ chức xin ý kiến của các Bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tổ chức khảo sát đánh giá tác động đối với dự thảo Nghị định tại miền Trung và miền Nam. Trên cơ sở đó Bộ Nội vụ đã tổng hợp, hoàn chỉnh dự thảo Nghị định, Tờ trình Chính phủ và các văn bản kèm theo trình Chính phủ xem xét, ban hành theo quy định.

Sau khi xét đề nghị của Bộ Nội vụ về dự thảo Nghị định quy định hoạt động thanh tra công vụ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo không ban hành Nghị định riêng quy định hoạt động thanh tra công vụ. Bộ Nội vụ đưa nội dung thanh tra việc thực hiện tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, đánh giá, thôi việc, nghỉ hưu, khen thưởng, xử lý kỷ luật công chức, đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ của công chức vào dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động thanh tra nội vụ; các Bộ, cơ quan ngang Bộ thể hiện rõ nội dung thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trong Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành, lĩnh vực.

Theo kế hoạch, Bộ Nội vụ sẽ hoàn thiện Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra nội vụ, trình Chính phủ vào tháng 9/2010.



69. Cử tri tỉnh Cao Bằng kiến nghị: Cử tri kiến nghị, theo Chỉ thị 292 ngày 18/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Hội nạn nhân chất độc màu da cam là một tổ chức chính trị - xã hội đặc thù, cử tri kiến nghị Chính phủ sớm xây dựng hệ thống tổ chức và hướng dẫn hoạt động của Hội nạn nhân chất độc màu da cam theo đúng tinh thần của Chỉ thị trên.

Trả lời: (Tại Công văn số 2866/BNV-VP ngày 24/8/2010)

Thực hiện Thông báo số 292-TB/TW ngày 18/12/2009 thông báo kết luận của Ban Bí thư về việc giải quyết hậu quả chất độc hóa học do Mỹ tiến hành trong chiến tranh ở Việt Nam và công tác chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam; tổ chức hoạt động của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.


1   ...   29   30   31   32   33   34   35   36   ...   50


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2016
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương